Đại Toàn Thiện và Đại Thủ Ấn nói về giải thoát theo ngôn ngữ nào?
Đại Toàn Thiện nhấn mạnh rigpa và sự thanh tịnh nguyên sơ; Đại Thủ Ấn nhấn mạnh bản tánh tâm, tính Không và sáng biết. Cả hai cần hiểu trong bối cảnh truyền thừa.
Đọc bàiKhám phá câu hỏi, bài giải thích và đối chiếu Phật học. Chọn cách đọc phù hợp, từ lướt nhanh tiêu đề đến khám phá từng bài.
Đại Toàn Thiện nhấn mạnh rigpa và sự thanh tịnh nguyên sơ; Đại Thủ Ấn nhấn mạnh bản tánh tâm, tính Không và sáng biết. Cả hai cần hiểu trong bối cảnh truyền thừa.
Đọc bàiCác truyền thống Phật giáo không nhất thiết nói về những Niết-bàn riêng biệt; có mục tiêu khổ diệt chung nhưng khác nhau trong phân tích, lý tưởng và phương pháp giải thoát.
Đọc bàiNiết-bàn không phải đoạn diệt linh hồn: kinh sớm nhấn mạnh đoạn tận tham, sân, si và chấp thủ. So sánh cách nói vô vi, thắng nghĩa và thực hành.
Đọc bàiCó thể dùng định nghĩa Niết-bàn khái quát để nhập môn, nhưng phải phân biệt kinh Pāli, Theravāda, Trung quán và các truyền thống Đại thừa.
Đọc bàiNhững điểm chung về giải thoát trong các truyền thống Phật giáo: vượt khổ, đoạn trừ phiền não, tu tập đạo đức và trí tuệ, đồng thời tôn trọng khác biệt giáo nghĩa.
Đọc bàiKhi so sánh các truyền thống Phật giáo, cần để mở những vấn đề chưa được kinh điển xác quyết hoặc chưa đủ chứng cứ; phân biệt điểm chung, khác biệt giáo nghĩa và giá trị thực hành.
Đọc bàiTrong kinh Nikāya, citta, mano và viññāṇa diễn tả những khía cạnh của tâm và thức tùy ngữ cảnh; thức sinh do duyên, tâm biến đổi và có thể tu tập để giảm tham, sân, si.
Đọc bàiCitta, mano và viññāṇa là các thuật ngữ chỉ tâm, ý, thức trong Nikāya; có sắc thái riêng theo ngữ cảnh nhưng không phải ba tự ngã độc lập.
Đọc bàiVi Diệu Pháp Theravāda phân tích kinh nghiệm thành các sát-na tâm sinh diệt, với mô hình ba giai đoạn và lộ trình tâm; không phải phép đo khoa học.
Đọc bàiVi Diệu Pháp Theravāda phân biệt tâm (citta) và 52 tâm sở (cetasika): bốn đặc điểm đồng sinh, bốn nhóm tâm sở, nghiệp và ứng dụng thực hành.
Đọc bàiHữu phần (bhavaṅga) là chức năng tâm duy trì dòng liên tục của đời sống theo A-tỳ-đàm Theravāda; không phải linh hồn hay tiềm thức.
Đọc bàiBhavaṅga (hữu phần) trong A-tỳ-đàm Theravāda không đồng nhất với tiềm thức tâm lý học: đây là chức năng của các sát-na tâm sinh diệt giữa những lộ trình nhận thức.
Đọc bàiDuy thức phân biệt năm thức giác quan, ý thức, mạt-na chấp ngã và A-lại-da thức liên quan chủng tử nghiệp; tất cả duyên sinh, không phải linh hồn.
Đọc bàiSáu thức gồm nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý thức; mỗi thức sinh khởi do căn, cảnh và các duyên, không phải chủ thể thường hằng.
Đọc bàiTheo Duy thức, Mạt-na thức là cơ chế chấp ngã vi tế, thường lấy A-lại-da thức làm đối tượng; bốn phiền não đi kèm là ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái.
Đọc bàiA-lại-da thức trong Duy thức là dòng thức duyên sinh liên hệ chủng tử nghiệp và huân tập, không phải linh hồn hay cái Ta bất biến.
Đọc bàiTrong Duy thức, tám thức được chuyển y thành bốn trí: năm thức đầu thành Thành sở tác trí, ý thức thành Diệu quan sát trí, Mạt-na thành Bình đẳng tánh trí và A-lại-da thành Đại viên cảnh trí...
Đọc bàiTheo Trung quán, tâm không có tự tính độc lập nhưng vẫn nhận biết theo duyên khởi; tính Không không phủ nhận kinh nghiệm, nghiệp hay tu tập.
Đọc bàiTheo Trung quán, hành giả nhận biết tính Không trên bình diện quy ước; không có người biết hay tâm biết mang tự tính độc lập.
Đọc bàiAN 1.49–52 gọi tâm là sáng chói nhưng có thể bị cấu uế ô nhiễm hoặc được giải thoát; trọng tâm là tu tập, không khẳng định một linh hồn sáng chói bất biến.
Đọc bài“Tâm vốn thanh tịnh” không có nghĩa mọi người đã giác ngộ thành Phật; cần phân biệt kinh Pāli về tâm sáng chói, tu tập đoạn phiền não và những cách hiểu Phật tính trong Đại thừa.
Đọc bàiTâm sáng chói trong kinh Pāli và Như Lai tạng trong Đại thừa có nét tương đồng về khả năng thanh lọc phiền não nhưng không thể đồng nhất về giáo lý và lịch sử.
Đọc bàiPhật tính có thể được liên hệ với “bản tâm” trong một số truyền thống Đại thừa, nhưng không phải một linh hồn thường hằng và không đồng nghĩa ở mọi kinh luận.
Đọc bàiBản tâm trong Thiền tông là ngôn ngữ chỉ sự nhận biết không chấp trước và việc nhận ra tự tánh, không phải linh hồn bất biến.
Đọc bài