Minh tâm kiến tánh – “Tâm” và “tánh” ở đây là gì?
Minh tâm kiến tánh trong Thiền tông là làm sáng tỏ tâm và trực nhận bản tánh, không phải tìm thấy một linh hồn bất biến.
Đọc bàiKhám phá câu hỏi, bài giải thích và đối chiếu Phật học. Chọn cách đọc phù hợp, từ lướt nhanh tiêu đề đến khám phá từng bài.
Minh tâm kiến tánh trong Thiền tông là làm sáng tỏ tâm và trực nhận bản tánh, không phải tìm thấy một linh hồn bất biến.
Đọc bàiRigpa trong Dzogchen là giác biết nguyên sơ, được phân biệt với tâm chấp nhị nguyên; không phải linh hồn hay trạng thái trống rỗng.
Đọc bàiRigpa trong Dzogchen không phải linh hồn hay cái Ta tinh tế; giác biết nguyên sơ phải được hiểu cùng vô ngã, tính Không và con đường tu tập.
Đọc bàiĐại Thủ Ấn (Mahāmudrā) giảng bản tính tâm qua khả năng sáng biết và tính Không, không phải linh hồn thường hằng; phân biệt với Dzogchen.
Đọc bài“Bản tính của tâm” không mang một nghĩa kỹ thuật duy nhất trong các truyền thống Phật giáo: đối chiếu Nikāya, Vi Diệu Pháp, Duy thức, Trung quán, Thiền, Đại Thủ Ấn và Đại Toàn Thiện.
Đọc bàiTâm Phật và tâm chúng sinh không phải hai linh hồn khác loại: giống ở khả năng tu tập, khác ở sự đoạn tận phiền não và thành tựu giác ngộ; Phật tính có nhiều cách giải thích.
Đọc bàiKinh Nikāya dạy tâm, ý, thức vô thường; Vi Diệu Pháp Theravāda phân tích sự tiếp nối thành các sát-na tâm sinh diệt tùy duyên, không phải một linh hồn bất biến.
Đọc bàiDòng tâm tiếp nối theo duyên khởi mà không có một tâm bất biến; giải thích từ SN 12.61, MN 38 và phân biệt với mô hình sát-na của Vi Diệu Pháp Theravāda.
Đọc bàiTheo Theravāda, tâm thuộc danh pháp chứ không phải sắc pháp; nhưng thức do duyên sinh, không phải linh hồn độc lập. Phân biệt phân loại Phật học với khoa học tâm–não.
Đọc bàiKinh Nikāya nhấn mạnh thức sinh khởi tùy duyên và quan hệ với danh–sắc; không nên diễn dịch thành linh hồn tách thân hoặc khẳng định khoa học vượt quá kinh.
Đọc bàiĐối chiếu cách hiểu về tâm trong Nikāya, Vi Diệu Pháp Theravāda, Duy thức, Thiền tông và Kim Cương thừa, chỉ ra điểm chung và các khác biệt quan trọng.
Đọc bàiNăm hệ thống Phật học dùng những mô hình khác nhau để giải thích tâm. So sánh Nikāya, Vi Diệu Pháp, Duy thức, Thiền và Kim Cương thừa mà không trộn lẫn thuật ngữ.
Đọc bàiA-la-hán là người đã đoạn tận lậu hoặc, giải thoát khỏi chấp thủ và không còn tái sinh do vô minh, tham ái; phân biệt với vai trò khai mở đạo của Đức Phật.
Đọc bàiA-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc và toàn bộ mười kiết sử: từ thân kiến, dục tham, sân đến mạn, trạo cử và vô minh; vẫn có cảm thọ khi thân còn sống.
Đọc bàiTheo kinh Nikāya, A-la-hán đã đoạn tận vô minh trói buộc luân hồi, nhưng không đồng nghĩa biết mọi dữ kiện đời thường. Bài phân biệt trí tuệ giải thoát và toàn tri.
Đọc bàiTheo Theravāda, A-la-hán vẫn hành động có tác ý nhưng không tạo nghiệp mới dẫn tái sinh; Vi Diệu Pháp giải thích bằng tâm duy tác. Phân biệt với quả nghiệp cũ.
Đọc bàiA-la-hán vẫn có cảm thọ thân, sự an lạc và lòng từ bi, nhưng không còn phản ứng tham, sân, si do chấp thủ. Phân biệt cảm thọ với phiền não qua kinh Hai mũi tên SN 36.6.
Đọc bàiA-la-hán vẫn có thể có lòng từ bi, giúp người và giảng pháp; đoạn tận tham ái không đồng nghĩa vô cảm.
Đọc bàiPhân tích nguồn gốc nhận định A-la-hán chỉ lo giải thoát cho mình, khác biệt lý tưởng Thanh văn–Bồ-tát và chứng cứ về lòng từ bi.
Đọc bàiTrong Đại thừa, lý tưởng Thanh văn được đối chiếu với Bồ-tát đạo ở các văn cảnh khuyến phát tâm Bồ-đề, Nhất thừa và tranh luận giáo nghĩa; không nên khái quát A-la-hán là ích kỷ.
Đọc bàiKhông nên dùng phê bình tông phái để mô tả mọi A-la-hán lịch sử. Cần phân biệt lời kinh, lập trường giáo nghĩa và chứng cứ lịch sử.
Đọc bàiBồ-tát đã xuất hiện trong kinh điển Phật giáo sơ kỳ, chủ yếu nói về Đức Phật trước giác ngộ; văn học Bổn sinh và Đại thừa tiếp tục phát triển lý tưởng ấy.
Đọc bàiTrong Theravāda, Bodhisatta chỉ Đức Phật trước giác ngộ và trong truyền thống Phật sử là hành giả hướng đến Chánh Đẳng Giác qua mười ba-la-mật.
Đọc bàiBồ-tát Đại thừa phát Bồ-đề tâm vì lợi ích chúng sinh, tu sáu ba-la-mật, kết hợp từ bi và trí tuệ tính Không.
Đọc bài