KTPH [108] Ba loại trí (Ñāṇa), ba luân trong tứ thánh đế — Bài viết
↑ Bỏ qua điều hướng
BÀI VIẾT · ENCYCLOPEDIA

KTPH [108] Ba loại trí (Ñāṇa), ba luân trong tứ thánh đế

[108] Ba loại trí (Ñāṇa), ba luân trong tứ thánh đế: 1. Sự thật trí (Saccañāṇa), trí nhận hiểu bốn sự thật, là nhận biết rằng: “Đây là khổ, đây là khổ tập; đây là khổ diệt, đây là khổ diệt đạo lộ”. 2. Sở dụng trí (Kiccañāṇa), trí nhận hiểu tính ứng dụng trong bốn đế, là biết rằng: “Khổ cần biến tri, khổ tập cần đoạn trừ, khổ diệt cần tác chứng”; khổ diệt đạo lộ cần tu tập”. 3. Sở tác trí (Katañāṇa), trí rõ biết điều đã làm đối với bốn đế, tức là biết rõ: “Khổ đế cần biết đã biết, tập cần trừ đã trừ, diệt đế cần chứng đã chứng, đạo cần tu đã tu”.

[108] Ba loại trí (Ñāṇa), ba luân trong tứ thánh đế:

 

1. Sự thật trí (Saccañāṇa), trí nhận hiểu bốn sự thật, là nhận biết rằng: “Đây là khổ, đây là khổ tập; đây là khổ diệt, đây là khổ diệt đạo lộ”.

 

2. Sở dụng trí (Kiccañāṇa), trí nhận hiểu tính ứng dụng trong bốn đế, là biết rằng: “Khổ cần biến tri, khổ tập cần đoạn trừ, khổ diệt cần tác chứng”; khổ diệt đạo lộ cần tu tập”.

 

3. Sở tác trí (Katañāṇa), trí rõ biết điều đã làm đối với bốn đế, tức là biết rõ: “Khổ đế cần biết đã biết, tập cần trừ đã trừ, diệt đế cần chứng đã chứng, đạo cần tu đã tu”.

 

Ba trí này được gọi là ba luân (Parivaṭṭa) của sự giác ngộ bốn đế. Đức Thế Tôn đã giác ngộ tứ đế theo ba luân, mười hai thể (Ākāra). Sự giác ngộ ấy gọi là tri kiến như thật (Yathābhūtaṃ ñāṇadassanaṃ), đối với bốn đế, và chính do tri kiến như thật ấy đã khởi nên Đức Phật đã xưng danh là Chánh Đẳng Chánh Giác (Sammāsambuddho). Vin.I.11Ṣ.V.422. 

STRUCTURED RELATIONS

Quan hệ từ dữ liệu

Bài viết