↑ Bỏ qua điều hướng
NHÂN VẬT · ENCYCLOPEDIA

Malitavambha Thera

Malitavambha Thera Ngài là con trai của một vị Bà-la-môn ở Bhārukaccha và xuất gia dưới sự hướng dẫn của Trưởng lão Pacchābhū. Người ta kể rằng ngài thích sống ở nơi không có tiện nghi gì ngoài thức ăn, và chẳng bao lâu sau ngài đã đắc quả A-la-hán. Vào thời Đức Phật Padumuttara, có một con chim tên là Kakudha sống trên hồ, và khi nhìn thấy Đức Phật đi dọc theo bờ hồ, nó đã dâng tặng Ngài những bông hoa kumudu. Một trăm mười sáu kiếp trước, ngài đã làm vua tám lần dưới tên Varuna (Thag.vs.105; ThagA.i.210f). Có lẽ ông giống hệt Kumudadāyaka của Apadāna. Ap.i.180.

  • Malitavambha Thera

He was the son of a brahmin of Bhārukaccha and entered the Order under Pacchābhū Thera. It is said that he preferred to live where no conveniences, except food, were available, and before long he became an arahant.

In the time of Padumuttara Buddha he was a bird named Kakudha living on a lake, and, seeing the Buddha walking along the edge of the lake, he offered him kumudu flowers.

One hundred and sixteen kappas ago he was king eight times under the name of Varuna (Thag.vs.105; ThagA.i.210f).

He is probably identical with Kumudadāyaka of the Apadāna. Ap.i.180.

  • Malitavambha Thera

Ngài là con trai của một vị Bà-la-môn ở Bhārukaccha và xuất gia dưới sự hướng dẫn của Trưởng lão Pacchābhū. Người ta kể rằng ngài thích sống ở nơi không có tiện nghi gì ngoài thức ăn, và chẳng bao lâu sau ngài đã đắc quả A-la-hán.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, có một con chim tên là Kakudha sống trên hồ, và khi nhìn thấy Đức Phật đi dọc theo bờ hồ, nó đã dâng tặng Ngài những bông hoa kumudu.

Một trăm mười sáu kiếp trước, ngài đã làm vua tám lần dưới tên Varuna (Thag.vs.105; ThagA.i.210f).

Có lẽ ông giống hệt Kumudadāyaka của Apadāna. Ap.i.180.

Wiki Tâm Học -Danh sách : Trưởng lão tăng kệ - Phần 105 - Chương 1 : (C) Devasabha (II) (Thera. 14)

(CV) Malytavambha (Thera. 15)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn, ở thành phố Kurukaccha. Ngài được Trưởng lão Bacchabhu cảm hóa và xuất gia, tu tập thiền quán, ngài trú tại chỗ đồ ăn khất thực khó kiếm, chỗ nào ba đồ vật dụng cần thiết khó kiếm, còn đồ ăn khất thực dễ kiếm thời ngài bỏ đi. Tiếp tục như vậy, và nhờ thiện duyên đời trước, ngài trở thành bậc Ðại nhân, phát triển thiền quán và chứng được quả A-la-hán. Suy nghĩ trên quả chứng của mình, ngài nói lên bài kệ:

105. Ta không muốn an trú,

Khi ta không vừa ý,

Chỗ nào có lạc thú,

Ta liền rời bỏ đi,

Tại chỗ nào mục đích,

Không phải không liên hệ,

Chỗ ấy, người có mắt,

Có thể an trú được.

.

STRUCTURED RELATIONS

Quan hệ từ dữ liệu

Bài viết

32dffdfd dfdfdf ewfwefwe ưefw rêrerere