↑ Bỏ qua điều hướng
NHÂN VẬT · ENCYCLOPEDIA

Mẹ Của Sumangala -Therì

Trong đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh vào một gia đình nghèo và được gả lấy một người đan mây làm chồng. Nàng sanh được một người con trai tên Sumangala, sau trở thành bậc Trưởng lão và chứng quả A-la-hán. Nàng không được biết tên và được gọi là một Trưởng lão Ni không có tên hay mẹ của Sumangala. Nàng trở thành một Tỷ-kheo-ni và một hôm nghĩ đến sự đau khổ khi còn là cư sĩ, nàng cảm thấy xúc động và với thiền quán phát triển, nàng chứng quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ, nàng nói lên bài kệ như sau:

  • Sumangalamātā Therī

She was born in a poor family of Sāvatthi and was married to a rush-plaiter (nalakāra).

Her first child was a son, named Sumangala, who left the world and became an arahant (See Sumangala 7).

She became a nun, and one day, while reflecting on all she had suffered in the lay life, she was much affected, and, her insight quickening, she became an arahant. Thig.vss.23-24; ThigA.28f.

Wiki Tâm Học -Danh sách : Trưởng lão ni kệ - Phần 021 - Chương 2 : (XXI) Mẹ Của Sumangala (Therì. 126)

  • Sumangalamātā Therī

Bà sinh ra trong một gia đình nghèo ở Sāvatthi và kết hôn với một người thợ bện cói (nalakāra).

Đứa con đầu lòng của bà là một người con trai, tên là Sumangala, người đã rời bỏ thế gian và trở thành một vị A-la-hán (Xem Sumangala 7).

Bà trở thành một nữ tu, và một ngày nọ, khi suy ngẫm về tất cả những gì bà đã chịu đựng trong cuộc sống tại gia, bà đã rất xúc động, và với sự sáng suốt nhanh chóng, bà đã trở thành một vị A-la-hán. Thig.vss.23-24; ThigA.28f.

 

(XXI) Mẹ Của Sumangala (Therì. 126)


Trong đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh vào một gia đình nghèo và được gả lấy một người đan mây làm chồng. Nàng sanh được một người con trai tên Sumangala, sau trở thành bậc Trưởng lão và chứng quả A-la-hán. Nàng không được biết tên và được gọi là một Trưởng lão Ni không có tên hay mẹ của Sumangala. Nàng trở thành một Tỷ-kheo-ni và một hôm nghĩ đến sự đau khổ khi còn là cư sĩ, nàng cảm thấy xúc động và với thiền quán phát triển, nàng chứng quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ, nàng nói lên bài kệ như sau:
23. Hỡi thiện giải thoát Ni,
Lành thay khéo giải thoát,
Ta được khéo giải thoát,
Khỏi cái chày giã gạo,
Ta không còn xấu hổ,
Với ông chồng đan dù,
Với soong chảo nấu ăn,
Với nghèo đói tồi tàn.
24. Chặt đứt được tham sân,
Ta sống không tham sân,
Ta đi đến gốc cây,
Ôi, an lạc ta thiền.

.

STRUCTURED RELATIONS

Quan hệ từ dữ liệu

32dffdfd dfdfdf ewfwefwe ưefw rêrerere