Trưởng lão Cūla-Gavaccha — Nhân vật
↑ Bỏ qua điều hướng
NHÂN VẬT · ENCYCLOPEDIA

Trưởng lão Cūla-Gavaccha

Một Bà-la-môn ở Kosambi. Sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp, ngài xuất gia. Vào thời điểm đó, các tỳ kheo Kosambi trở nên bất hòa, nhưng Gavaccha vẫn kiên trì và chứng đắc quả A-la-hán. Vào thời Đức Phật Padumuttara, ngài là một người lao động và khi thấy nhà sư Sujāta đang tìm vải để may áo choàng, ngài đã tặng nhà sư chiếc áo của mình.

  • Cūla-Gavaccha Thera

A brahmin of Kosambī. Having heard the Buddha preach, he entered the Order. At that time the Kosambī monks had become contentious, but Gavaccha remained steadfast and attained to arahantship.

In the time of Padumuttara Buddha he was a labourer and, finding the monk Sujāta looking for pieces of stuff for a robe, gave him his garment.

As a result, he was king of the devas thirty-three times and king of men seven times (Thag.11; ThagA.i.55f). He is, perhaps, identical with Upaddhadussadāyaka of the Apadāna. Ap.ii.435f; but the same verses are, in ThagA. (i.266) also attributed to Heraññakāni.

 

  • Cūla-Gavaccha Thera

Một Bà-la-môn ở Kosambi. Sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp, ngài xuất gia. Vào thời điểm đó, các tỳ kheo Kosambi trở nên bất hòa, nhưng Gavaccha vẫn kiên trì và chứng đắc quả A-la-hán.

Vào thời Đức Phật Padumuttara, ngài là một người lao động và khi thấy nhà sư Sujāta đang tìm vải để may áo choàng, ngài đã tặng nhà sư chiếc áo của mình.

Kết quả là, ngài làm vua chư thiên ba mươi ba lần và làm vua loài người bảy lần (Thag.11; ThagA.i.55f). Có lẽ ngài giống hệt với Upaddhadussadāyaka trong Apadāna. Ap.ii.435f; nhưng những câu thơ tương tự, trong ThagA. (i.266), cũng được cho là của Heraññakāni.

 

Wiki Tâm Học -Danh sách : 73 Trưởng lão tăng kệ - Phần 011 - Chương 1 : (XI) Cùlagavaccha (Thera. 3)

Phẩm Hai

(XI) Cùlagavaccha (Thera. 3)

Ngài sanh là vị Bà-la-môn ở Kosambi, nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, ngài xuất gia. Lúc bấy giờ các Tỷ-kheo ở Kosambi tranh cãi nhau, Cùlagavachha không theo phe phái nào, trung thành với lời dạy của bậc Ðạo Sư, phát triển trí tuệ và chứng quả A-la-hán. Thấy sự tranh cãi các Tỷ-kheo là nguyên nhân của sự thối thất, ngài hoan hỷ với thái độ không phe phái của mình và nói lên bài kệ:

11. Tỷ-kheo nhiều hân hoan,

Trong pháp Phật tuyên bố,

Ðạt được đạo tịch tịnh,

Hành dừng lại an lạc.

STRUCTURED RELATIONS

Quan hệ từ dữ liệu

Bài viết