2. Jenta.-A thera. He was born in the village of Jenta as the son of a chieftain. He was thoughtful when young, and one day, having heard the Buddha preach, he entered the Order and soon became an arahant (Thag.vs.111; ThagA.i.219f). He was a devaputta in the time of Sikhī Buddha and offered him kinkirāta-flowers. Five kappas ago he was a king named Sattuttama. v.l. Sabbuttama. He is probably identical with Kakkārapupphiya of the Apadāna (Ap.i.177).
2. Jenta. - Một vị trưởng lão. Ngài sinh ra tại làng Jenta, con trai của một vị tù trưởng. Ngài rất thông tuệ khi còn trẻ, và một ngày nọ, sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp, ngài đã xuất gia và nhanh chóng đắc quả A-la-hán (Thag.vs.111; ThagA.i.219f). Ngài là một vị Devaputta vào thời Đức Phật Sikhī và đã dâng hoa kinkirāta lên Ngài. Năm đại kiếp trước, ngài là một vị vua tên là Sattuttama. vl Sabbuttama. Ngài có lẽ giống hệt với Kakkārapupphiya trong Apadāna (Ap.i.177).
Phẩm Mười Hai
(CXI) Jenta (Thera. 16)
Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong nước Magadha (Ma-kiệt-đà), tại làng Jenta, con một vua địa phương. Khi đang còn trẻ, vì nghiệp duyên thúc đẩy, ngài muốn xuất gia, suy tư đến đời sống thoát tục. Ngài nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, rồi xuất gia. Tinh cần tu tập, hân hoan trong thiền quán, ngài chứng quả A-la-hán. Suy tư đến quả chứng của mình, nhớ đến những phân vân phải gặp lúc trước, ngài phấn khởi nói lên bài kệ:
111. Khó thay, đời xuất gia,
Khó thay, đời cư sĩ,
Sâu kín thay, Chánh pháp,
Khó kiếm thay, tài sản,
Lựa chọn thật khó khăn,
Nếp sống này, sống khác,
Khi tâm trí, luôn luôn,
Nghĩ đến lẽ vô thường.