Duyên khởi từ Nikāya đến Trung quán – Điều gì được giữ lại và điều gì được phát triển?
Duyên khởi từ kinh Nikāya đến Trung quán: giữ nguyên lý tính điều kiện và mục tiêu đoạn khổ, phát triển lập luận về Tánh Không, tự tính và hai chân lý.
Đọc bàiKhám phá câu hỏi, bài giải thích và đối chiếu Phật học. Chọn cách đọc phù hợp, từ lướt nhanh tiêu đề đến khám phá từng bài.
Duyên khởi từ kinh Nikāya đến Trung quán: giữ nguyên lý tính điều kiện và mục tiêu đoạn khổ, phát triển lập luận về Tánh Không, tự tính và hai chân lý.
Đọc bàiBồ-tát giới trong Đại thừa nhấn mạnh không chỉ tránh điều bất thiện mà còn tích cực tu thiện và lợi ích hữu tình; hiểu đúng tam tụ tịnh giới và sự khác biệt giữa các truyền thống.
Đọc bàiPaññā và prajñā là hai dạng Pāli–Sanskrit của thuật ngữ tuệ giác; các truyền thống phát triển trọng tâm khác nhau từ Tứ Thánh đế, vô ngã đến tính Không và Bát-nhã ba-la-mật.
Đọc bàiBát-nhã Đại thừa làm sâu sắc tuệ giác bằng sự quán chiếu các pháp không có tự tính; duyên khởi và Tánh Không không phủ nhận nhân quả hay đạo đức.
Đọc bàiĐại bi trong Bồ-tát đạo là lòng bi rộng lớn gắn với Bồ-đề tâm, các ba-la-mật và trí tuệ; không đồng nghĩa bao che điều ác hay tự hủy hoại.
Đọc bàiVô ngã và Tánh Không không phủ nhận khổ đau hay nhân quả; trí tuệ về duyên sinh giúp giảm chấp ngã và nuôi dưỡng từ bi có trách nhiệm.
Đọc bàiLòng từ và bi được dạy trong các kinh sớm; Đại bi của Bồ-tát phát triển chúng trong chí nguyện Bồ-đề tâm, trí tuệ và các hạnh lợi tha, không phủ nhận từ bi của truyền thống khác.
Đọc bàiTánh Không không phải mọi thứ đều biến mất, mà là các pháp không có tự tính độc lập. Tìm hiểu duyên khởi, vô ngã, Trung quán và ứng dụng thực hành.
Đọc bàiVô ngã nhắm đến việc không chấp thân tâm là cái Ta; vô tự tính trong Trung quán khảo sát các pháp không tồn tại độc lập với nhân duyên. Hai cách nhìn liên hệ nhưng khác phạm vi và ngữ cảnh.
Đọc bàiDuyên khởi chỉ ra các pháp nương điều kiện mà có; Trung quán giải thích vì thế chúng không có tự tính, nhưng vẫn có tác dụng và nhân quả theo quy ước.
Đọc bàiKhông tự tính không có nghĩa không tồn tại: theo Trung quán, các pháp tồn tại trên bình diện quy ước nhưng không tự lập ngoài nhân duyên.
Đọc bàiTrong Bát-nhã, cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều Không về tự tính: hiện hữu theo duyên khởi nhưng không phải cái Ta độc lập, bất biến.
Đọc bàiHai chân lý (tục đế và chân đế) giúp hiểu Tánh Không: các pháp vận hành theo quy ước và nhân quả nhưng không có tự tính độc lập; tránh thường kiến và đoạn kiến.
Đọc bàiTrung quán không xem Tánh Không là bản thể tuyệt đối: các pháp đều vô tự tính, và chính Tánh Không cũng không thể bị chấp thành một thực thể độc lập.
Đọc bài“Không cũng Không” không phủ nhận giáo lý Tánh Không; nó nhắc người học đừng biến Tánh Không thành một bản thể tuyệt đối hoặc một kiến chấp mới. Theo Trung quán, Tánh Không gắn với duyên khở...
Đọc bàiVô ngã và Tánh Không liên tục ở tinh thần duyên khởi, phá chấp; nhưng khác nhau về phạm vi phân tích, thuật ngữ và bối cảnh kinh luận.
Đọc bàiPhật tính là gì? Vì sao khả năng thành Phật không đồng nghĩa đã giác ngộ, và vì sao tu tập vẫn cần thiết? So sánh cách giải thích Đại thừa và Vô ngã.
Đọc bàiPhật tính được trình bày nổi bật trong Kinh Như Lai tạng, Đại Bát Niết-bàn Đại thừa, Kinh Thắng Man và Kinh Lăng Già; phân biệt với Hoa Nghiêm, Pháp Hoa và Bảo Tính luận.
Đọc bàiNhư Lai tạng (tathāgatagarbha) là gì? Tìm hiểu nguồn kinh Đại thừa, quan hệ với Phật tính, Vô ngã, Tánh Không và nguy cơ chấp thành linh hồn.
Đọc bàiNhư Lai tạng có phải linh hồn? Phân biệt Phật tính, vô ngã, “chân ngã” trong một số kinh Đại thừa và các cách giải thích học thuật.
Đọc bàiPhân biệt và đối chiếu Phật tính, Như Lai tạng với Tánh Không trong Trung quán: điểm gặp nhau, khác biệt và khả năng dung hòa.
Đọc bàiTrong Thiền tông, Phật tính liên hệ đến khả năng giác ngộ và kiến tánh; không phải linh hồn bất biến hay lý do để bỏ tu tập. Đối chiếu Pháp Bảo Đàn kinh và Đạo Nguyên.
Đọc bàiPhật tính trong Phật giáo Tây Tạng qua Tự Không (rangtong), Tha Không (shentong), Gelug, Sakya, Kagyu, Nyingma và Jonang: các điểm tương đồng, dị biệt và thực hành.
Đọc bàiTheravāda có giáo lý tâm sáng chói, vô ngã và khả năng tu tập giải thoát, nhưng không có học thuyết đồng nhất hoàn toàn với Phật tính hay Như Lai tạng Đại thừa.
Đọc bài