↑ Bỏ qua điều hướng
HỒ SƠ NHÂN VẬT · CHƯA PHÂN NHÓM

Tỳ Khưu Vajīputta – luân hồi là khổ, xuất gia thì khó

Hồ sơ dữ liệu chung #150 · Nội dung được đọc trực tiếp từ cùng bản ghi nhân vật mà Nikaya sử dụng.

Đối chiếu cùng nhân vật trên Nikaya ↗

Khi bậc Đạo Sư ngự tại Vesalī trong Đại Lâm, đề cập đến vị Tỳ khưu là con vua Vajjī, thuyết lên kệ ngôn nầy. Các vị Luận Giải Sư giảng ý nghĩa: Vị Tỳ khưu con vua Vajjī nầy sống một mình độc cư trong rừng, gần thành Vesālī. Vị ấy nghe văng vắng tiếng đàn hát từ thành vọng đến, lấy làm bất mãn mới thốt lên bài kệ:

Thời đại
Chưa xác định
Sinh–mất
Chưa rõ năm sinh–mất
Tuổi thọ
Chưa rõ
Địa bàn
Chưa xác định
Giới tính
Nam
Mã dữ liệu chung
#150
Khởi tạo hồ sơ
27/02/2023
Cập nhật tại nguồn
20/11/2025 12:10
Lượt xem tại nguồn
632
Trạng thái nội dung
Có nội dung chính
Tóm lược

Khi bậc Đạo Sư ngự tại Vesalī trong Đại Lâm, đề cập đến vị Tỳ khưu là con vua Vajjī, thuyết lên kệ ngôn nầy. Các vị Luận Giải Sư giảng ý nghĩa: Vị Tỳ khưu con vua Vajjī nầy sống một mình độc cư trong rừng, gần thành Vesālī. Vị ấy nghe văng vắng tiếng đàn hát từ thành vọng đến, lấy làm bất mãn mới thốt lên bài kệ:

Mục lục nội dung · 2 đề mục
Thông tin chính

2. Vajjiputta Thera. He belonged to a Licchavi rājā's family, and while still young, and learning various arts, such as training elephants, he was filled with the desire for renunciation. One day he went to a vihāra where the Buddha was preaching, entered the Order, and not long after became an arahant.

After the Buddha’s death, when the chief Elders were living in various places prior to their agreed meeting for the recital of the Dhamma, he saw Ananda, still a learner (sekha), teaching the Doctrine to a large assembly. Wishing to urge him to higher attainment, Vajjiputta uttered a verse, and this verse was among those which led to Ananda's attainment of arahantship. The verse is found in Thag.vs.119. In S.i.199 the verse is attributed to a forest deva who wished to agitate Ananda. In Rockhill (op. cit., 155f.), Vajjiputta was Ananda's attendant at the time and preached to the people while Ananda meditated.

Ninety four kappas ago, Vajjiputta had seen a Pacceka Buddha begging for alms and had given him plantain fruits. ThagA.i.236f.

2. Trưởng lão Vajjiputta. Ngài xuất thân từ một gia đình quý tộc Licchavi, và khi còn trẻ, ngài đã học nhiều nghề khác nhau, chẳng hạn như huấn luyện voi, và ngài đã tràn đầy khát vọng xuất gia. Một ngày nọ, ngài đến một tịnh xá nơi Đức Phật đang thuyết pháp, gia nhập Tăng đoàn, và không lâu sau đã đắc quả A-la-hán.

Sau khi Đức Phật nhập diệt, khi các vị Trưởng lão đang ở nhiều nơi khác nhau trước buổi họp đã thỏa thuận để tụng đọc Giáo Pháp, Ngài thấy Ananda, lúc đó vẫn còn là một học giả (sekha), đang thuyết giảng Giáo Pháp cho một hội chúng đông đảo. Muốn thúc đẩy Ananda đạt đến sự chứng đắc cao hơn, Vajjiputta đã đọc một bài kệ, và bài kệ này nằm trong số những bài kệ dẫn đến việc Ananda chứng đắc quả vị A-la-hán. Bài kệ này được tìm thấy trong Thag.vs.119. Trong Si199, bài kệ này được cho là của một vị thiên nhân trong rừng muốn quấy nhiễu Ananda. Trong Rockhill (op. cit., 155f.), Vajjiputta lúc đó là thị giả của Ananda và đã thuyết giảng cho mọi người trong khi Ananda thiền định.

Chín mươi bốn kiếp trước, Vajjiputta đã nhìn thấy một vị Phật Độc Giác đang khất thực và đã dâng tặng Ngài quả chuối. ThagA.i.236f.

 

Wiki Tâm Học -Danh sách : Trưởng lão tăng kệ - Phần 119 - Chương 1 : (C) Devasabha (II) (Thera. 14)

(CXIX) Vajji-Putta (Thera. 17)

Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một vị vua Licchaivì ở Vesàli, và được gọi là con của Vajji, vì phụ thân thuộc về dòng họ này. Khi còn trẻ, thiên về huấn luyện voi, thúc đẩy bởi nhân duyên chín muồi để giải thoát, ngài đi đến tinh xá đúng lúc bậc Ðạo Sư thuyết giảng, sau khi nghe, ngài xuất gia, sau một thời gian chứng sáu thắng trí.

Sau một thời gian, sau khi bậc Ðạo Sư vừa nhập Niết-bàn, ngài cùng với các bậc Trưởng lão thỏa thuận cố gắng duy trì Chánh pháp không có suy suyển, và cùng với các vị Trưởng lão đi từ chỗ này đến chỗ kia. Một hôm ngài thấy Tôn giả Ananda đang thuyết pháp cho một số đông người, để khích lệ Tôn giả Ananda chứng quả cao hơn, ngài nói lên bài kệ này:

119. Hãy đi đến khu rừng,

Rậm rạp những rễ cây,

Hãy để cho Niết-bàn,

Chìm sâu vào tâm người,

Hỡi này Go-ta-ma!

Hãy tu tập thiền định,

Việc làm lăng xăng này,

Có nghĩa gì cho ông.

.

 

 

Chú Giải Kinh Pháp Cú Quyển IV 

 

Phẩm Tạp Lục: Tích Tỳ Khưu Vajīputta

“Dubbajjaṃ durabhiramaṃ
Durāvāsā gharā dukhā
Dukkho samānasaṃvaso
Dukkhānupatitaddagū
Tasmā na c’addhagū siyā
Na ca dukkhānupatito siyā”.

“Vui hạnh xuất gia khó,
Tại gia sinh hoạt khó,
Sống bạn không đồng, khổ.
Vậy chớ sống luân hồi,
Chớ chạy theo đau khổ”.

Khi bậc Đạo Sư ngự tại Vesalī trong Đại Lâm, đề cập đến vị Tỳ khưu là con vua Vajjī, thuyết lên kệ ngôn nầy.

Các vị Luận Giải Sư giảng ý nghĩa: Vị Tỳ khưu con vua Vajjī nầy sống một mình độc cư trong rừng, gần thành Vesālī. Vị ấy nghe văng vắng tiếng đàn hát từ thành vọng đến, lấy làm bất mãn mới thốt lên bài kệ:

“Ta sống độc cư trong rừng sâu
Như khúc gỗ người vất hố sâu
Đêm về tiếng hát vọng từ đâu?
Có ai sánh cùng ta đâu”.

Được nghe rằng: Vị Tỳ khưu ấy là Hoàng tử xứ Vajjī, đã từ bỏ lầu son, điện ngọc đi xuất gia. Một hôm khắp kinh thành Vesalī treo cờ xí trang trí kinh đô rực rỡ, mừng đại hội. Có 7707 vị vua cùng triều thần các xứ và cả Tứ Đại Thiên Vương đến dự, cuộc lễ diễn ra suốt đêm ngày. Hôm ấy là đêm rằm, nhằm lúc sen nở, bầu trời đầy trăng sao, vị nầy đi kinh hành liên tiếp, bỗng nghe khúc khải ca từ xa vọng đến, chạnh lòng Tăng sĩ, nên đã nói lên như vậy.

Chư thiên ngự tại đó nói lên bài kệ như sau:
“Người sống độc cư trong rừng
Như khúc gỗ bị ngươi vứt bỏ
Thích thú khoái lạc đưa địa ngục
Thích thú hành thiện đến cõi trời”.

Vị ấy nghe bài kệ nầy động tâm, sáng ngày vào yết kiến Bậc Đạo Sư. Đức Thế Tôn hiểu rõ sự kiện nầy, Ngài biết rõ rằng đời sống tại gia là đau khổ, nên sách tấn vị ấy bằng kệ ngôn rằng:

302. Xuất gia là khó, thỏa thích trong sự xuất gia là khó. Đời sống tại gia là khó và đau khổ. Liên kết với người không tương hợp là đau khổ. Đau khổ đến với khách lữ hành (trong vòng luân hồi). Vậy chớ nên làm khách lữ hành, chớ nên làm người chạy theo đau khổ”.

CHÚ GIẢI:
Dubbajjaṃ: là sự từ bỏ tài sản ít hay nhiều, hoặc là thân quyến để xuất gia (hiến dâng) cho Đạo Pháp là khó làm.

Durabhiramaṃ: là người nam tử đi xuất gia, đi khất thực thích thú trong giới hạnh, dù chưa thực hành pháp trọn vẹn, là đã khó rồi.

Durāvāsa: là phận sự của vị vua cai trị Minh Chánh, Bậc Sa môn, Bà la môn hành đúng pháp mới tế độ. Dù vậy đời sống tại gia là khó, giống như cái nồi ở biển sâu. Vì vậy trong gia đình nếu không khéo lãnh đạo sẽ sanh khổ.

Dukkho samānasaṃvāso: dù người cư sĩ giai cấp, gia đình, tài sản đồng nhau và khi xuất gia là đồng giới hạnh, đa văn đều tương xứng. Nhưng chỉ hỏi rằng: Ông ấy là ai? Tôi là ai? Cốt ý tìm hiểu như vậy, sự sống chung không tương xứng là đau khổ.

Dukkhānupatitaddhagū: là đau khổ đến với khách lữ hành đi đường xa, là luân hồi. Vậy khách lữ hành chớ nên chạy theo đau khổ như đã giải trên.

Sau khi Đức Thế Tôn thuyết về năm sự khổ, vị Tỳ khưu ấy chấm dứt thập phần kiết sử, chứng quả A La Hán.

Dịch Giả Cẩn Đề
Chán cảnh vương hầu quyết xuất gia,
Vào rừng xa lánh bụi phồn hoa,
Trăng tròn, trống phách vàng lồng lộng,
Giục khách thiền lâm chạnh nỗi nhà…
Xuất gia là việc khó đầu tiên,
Tuy vượt qua rồi, khó được yên,
Đường đạo còn bao nhiêu phận sự,
Làm xong mới giũ sạch ưu phiền,
Nếu muốn vất ra chẳng dễ gì,
Này là sản nghiệp, nọ thê nhi!
Làm vua, làm tớ đều lo lắng,
Thế lộ thăng trầm, lắm kẻ đi…
Hành giả chuyên tu hạnh đầu đà,
Vì người đồng đẳng kiếm không ra,
Sống không đồng đẳng ngày thêm khổ,
Kẻ thấp, người cao, khó cộng hòa,
Có khổ nào hơn khổ luân hồi?
Sáu đường, ba cõi mãi lăn trôi,
Tam tai, bát nạn đều quen mặt,
Cho đến bao giờ hết chấp “tôi”.
Cái khổ là chân lý thánh nhân,
Người minh sát khổ thoát mê tân,
Nghe lời Phật dạy rành năm khổ,
Vương tử Tỳ khưu tỉnh mộng trần.
DỨT TÍCH TỲ KHƯU VAJJĪPUTTA

Thông tin thêm Chưa có nội dung tại nguồn

Hồ sơ dùng chung hiện chưa có phần thông tin thêm. Không tự bổ sung dữ kiện chưa có nguồn.

Bổ sung Chưa có nội dung tại nguồn

Hồ sơ dùng chung hiện chưa có phần bổ sung. Không tự bổ sung dữ kiện chưa có nguồn.

Trung & Trường Bộ · 0 liên kết

  • Chưa có bài công khai được liên kết trong nhóm này.

Tương Ưng Bộ · 0 liên kết

  • Chưa có bài công khai được liên kết trong nhóm này.

Nikaya khác · 1 liên kết

Tạp A Hàm · 0 liên kết

  • Chưa có bài công khai được liên kết trong nhóm này.

Tiền thân Nikaya · 0 liên kết

Các mối liên hệ tiền thân theo dữ liệu truyện / kinh tại Nikaya; không đồng nhất với tiểu sử lịch sử.

  • Chưa có bài công khai được liên kết trong nhóm này.

Truyền thống & vai trò — phân nhóm Wiki

Hồ sơ chưa được gắn truyền thống trong danh mục mới. Dữ liệu nguồn vẫn được hiển thị đầy đủ theo các trường hiện có.

Nguồn & đối chiếu

Nội dung văn bản được giữ theo nguồn, chỉ loại mã thực thi, định dạng gây tràn và chuyển nội dung nhúng thành liên kết an toàn. Việc hiển thị đủ trường không đồng nghĩa mọi dữ kiện trong bài nguồn đã được thẩm định.

32dffdfd dfdfdf ewfwefwe ưefw rêrerere