↑ Bỏ qua điều hướng
HỒ SƠ NHÂN VẬT · CHƯA PHÂN NHÓM

Du sĩ ngoại đạo Potaliputta

Hồ sơ dữ liệu chung #696 · Nội dung được đọc trực tiếp từ cùng bản ghi nhân vật mà Nikaya sử dụng.

Đối chiếu cùng nhân vật trên Nikaya ↗

A Paribbājaka who visited Samiddhi at the Vejuvana in Rājagaha and said that he had heard the Buddha declare that all action and speech were vain, and that what passed in the mind was the only thing of importance. A stage could be reached in which there was no feeling whatever. Samiddhi protested that Potaliputta misinterpreted the Buddha's teaching, and Potaliputta then asked him questions regarding experience, which Samiddhi answered. Potaliputta, showing neither approval nor disapproval, walked away. When the Buddha heard from Ananda of Potaliputta's questions and Samiddhi's answers he blamed Samiddhi for his hasty reply. For details see Mahākammavibhanga Sutta. (M.iii.207 ff.)

Thời đại
Chưa xác định
Sinh–mất
Chưa rõ năm sinh–mất
Tuổi thọ
Chưa rõ
Địa bàn
Chưa xác định
Giới tính
Nam
Mã dữ liệu chung
#696
Khởi tạo hồ sơ
01/09/2025
Cập nhật tại nguồn
18/11/2025 09:56
Lượt xem tại nguồn
356
Trạng thái nội dung
Có nội dung chính
Tóm lược

A Paribbājaka who visited Samiddhi at the Vejuvana in Rājagaha and said that he had heard the Buddha declare that all action and speech were vain, and that what passed in the mind was the only thing of importance. A stage could be reached in which there was no feeling whatever. Samiddhi protested that Potaliputta misinterpreted the Buddha's teaching, and Potaliputta then asked him questions regarding experience, which Samiddhi answered. Potaliputta, showing neither approval nor disapproval, walked away. When the Buddha heard from Ananda of Potaliputta's questions and Samiddhi's answers he blamed Samiddhi for his hasty reply. For details see Mahākammavibhanga Sutta. (M.iii.207 ff.)

Mục lục nội dung · 1 đề mục
Thông tin chính

Potaliputta

A Paribbājaka who visited Samiddhi at the Vejuvana in Rājagaha and said that he had heard the Buddha declare that all action and speech were vain, and that what passed in the mind was the only thing of importance. A stage could be reached in which there was no feeling whatever. Samiddhi protested that Potaliputta misinterpreted the Buddha's teaching, and Potaliputta then asked him questions regarding experience, which Samiddhi answered. Potaliputta, showing neither approval nor disapproval, walked away. When the Buddha heard from Ananda of Potaliputta's questions and Samiddhi's answers he blamed Samiddhi for his hasty reply.

For details see Mahākammavibhanga Sutta. (M.iii.207 ff.)

Xuất hiện trong Wiki Tâm Học -Danh sách : Kinh Trung Bộ 136.Ðại Kinh Nghiệp Phân Biệt (Mahākammavibhanga)

TÓM TẮT

Du sĩ ngoại đạo Potaliputta đi đến tôn giả Samiddhi kể rằng chính ông đã được nghe Phật dạy nghiệp thân, khẩu là giả, chỉ có ý nghiệp mới thật; và có một loại thiền định nếu tu thành tựu thì sẽ không còn cảm giác gì nữa [1]. Tôn giả nói Phật không bao giờ dạy như vậy, đừng phỉ báng Ngài. Du sĩ khen tôn giả mới tu ba năm mà đã biết bảo vệ thầy mình, và hỏi tiếp: Khi cố ý làm ba nghiệp thân khẩu ý, thì sẽ có cảm giác gì? Samiddhi trả lời là sẽ có cảm giác đau khổ. Du sĩ bỏ đi không ý kiến. Sau đó tôn giả đến yết kiến Phật trình bày mọi sự.

Phật dạy, Ta chưa từng gặp Potali thì do đâu có chuyện ấy. Và Ngài chê Samiddhi là kẻ ngu đã trả lời một chiều trước một vấn đề cần được phân tích. Khi ấy tôn giả Udàyi thưa: Có lẽ sư huynh Samiddhi ám chỉ một nguyên lý Ngài đã dạy "Còn cảm giác là còn đau khổ [2]". Phật dạy, câu hỏi của du sĩ cần phải được trả lời rằng nếu cố ý làm một nghiệp (thân, khẩu, ý) có khả năng đem lại đau khổ thì sẽ có cảm giác khổ. Nếu cố ý làm một nghiệp (thân, khẩu, ý) có khả năng đem lại vui thì sẽ có cảm giác vui; và nếu một nghiệp có khả năng đem lại cảm giác không khổ không vui thì kết quả sẽ là cảm giác trung tính.

Rồi Phật dạy về phân biệt đại nghiệp như sau. Trên đời có bốn hạng người:

1. Người sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói láo, hai lưỡi, ác khẩu, nói phù phiếm, tham lam, sân hận, có tà kiến (đủ mười nghiệp ác), khi chết sinh vào nẻo ác, cõi dữ, địa ngục.

2. Có người cũng phạm mười tội ác như trên, nhưng chết sinh vào cõi tốt lành như làm người làm trời.

3. Có người từ bỏ mười nghiệp ác nói trên, chết sinh vào cõi lành.

4. Có người cũng từ bỏ mười nghiệp ác, nhưng chết sinh vào cõi dữ, địa ngục.

Do vậy, có thể công bố rằng chắc chắn có quả báo của thiện nghiệp ác nghiệp, nhưng không thể công bố như sau: Chắc chắn tất cả những người làm 10 ác đều sinh vào cõi dữ, từ bỏ 10 ác đều sinh cõi lành (vì có một số người làm ác chết sinh cõi lành và làm lành chết sinh cõi dữ).

Theo sự phân biệt đại nghiệp của Phật thì làm ác sinh cõi lành là do một nghiệp rất lành từ lâu xa về trước đến thời có kết quả, hoặc do một chính kiến khởi lên trước khi chết, còn làm lành tái sinh cõi dữ là do một ác nghiệp từ rất lâu về trước nay đến thời gặt quả báo, hoặc do lúc gần chết khởi lên một tà kiến. Do vậy, có loại nghiệp không tác dụng mà tợ không, không tác dụng mà tợ như có, và nghiệp có tác dụng tợ có, nghiệp có tác dụng tợ không.

 

Thông tin thêm Chưa có nội dung tại nguồn

Hồ sơ dùng chung hiện chưa có phần thông tin thêm. Không tự bổ sung dữ kiện chưa có nguồn.

Bổ sung Chưa có nội dung tại nguồn

Hồ sơ dùng chung hiện chưa có phần bổ sung. Không tự bổ sung dữ kiện chưa có nguồn.

Trung & Trường Bộ · 1 liên kết

Tương Ưng Bộ · 0 liên kết

  • Chưa có bài công khai được liên kết trong nhóm này.

Nikaya khác · 0 liên kết

  • Chưa có bài công khai được liên kết trong nhóm này.

Tạp A Hàm · 1 liên kết

Tiền thân Nikaya · 0 liên kết

Các mối liên hệ tiền thân theo dữ liệu truyện / kinh tại Nikaya; không đồng nhất với tiểu sử lịch sử.

  • Chưa có bài công khai được liên kết trong nhóm này.

Truyền thống & vai trò — phân nhóm Wiki

Hồ sơ chưa được gắn truyền thống trong danh mục mới. Dữ liệu nguồn vẫn được hiển thị đầy đủ theo các trường hiện có.

Nguồn & đối chiếu

Nội dung văn bản được giữ theo nguồn, chỉ loại mã thực thi, định dạng gây tràn và chuyển nội dung nhúng thành liên kết an toàn. Việc hiển thị đủ trường không đồng nghĩa mọi dữ kiện trong bài nguồn đã được thẩm định.

32dffdfd dfdfdf ewfwefwe ưefw rêrerere