Thợ gốm Bhaggava (TB 140)
Hồ sơ dữ liệu chung #697 · Nội dung được đọc trực tiếp từ cùng bản ghi nhân vật mà Nikaya sử dụng.
Đối chiếu cùng nhân vật trên Nikaya ↗3. Bhaggava. A potter in Rājagaha in whose dwelling the Buddha met and conversed with Pukkusāti (M.iii.237). Bhaggava seems to have been a generic name for all potters, perhaps a special form of address used towards members of the kumbhakāra "caste." Thus we find in the books several instances of potters being addressed as "Bhaggava". E.g., DhA.i.33; J.ii.80, iii.382. At J.111.382 the potter's wife is addressed as "Bhaggavī." In the Samyutta Nikāya (S.i.36, 60) the Buddha addresses Ghatīkāra Brahmā as "Bhaggava"; he had been a potter of Vehalinga in his previous birth and the name "Ghatīkāra" itself means "jar maker." The Commentaries give no explanation of the word; perhaps the potters claimed their descent from Bhrgu. Bhaggava is sometimes given as an example of a gotta. E.g., Sp.i.160 (with Gotama). See also Bhaggavagotta.
- Thời đại
- Chưa xác định
- Sinh–mất
- Chưa rõ năm sinh–mất
- Tuổi thọ
- Chưa rõ
- Địa bàn
- Chưa xác định
- Giới tính
- Nam
- Mã dữ liệu chung
- #697
- Khởi tạo hồ sơ
- 01/09/2025
- Cập nhật tại nguồn
- 18/11/2025 09:55
- Lượt xem tại nguồn
- 257
- Trạng thái nội dung
- Có nội dung chính
3. Bhaggava. A potter in Rājagaha in whose dwelling the Buddha met and conversed with Pukkusāti (M.iii.237). Bhaggava seems to have been a generic name for all potters, perhaps a special form of address used towards members of the kumbhakāra "caste." Thus we find in the books several instances of potters being addressed as "Bhaggava". E.g., DhA.i.33; J.ii.80, iii.382. At J.111.382 the potter's wife is addressed as "Bhaggavī." In the Samyutta Nikāya (S.i.36, 60) the Buddha addresses Ghatīkāra Brahmā as "Bhaggava"; he had been a potter of Vehalinga in his previous birth and the name "Ghatīkāra" itself means "jar maker." The Commentaries give no explanation of the word; perhaps the potters claimed their descent from Bhrgu. Bhaggava is sometimes given as an example of a gotta. E.g., Sp.i.160 (with Gotama). See also Bhaggavagotta.
Thông tin chính
3. Bhaggava. A potter in Rājagaha in whose dwelling the Buddha met and conversed with Pukkusāti (M.iii.237).
Bhaggava seems to have been a generic name for all potters, perhaps a special form of address used towards members of the kumbhakāra "caste." Thus we find in the books several instances of potters being addressed as "Bhaggava". E.g., DhA.i.33; J.ii.80, iii.382. At J.111.382 the potter's wife is addressed as "Bhaggavī."
In the Samyutta Nikāya (S.i.36, 60) the Buddha addresses Ghatīkāra Brahmā as "Bhaggava"; he had been a potter of Vehalinga in his previous birth and the name "Ghatīkāra" itself means "jar maker." The Commentaries give no explanation of the word; perhaps the potters claimed their descent from Bhrgu.
Bhaggava is sometimes given as an example of a gotta. E.g., Sp.i.160 (with Gotama).
See also Bhaggavagotta.
Xuất hiện trong Wiki Tâm Học -Danh sách : Kinh Trung Bộ 140.Kinh Giới Phân Biệt (Dhātuvibhanga sutta)
TÓM TẮT
Phật cùng nghỉ đêm trong một xưởng làm đồ gốm với Pukkusàti. Sau khi biết đấy là một thiện nam tử đã xuất gia do lòng tin đối với Ngài mặc dù chưa từng gặp Ngài, Phật giảng vắn tắt: Cái gọi là con người gồm có sáu giới, sáu xúc xứ, 18 ý hành và bốn thắng xứ. Sáu xúc xứ là mắt tai mũi lưỡi thân ý; 18 ý hành gồm sắc thanh hương vị xúc pháp chỗ trú của ba cảm thọ hỷ ưu và xả (cộng thành 18). Bốn thắng xứ gồm tuệ, hãy hộ trì chân đế, hãy tăng trưởng huệ thí, hãy tu học tịch tịnh. Rồi Phật giảng chi tiết như sau.
Chớ buông lung trí tuệ có nghĩa là nên biết rõ sáu giới tức địa thủy hoả phong không thức. Ðịa giới có trong thân và ngoài thân. Ðịa trong thân là tất cả những chất cứng bị chấp thủ, thuộc cá nhân như tóc lông móng răng da, thịt gân xương tủy thận. Chất cứng trong ngoài gì cũng thuộc về địa giới, cần phải thấy như thật với chánh trí là nó không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi. Sau khi biết vậy, sinh tâm chán lìa, từ bỏ địa giới. Ðối với thủy (chất lỏng), hoả (hơi nóng), phong (động), không (lỗ hổng) cũng đều quán như vậy. Với thức trong sáng, vị ấy biết được lạc, khổ và bất khổ bất lạc. Do lạc xúc, lạc thọ khởi lên; và thức liền nhận biết đang cảm giác một lạc thọ. Do lạc xúc diệt, lạc thọ cũng diệt, và thức cũng nhận biết như vậy. Với hai cảm thọ kia (khổ và bất khổ bất lạc) cũng thế.
Khi xả còn lại được trong sáng, thuần tịnh, vị tỷ kheo có thể tập trung xả ấy vào hư không vô biên, thức vô biên, vô sở hữu, phi tưởng phi phi tưởng… nhưng xả ấy sẽ thành hữu vi. Nếu không tác thành, không suy tưởng đến hữu hay phi hữu, không chấp thủ một sự vật gì ở đời, thì vị ấy sẽ không sợ hãi, tự chứng niết bàn, biết: Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa. Mỗi khi cảm giác lạc, khổ hay bất khổ bất lạc, vị ấy biết tất cả cảm thọ đều vô thường, không nên đắm trước, không phải đối tượng để hoan hỷ. Vị ấy biết rõ khi cảm giác một cảm thọ với thân là tối hậu hay với sinh mạng là tối hậu (CT. - nghĩa là chỉ trong lúc mạng căn còn tiếp tục, không xa hơn thế). Vị ấy biết, khi thân hoại mạng chung, tất cả những cảm thọ sẽ trở thành thanh lương (vì vị ấy không chấp thủ, hoan hỷ trong đó). Tỷ kheo có được trí như vậy gọi là có tuệ thắng xứ, nghĩa là trí biết sự đoạn tận mọi đau khổ. Sự giải thoát của vị ấy không bị giao động vì căn cứ trên chân đế, niết bàn. Vị tỷ kheo thành tựu như vậy là thành tựu đế thắng xứ. Những chấp thủ của vị ấy trước kia bây giờ bị cắt đứt tận gốc rễ không còn sinh khởi trong tương lai, nên đây là huệ xả thắng xứ nơi vị ấy. Tham ái, phẫn nộ và si mê trước kia nơi vị ấy bây giờ cũng hoàn toàn bị chặt đứt tận gốc rễ như thân cây ta la, không còn khả năng sinh khởi, nên vị ấy thành tựu tịch tịnh thắng xứ, nghĩa là sự chấm dứt tham sân si. Khi những ngọn triều vọng tưởng không còn lay động một người đã vững trú trên bốn thắng xứ, vị ấy được gọi là một ẩn sĩ tịch tịnh. Vị ấy không còn nghĩ về ta là thế này thế nọ hay sẽ là ngày nọ; không còn sanh, già chết, mong cầu gì.
Nghe xong bài pháp vi diệu ấy, Pukkusàti biết ngay đấy là đức Phật, và xin sám hối vì không biết nên đã gọi Ngài là hiền giả (bạn). Ông xin được thọ đại giới, nhưng khi vừa đi ra kiếm y bát thì bị bò húc chết. Khi các tỷ kheo hỏi về sanh thú của vị này, Phật dạy ông ấy đã đoạn trừ năm hạ phần kết sử, sẽ nhập niết bàn không còn trở lui đời này nữa.
Thông tin thêm Chưa có nội dung tại nguồn
Hồ sơ dùng chung hiện chưa có phần thông tin thêm. Không tự bổ sung dữ kiện chưa có nguồn.
Bổ sung Chưa có nội dung tại nguồn
Hồ sơ dùng chung hiện chưa có phần bổ sung. Không tự bổ sung dữ kiện chưa có nguồn.
Trung & Trường Bộ · 1 liên kết
- Kinh Trung Bộ 140.Kinh Giới Phân Biệt (Dhātuvibhanga sutta) ↗Vai trò: Người nghe · Mã bài #270
Add thành công
Tương Ưng Bộ · 0 liên kết
- Chưa có bài công khai được liên kết trong nhóm này.
Nikaya khác · 0 liên kết
- Chưa có bài công khai được liên kết trong nhóm này.
Tạp A Hàm · 1 liên kết
- Trung A Hàm 162. Kinh Phân Biệt Lục Giới ↗Vai trò: Người nghe · Mã bài #2918
Add thành công
Tiền thân Nikaya · 0 liên kết
Các mối liên hệ tiền thân theo dữ liệu truyện / kinh tại Nikaya; không đồng nhất với tiểu sử lịch sử.
- Chưa có bài công khai được liên kết trong nhóm này.
Truyền thống & vai trò — phân nhóm Wiki
Hồ sơ chưa được gắn truyền thống trong danh mục mới. Dữ liệu nguồn vẫn được hiển thị đầy đủ theo các trường hiện có.
Nguồn & đối chiếu
Nội dung văn bản được giữ theo nguồn, chỉ loại mã thực thi, định dạng gây tràn và chuyển nội dung nhúng thành liên kết an toàn. Việc hiển thị đủ trường không đồng nghĩa mọi dữ kiện trong bài nguồn đã được thẩm định.