Bà-la-môn Pasariya ( thầy của Uttara TB 152)
Hồ sơ dữ liệu chung #700 · Nội dung được đọc trực tiếp từ cùng bản ghi nhân vật mà Nikaya sử dụng.
Đối chiếu cùng nhân vật trên Nikaya ↗An arahant. He was the son of a very eminent Brahmin of Sāvatthi, and was so called because the name of his family was Pārāpara. One day he went to Jetavana to hear the Buddha preach, and the Buddha, seeing him, preached the Indriyabhāvanā Sutta.
- Thời đại
- Chưa xác định
- Sinh–mất
- Chưa rõ năm sinh–mất
- Tuổi thọ
- Chưa rõ
- Địa bàn
- Chưa xác định
- Giới tính
- Nam
- Mã dữ liệu chung
- #700
- Khởi tạo hồ sơ
- 01/09/2025
- Cập nhật tại nguồn
- 18/11/2025 09:51
- Lượt xem tại nguồn
- 383
- Trạng thái nội dung
- Có nội dung chính
An arahant. He was the son of a very eminent Brahmin of Sāvatthi, and was so called because the name of his family was Pārāpara. One day he went to Jetavana to hear the Buddha preach, and the Buddha, seeing him, preached the Indriyabhāvanā Sutta.
Mục lục nội dung · 1 đề mục
Thông tin chính
Pārāpariya Thera
An arahant. He was the son of a very eminent Brahmin of Sāvatthi, and was so called because the name of his family was Pārāpara. One day he went to Jetavana to hear the Buddha preach, and the Buddha, seeing him, preached the Indriyabhāvanā Sutta.
This probably refers to M.iii.298ff., which deals with the views of the Brahmin teacher Pārāsariya, and then gives the method of developing the indriyas as taught in the Ariyan Vinaya. The Sutta, however, was preached at Kajañgalā and not at Sāvatthi, the questioners being Uttara, a pupil of Pārāsariya, and Ananda. See Brethren 295, n.1.
After learning the Sutta, Pārāpariya pondered on its meaning and won arahantship (Thag.vs.726ff.; ThagA.ii.17f). The Theragāthā contains a number of verses (Vs.920 49; ThagA.ii.74ff) spoken by Pārāpariya after the Buddha's parinibbāna and immediately before his own death.
Xuất hiện trong bài kinh Wiki Tâm Học -Danh sách : Kinh Trung Bộ 152.Kinh Căn Tu Tập (Indriyabhāvanā sutta)
6. Uttara.-A brahmin youth (Uttara-mānava), pupil of Pārāsariya. He once visited the Buddha at Kajangalā in the Mukheluvana and the Buddha preached to him the Indriya-bhāvanā Sutta (M.iii.298ff).
Perhaps it is this same mānava that is mentioned in the Pāyāsi Sutta. When Pāyāsi Rājañña was converted by Kumāra Kassapa, he instituted almsgiving to all and sundry, but the gifts he gave consisted of such things as gruel and scraps of food and coarse robes. Uttara, who was one of his retainers, spoke sarcastically of Pāyāsi's generosity, and on being challenged by Pāyāsi to show what should be done, Uttara gave gladly and with his own hands excellent foods and garments. As a result, after death, while Pāyāsi was born only in the empty Serisakavimāna of the Cātummahārājika world, Uttara was born in Tāvatimsa. D.ii.354-7; see also VvA.297f. where the details are slightly different.
TÓM TẮT
Thanh niên Uttara đệ tử của bà la môn Pàsàriya đi đến hầu thăm Phật. Phật hỏi thầy anh dạy đệ tử tu tập căn như thế nào. Thanh niên đáp, mắt đừng thấy sắc, tai đừng nghe tiếng… Bà la môn thuyết giảng về tu tập căn như vậy. Phật dạy nếu thế thì hóa ra mù và điếc là những người tu tập căn cả sao. Thanh niên cúi đầu hổ thẹn vì không trả lời được.
Khi ấy Phật gọi tôn giả A Nan mà dạy rằng, trong giới luật của các bậc thánh, vô thượng căn tu tập không phải như vậy. Tôn giả xin Phật thuyết giảng.
Phật dạy vô thượng căn tu tập là khi mắt thấy sắc, ý khởi lên hoặc vui, khổ, hoặc khổ, hoặc dửng dưng vị ấy đều biết rõ nhưng cũng biết thêm rằng, cái gì có khởi lên vì là hữu vi nên thô. Chỉ có cái này là thực, thù diệu, đó là xả. Cho nên dù khởi lên bất cứ cảm thọ nào trong ba loại ấy, tất cả đều đoạn diệt chỉ tồn tại xả. Khi tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc, ý nhận thức cũng đều như vậy, tất cả cảm thọ đều đoạn diệt nơi vị ấy, chỉ còn lại xả, như nước không đọng trên lá sen chúc xuống.
Ðạo lộ của bậc hữu học là, mỗi khi các căn xúc tiếp với trần cảnh tự thấy mình còn khởi một trong ba loại cảm thọ ấy mà không xả bỏ, thì lấy làm hổ thẹn. Còn bậc thánh thì, khi muốn an trú tưởng yểm ly (đối với vật khả ái) hoặc tưởng không yểm ly (như khởi tâm từ trước sự vật đáng chán ghét) hoặc tưởng xả, đều có thể làm được như ý muốn. Ðây là sự tu tập căn đối với bậc thánh.
Vậy, này A Nan, Ta đã giảng thế nào là vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc thánh, thế nào là đạo lộ bậc hữu học, thế nào là các căn đã được tu tập nơi bậc thánh. Ðây là những gốc cây, chỗ trống, các người hãy thiền tư chớ phóng dật mà phải hối hận về sau.
Thông tin thêm Chưa có nội dung tại nguồn
Hồ sơ dùng chung hiện chưa có phần thông tin thêm. Không tự bổ sung dữ kiện chưa có nguồn.
Bổ sung Chưa có nội dung tại nguồn
Hồ sơ dùng chung hiện chưa có phần bổ sung. Không tự bổ sung dữ kiện chưa có nguồn.
Trung & Trường Bộ · 0 liên kết
- Chưa có bài công khai được liên kết trong nhóm này.
Tương Ưng Bộ · 0 liên kết
- Chưa có bài công khai được liên kết trong nhóm này.
Nikaya khác · 0 liên kết
- Chưa có bài công khai được liên kết trong nhóm này.
Tạp A Hàm · 0 liên kết
- Chưa có bài công khai được liên kết trong nhóm này.
Tiền thân Nikaya · 0 liên kết
Các mối liên hệ tiền thân theo dữ liệu truyện / kinh tại Nikaya; không đồng nhất với tiểu sử lịch sử.
- Chưa có bài công khai được liên kết trong nhóm này.
Truyền thống & vai trò — phân nhóm Wiki
Hồ sơ chưa được gắn truyền thống trong danh mục mới. Dữ liệu nguồn vẫn được hiển thị đầy đủ theo các trường hiện có.
Nguồn & đối chiếu
Nội dung văn bản được giữ theo nguồn, chỉ loại mã thực thi, định dạng gây tràn và chuyển nội dung nhúng thành liên kết an toàn. Việc hiển thị đủ trường không đồng nghĩa mọi dữ kiện trong bài nguồn đã được thẩm định.