Từ Thủ đến Hữu – Ta trở thành điều mình nắm giữ thế nào?
Giải thích Thủ làm duyên cho Hữu theo SN 12.2 và MN 9; phân biệt ba loại Hữu với ví dụ chấp thủ danh phận, quan điểm và con đường đoạn diệt khổ.
Thuật ngữ, giáo lý, câu hỏi trong các nhóm và nghiên cứu về đạo Phật.
Giải thích Thủ làm duyên cho Hữu theo SN 12.2 và MN 9; phân biệt ba loại Hữu với ví dụ chấp thủ danh phận, quan điểm và con đường đoạn diệt khổ.
Một cảm thọ nhỏ có thể dẫn đến tham ái, chấp thủ và hý luận khiến khổ tăng trưởng; tìm hiểu SN 12.2 và MN 18 cùng cách thực hành chánh niệm.
MN 135 giải thích các khác biệt giữa con người qua nghiệp thiện, bất thiện; không đồng nhất mọi hoàn cảnh với nghiệp quá khứ.
Nghiệp có giải thích toàn bộ giàu nghèo, đẹp xấu và sức khỏe không? Đối chiếu MN 135, SN 36.21, MN 136: nghiệp quan trọng nhưng không phải nguyên nhân duy nhất.
MN 136 chỉ ra vì sao nghiệp và quả nghiệp không thể giải thích bằng công thức một hành động một kết quả; bốn trường hợp tái sinh, hiểu lầm thường gặp và thực hành đúng.
MN 136 xác nhận người làm ác vẫn có thể tái sinh tốt do thiện nghiệp khác hoặc chánh kiến, nhưng bất thiện nghiệp không vì thế mà mất quả.
MN 136 nêu trường hợp người làm thiện vẫn có thể tái sinh bất hạnh do các nghiệp khác hoặc tà kiến, nhưng thiện nghiệp không vì thế mất quả.
Không thể suy ra nghiệp quá khứ của người khác từ một biến cố; tìm hiểu MN 136, AN 4.77, SN 36.21 và cách ứng xử từ bi.
Theo Kinh Sīvaka (SN 36.21), Đức Phật bác bỏ quan điểm mọi cảm thọ đều do nghiệp quá khứ; kinh nêu tám nhóm nguyên nhân, bao gồm cả quả nghiệp.
SN 36.21 bác bỏ quan điểm mọi cảm thọ đều do nghiệp quá khứ. Bài giải thích nhiều nguyên nhân gây đau, ý nghĩa nghiệp và cách ứng xử từ bi khi mắc bệnh.
Kinh Hạt Muối (AN 3.99/3.100/3.101) giải thích vì sao cùng loại nghiệp bất thiện nhỏ có thể cho quả khác nhau tùy sự tu tập thân, giới, tâm, tuệ; không có chuyện lấy thiện nghiệp xóa tội.
Ví dụ nắm muối trong chén nước và sông Hằng dạy rằng quả của nghiệp bất thiện nhỏ tùy thuộc điều kiện tu dưỡng thân, giới, tâm, trí tuệ; nghiệp không phải định mệnh cứng nhắc.
Tu dưỡng giới, tâm và trí tuệ có thể ảnh hưởng cách nghiệp được kinh nghiệm, nhưng không xóa tự động nghiệp cũ hay miễn trách nhiệm.
Kinh Nibbedhika (AN 6.63) xem tác ý (cetanā) là nghiệp: hành động có chủ tâm qua thân, lời, ý; cần hiểu trong bối cảnh duyên sinh, quả nghiệp và Bát Thánh đạo.
Tác ý là trọng tâm của nghiệp có chủ ý, nhưng nhân quả và duyên khởi rộng hơn nghiệp; không nên quy mọi hiện tượng cho nghiệp cũ.
Nghiệp (kamma) là hành động có tác ý, còn vipāka là quả nghiệp chín khi đủ duyên; không thể đồng nhất nhân với quả hay hiểu nghiệp như thưởng phạt tức thì.
Bốn loại nghiệp trong MN 57 và AN 4.232–4.235: nghiệp đen, trắng, pha trộn và con đường Bát Thánh đạo hướng đến đoạn tận nghiệp.
Loại nghiệp thứ tư trong MN 57 hướng đến đoạn tận nghiệp; AN 4.235 liên hệ loại này với Bát Thánh đạo, không phải xóa sạch nghiệp quá khứ.
Tu tập không chỉ tích lũy nghiệp thiện mà còn hướng đến đoạn trừ vô minh, tham ái và chấp thủ bằng Bát Thánh đạo.
Thiện nghiệp là nền tảng đạo đức của tu tập; Bát Thánh đạo và trí tuệ giúp đoạn trừ vô minh, tham ái, chấp thủ dẫn đến tái sinh.
Tin nghiệp đúng là nhận trách nhiệm đối với hành động có tác ý, không quy mọi biến cố cho nghiệp quá khứ hay phủ nhận các nhân duyên hiện tại.
Tin nghiệp đúng là nhận trách nhiệm với hành động có tác ý, không quy mọi biến cố cho nghiệp quá khứ hay số phận bất biến.
Không nên dùng nghiệp để quy kết nguyên nhân tai họa của người khác; học nghiệp là để chịu trách nhiệm với hành động và giúp người bằng lòng bi.
Nghiệp không thay thế nguyên nhân tự nhiên và xã hội; hiểu đúng nghiệp giúp sống có trách nhiệm, tìm nguyên nhân thực tế và cứu giúp người gặp khổ.
Thuật ngữ được tra từ các trang giáo lý đã xuất bản. Nhãn truyền thống theo phân loại từng bài; câu hỏi đang hoàn thiện có ghi chú riêng.
Mở trang tra cứu để lọc theo nhóm và duyệt toàn bộ kết quả.