Thắng Ma trước hết là không còn bị tham ái và vô minh điều khiển
Thắng Ma trong thực hành là nhận diện và giảm sự chi phối của tham ái, vô minh qua giới, định, tuệ; không đồng nghĩa đánh bại kẻ thù bằng bạo lực.
Thuật ngữ, giáo lý, câu hỏi trong các nhóm và nghiên cứu về đạo Phật.
Thắng Ma trong thực hành là nhận diện và giảm sự chi phối của tham ái, vô minh qua giới, định, tuệ; không đồng nghĩa đánh bại kẻ thù bằng bạo lực.
Phân biệt Māra (Ma Vương) trong kinh với cách gọi ma chướng trong văn hóa Phật giáo; hiểu sự mở rộng nghĩa và tránh quy mọi khó khăn cho nguyên nhân siêu nhiên.
Kinh Khemaka (SN 22.89) phân biệt việc không còn chấp năm uẩn là tự ngã với dấu vết ngã mạn “tôi là” chưa đoạn tận.
Thân kiến là chấp năm uẩn làm tự ngã; ngã mạn 'Ta là' là dấu vết tự quy chiếu vi tế, theo Theravāda được đoạn tận muộn hơn.
Kinh Khemaka SN 22.89 phân biệt thân kiến về năm uẩn với ngã mạn vi tế ‘tôi là’ còn tồn dư; tuệ quán sinh diệt giúp đoạn trừ chấp thủ.
Kinh Yamaka (SN 22.85) bác bỏ quan điểm A-la-hán sau khi chết bị tiêu diệt, nhưng không khẳng định một bản ngã trường tồn; trọng tâm là vô ngã và đoạn tận khổ.
Sāriputta giúp Yamaka bỏ đoạn kiến bằng cách quán năm uẩn vô thường, vô ngã, không giả định một tự ngã bị tiêu diệt sau khi A-la-hán qua đời.
Phân biệt Như Lai theo quy ước với một tự ngã cố định không thể tìm thấy trong năm uẩn, dựa trên kinh Yamaka SN 22.85.
Câu hỏi Như Lai đi đâu sau khi chết dễ giả định có một tự ngã bất biến. Kinh Yamaka và Aggivacchagotta hướng tới vô ngã, duyên khởi và giới hạn của bốn mệnh đề siêu hình.
Kinh Anurādha (SN 22.86) giải thích vì sao bốn mệnh đề về Như Lai sau khi chết đều không thích hợp khi xuất phát từ quan niệm về tự ngã.
Kinh Moliya Phagguna SN 12.12 chuyển câu hỏi “Ai xúc?” sang khảo sát duyên sinh của xúc, tránh giả định một tự ngã độc lập.
Giải thích vì sao duyên khởi chuyển trọng tâm từ “Ai cảm thọ?” sang “Do điều kiện nào cảm thọ sinh?”, và cách vận dụng để giảm chấp thủ.
Kinh Moliya Phagguna chuyển câu hỏi từ ai sở hữu xúc, thọ, ái sang những điều kiện làm chúng sinh khởi; qua đó làm rõ duyên khởi và vô ngã.
Trong MN 38, Đức Phật bác quan điểm của Sāti rằng cùng một thức bất biến luân chuyển qua các đời; thức sinh khởi tùy duyên và nhân quả không đòi hỏi một linh hồn thường còn.
Trong MN 38, Đức Phật bác ý tưởng một thức duy nhất bất biến luân chuyển qua các đời, vì thức phát sinh tùy duyên và được gọi tên theo duyên sinh khởi.
Đại kinh Đoạn tận ái (MN 38) giải thích thức do duyên sinh, không phải một thực thể bất biến; sáu thức được gọi tên theo căn và cảnh.
Thức phát sinh tùy điều kiện, không phải một tự ngã bất biến đứng sau mọi kinh nghiệm; tìm hiểu qua MN 38 và phép quán năm uẩn.
Kinh Potthapāda (DN 9) giải thích sự biến đổi của tri giác trong tu tập thiền; phân biệt tưởng, thức và định, tránh hiểu nhầm về một ý thức bất biến.
Kinh Kevaddha (DN 11) phân biệt ba loại thần thông và đề cao thần thông giáo hóa, hướng người học đến giới, định, tuệ thay vì chạy theo biểu diễn phép lạ.
Kinh Kevaddha (DN 11) đề cao thần thông giáo hóa hơn biểu diễn năng lực kỳ lạ: niềm tin Phật học cần dựa vào hiểu biết, đạo đức và thực hành giảm khổ.
Theo kinh Kevaddha (DN 11), thần thông giáo hóa là khả năng chỉ dẫn tu tập, từ bỏ bất thiện và phát triển thiện pháp; được đề cao hơn việc gây kinh ngạc bằng phép lạ.
DN 11 kể chuyện tìm nơi bốn đại chấm dứt để chỉ ra giới hạn của câu hỏi về địa điểm; Đức Phật hướng người học đến việc hiểu điều kiện của kinh nghiệm và sự chấm dứt chấp thủ.
Theo DN 11, Đại Phạm thiên không biết đáp án cho câu hỏi về bốn đại; địa vị cao không đồng nghĩa với toàn tri hay trí tuệ giải thoát.
DN 11 cho thấy Đại Phạm thiên không trả lời được câu hỏi về bốn đại; địa vị và danh xưng không bảo đảm tri thức toàn tri.
Thuật ngữ được tra từ các trang giáo lý đã xuất bản. Nhãn truyền thống theo phân loại từng bài; câu hỏi đang hoàn thiện có ghi chú riêng.
Mở trang tra cứu để lọc theo nhóm và duyệt toàn bộ kết quả.