Hạnh phúc của lòng từ
Hạnh phúc của lòng từ là sự an ổn khi tâm mong mình và người được an lành, không nuôi thù hận, chiếm hữu; thực hành mettā theo Sn 1.8 và AN 11.16.
Thuật ngữ, giáo lý, câu hỏi trong các nhóm và nghiên cứu về đạo Phật.
Hạnh phúc của lòng từ là sự an ổn khi tâm mong mình và người được an lành, không nuôi thù hận, chiếm hữu; thực hành mettā theo Sn 1.8 và AN 11.16.
Hỷ (muditā) là vui trước hạnh phúc và thành tựu thiện lành của người khác, khác niềm vui khi bản thân nhận lợi ích. Phân biệt qua ví dụ và thực hành.
Tùy hỷ là niềm vui chân thành trước thành công thiện lành của người khác, không cần mình được lợi; cách vượt ganh tị và thực hành tâm hỷ.
Hạnh phúc của thiền định là sự an vui do tâm được rèn luyện, lắng dịu triền cái; phân biệt hỷ, lạc, chánh định và Niết-bàn.
Hỷ lạc do thiền định vẫn vô thường vì nương duyên sinh; định trợ giúp tuệ quán nhưng không đồng nghĩa với Niết-bàn.
Hạnh phúc ly dục là sự an vui khi tâm bớt lệ thuộc khoái lạc giác quan; phân biệt ly dục với ép xác và hướng dẫn thực hành cho cư sĩ.
Buông bỏ giúp nhẹ lòng vì giảm sự chấp thủ và đòi hỏi kiểm soát; vẫn sống có trách nhiệm, thương yêu và nỗ lực đúng mức.
An lạc khác khoái lạc ở nguồn gốc và mức độ lệ thuộc: cảm giác dễ chịu từ giác quan vẫn vô thường; an ổn được vun bồi bằng giới, định và trí tuệ.
Bình an không đồng nhất với lạc thọ: hiểu ba loại cảm thọ và sự không chấp thủ qua SN 36.6, MN 10, ví dụ ứng dụng.
Xả không đơn thuần là không vui không buồn: phân biệt cảm thọ trung tính, tâm xả quân bình và thái độ thờ ơ trong Phật giáo nguyên thủy.
Niết-bàn được gọi là lạc tối thượng vì giải thoát khỏi tham ái, chấp thủ và khổ, không phải một cảm giác khoái lạc kéo dài vô hạn.
Niết-bàn là an lạc tối thượng do đoạn tận khổ và tham ái, không phải một cảm thọ khoái lạc vĩnh viễn; giải thích theo AN 9.34 và Ud 8.3.
Dục lạc dựa vào đối tượng giác quan; ly dục lạc phát sinh khi tâm giảm tham cầu, nuôi dưỡng giới, định và trí tuệ.
Hạnh phúc không đòi thế giới phải nghe lời mình: phân biệt nỗ lực thiện lành với tham ái, chấp thủ và thực hành tâm xả đúng nghĩa.
Thấy Khổ đế không phải bi quan: hiểu vô thường, giảm chấp thủ và nuôi dưỡng hạnh phúc thiện lành.
Phật giáo thừa nhận niềm vui tại gia và thiền lạc, đồng thời khuyên chọn hạnh phúc không gây hại, ít chấp thủ và nâng đỡ giải thoát.
Thiện hay bất thiện trước hết liên quan tác ý (cetanā) và ba căn thiện/bất thiện; cần xét cả hành động qua thân, khẩu, ý và nguy cơ gây hại.
Tác ý thiện quan trọng nhưng phải xét cả căn tâm, phương tiện, khả năng gây tổn hại và phản tỉnh hậu quả theo AN 6.63, MN 9, MN 61.
Kết quả tốt không tự động biện minh cho phương tiện bất thiện; hãy xét tác ý, giới hạnh, tổn hại và trách nhiệm theo AN 6.63, MN 61.
Tác ý quyết định phẩm chất nghiệp nhưng hậu quả vẫn quan trọng để nhìn nhận tác hại, nhận lỗi và điều chỉnh hành động theo AN 6.63 và MN 61.
Một hành động có thể có nhiều động cơ trong suốt tiến trình: thiện ý xen ham danh, sợ hãi hoặc vị kỷ; cần phân biệt cách nói đời thường với sát-na tâm Vi Diệu Pháp.
Cho tiền để được khen có thể đem lại lợi ích thật, nhưng ham danh là động cơ cần nhận diện và chuyển hóa; xét cả tác ý, phương tiện và hậu quả.
Nói thật không tự động là Chánh ngữ: cần xét tác ý, ích lợi, thời điểm và cách diễn đạt, phân biệt góp ý chân thành với cố ý gây đau.
Không nói dối là giới căn bản; khi cứu người cần vừa ngăn nguy hại vừa tìm cách không nói sai, xét tác ý, phương tiện và hậu quả.
Thuật ngữ được tra từ các trang giáo lý đã xuất bản. Nhãn truyền thống theo phân loại từng bài; câu hỏi đang hoàn thiện có ghi chú riêng.
Mở trang tra cứu để lọc theo nhóm và duyệt toàn bộ kết quả.