Đại Kinh Ví Dụ Lõi Cây – Tu tập rốt cuộc để làm gì?
MN 29 dùng ví dụ lõi cây để chỉ rõ: lợi dưỡng, giới, định và tri kiến đều không phải đích cuối; mục tiêu phạm hạnh là tâm giải thoát không dao động.
Thuật ngữ, giáo lý, câu hỏi trong các nhóm và nghiên cứu về đạo Phật.
MN 29 dùng ví dụ lõi cây để chỉ rõ: lợi dưỡng, giới, định và tri kiến đều không phải đích cuối; mục tiêu phạm hạnh là tâm giải thoát không dao động.
MN 29 ví lợi dưỡng, giới, định, tri kiến như các lớp của cây; các thành tựu đáng quý nhưng không phải cứu cánh. Lõi cây là tâm giải thoát không dao động.
Kinh Kālāma (AN 3.65) không dạy phủ nhận mọi niềm tin: hãy xét thiện–bất thiện, ý kiến người trí và hậu quả khi thực hành.
Kinh Kālāma AN 3.65 chỉ rõ cách tự kiểm chứng: xem thiện hay bất thiện, đáng trách hay không, người trí đánh giá ra sao và việc thực hành mang lại lợi ích hay tổn hại.
MN 131 không dạy xa lánh mọi người: sống tỉnh thức là không bị quá khứ, tương lai và sự chấp thủ năm uẩn trong hiện tại trói buộc.
MN 131 không dạy bỏ quá khứ, tương lai hay sống buông thả trong hiện tại: hãy học hỏi, dự tính có trách nhiệm và quán năm uẩn không chấp là tự ngã.
MN 7 ví tâm nhiễm ô như vải bẩn: đức tin cần đi với nhận diện và đoạn trừ cấu uế, sống thiện và tu tập để tâm thanh tịnh.
MN 7 nêu mười sáu cấu uế của tâm, từ tham lam, ác ý, giận dữ đến gian trá, mạn và phóng dật; cần nhận biết và từ bỏ chúng.
MN 2 dạy bảy phương thức đoạn trừ lậu hoặc tùy hoàn cảnh: thấy biết, phòng hộ, thọ dụng, kham nhẫn, tránh né, trừ diệt và tu tập.
MN 2 dạy bảy cách đoạn lậu hoặc: thấy biết, phòng hộ, thọ dụng, kham nhẫn, tránh né, trừ diệt và tu tập; chọn đúng phương pháp nhờ như lý tác ý.
MN 9: Tôn giả Sāriputta giải thích chánh kiến qua thiện–bất thiện, bốn thức ăn, Tứ Thánh đế và duyên khởi, hướng tới chấm dứt khổ.
MN 9 do Tôn giả Sāriputta giảng, nối hiểu biết thiện–bất thiện, bốn thức ăn, Tứ Thánh đế, duyên khởi và lậu hoặc thành các cách nhận diện Chánh kiến và con đường đoạn khổ.
MN 117 cho thấy Bát Chánh Đạo là hệ thống hỗ trợ nhau: Chánh kiến dẫn đầu, Chánh định được nâng đỡ bởi bảy chi, Chánh trí và Chánh giải thoát thuộc bậc A-la-hán.
Chánh kiến dẫn đầu Bát Chánh Đạo bằng việc phân biệt đúng–sai, định hướng ý định, lời nói, hành vi, tinh tấn, chánh niệm và chánh định theo MN 117.
SN 22.22 giải thích năm thủ uẩn là gánh nặng, tham ái là nhận lấy gánh và đoạn tận tham ái là đặt gánh xuống; không đồng nghĩa phủ nhận thân tâm hay trách nhiệm.
Kinh Gánh Nặng (SN 22.22) dùng chữ “người mang gánh” nhưng không vì thế xác lập một tự ngã thường hằng; đối chiếu SN 5.10 và các cách giải thích về puggala.
SN 22.95 ví sắc như khối bọt và thọ như bong bóng: các uẩn hiện hữu theo duyên nhưng không có lõi thường hằng để chấp thủ là Ta.
SN 22.95 ví Tưởng như ảo ảnh, Hành như thân chuối, Thức như trò huyễn thuật để quán tính không có lõi tự ngã bền chắc của các uẩn.
Ba mệnh đề không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi trong SN 22.59 hướng dẫn quán năm uẩn để giảm chấp thủ và phát triển trí tuệ vô ngã.
Ba bước thực hành quán vô ngã: nhận diện năm uẩn, thấy vô thường và không hoàn toàn làm chủ, rồi không chấp các uẩn là tôi hay của tôi.
Năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức; năm thủ uẩn là chính năm nhóm ấy xét về mặt có lậu hoặc và có thể bị chấp thủ theo SN 22.48.
Vấn đề nằm ở Ngũ uẩn hay ở sự chấp thủ Ngũ uẩn? Trả lời ngắn gọn Không nên đối lập giản đơn “ngũ uẩn là vấn đề” với “chỉ có sự chấp thủ mới là vấn đề”. Trong giáo lý Tứ Thánh đế, Đức Phật nêu năm thủ uẩn là khổ; tham ái và chấp thủ là những điều kiện cần nhận diện và đoạn trừ. Năm uẩn tự chúng là các nhóm hiện tượng th…
SN 22.1 dạy rằng dù thân bệnh, vẫn có thể tu tập để tâm không khổ thêm vì chấp thủ năm uẩn là tôi và của tôi.
Thực hành SN 22.1: chăm sóc thân bệnh, nhận biết cảm thọ, quán năm uẩn vô ngã để giảm khổ tâm do chấp thủ; không bỏ điều trị.
Thuật ngữ được tra từ các trang giáo lý đã xuất bản. Nhãn truyền thống theo phân loại từng bài; câu hỏi đang hoàn thiện có ghi chú riêng.
Mở trang tra cứu để lọc theo nhóm và duyệt toàn bộ kết quả.