Vajirā đối đáp Māra – Không tìm thấy một “chúng sinh” ngoài các uẩn
Vajirā nhận diện tiền đề sai trong câu hỏi của Māra: “chúng sinh” là tên gọi quy ước dựa trên các uẩn, không phải tự ngã bất biến.
Thuật ngữ, giáo lý, câu hỏi trong các nhóm và nghiên cứu về đạo Phật.
Vajirā nhận diện tiền đề sai trong câu hỏi của Māra: “chúng sinh” là tên gọi quy ước dựa trên các uẩn, không phải tự ngã bất biến.
Therīgāthā lưu giữ những bài kệ được gắn với các Trưởng lão Ni, nói về khổ đau, tu tập và giải thoát; cần phân biệt lời kệ với chú giải và lịch sử tác giả.
Một người mẹ mất con trải nghiệm Khổ qua mất mát thật, còn triết gia có thể phân tích Khổ qua khái niệm; Phật pháp kết hợp trí tuệ, thực hành và lòng bi mẫn.
Qua Therīgāthā, đặc biệt kệ Ambapālī, tuổi già giúp quán vô thường, giảm chấp thủ sắc đẹp và sống tỉnh thức, trân trọng phẩm giá con người.
Lời kệ Ambapālī và truyền thống về Khemā cho thấy sắc đẹp là vô thường; trí tuệ giúp giảm chấp thủ mà vẫn tôn trọng và chăm sóc thân thể.
Qua Sumedhā và Isidāsī trong Trưởng lão Ni kệ, tìm hiểu tình yêu, hôn nhân, nghiệp và ý nghĩa xuất ly không đồng nghĩa phủ nhận đời sống gia đình.
AN 8.51 khẳng định phụ nữ xuất gia có thể chứng bốn Thánh quả, kể cả A-la-hán; đối chiếu SN 5.2 và Trưởng lão Ni kệ.
Những nữ đệ tử như Somā, Khemā, Dhammadinnā và các Trưởng lão Ni cho thấy giải thoát không do giới tính hay địa vị xã hội quyết định.
Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc), từ thương gia Sudatta đến đại thí chủ Kỳ Viên; giá trị bố thí gắn với đạo đức và trí tuệ, không chỉ tiền bạc.
Kỳ Viên (Jetavana) được cư sĩ Cấp Cô Độc mua từ Thái tử Jeta, kiến tạo thành trú xứ của Đức Phật và Tăng đoàn tại Sāvatthī; câu chuyện trải vàng được ghi trong Luật tạng Pāli.
Có nhiều tài sản không nhất thiết bị tài sản trói buộc. Qua Anāthapiṇḍika và AN 4.62, AN 5.41, tìm hiểu cách kiếm, sử dụng, bố thí và buông chấp.
Trong AN 9.20, Đức Phật dạy Anāthapiṇḍika rằng giá trị bố thí không chỉ ở tài sản mà còn ở tâm chú ý, kính trọng và cách giúp người đúng đắn.
MN 143 thuật lời Sāriputta dạy Anāthapiṇḍika buông chấp trước lúc mất và lời thỉnh cầu mở rộng giáo pháp sâu cho cư sĩ.
Citta gia chủ là nam cư sĩ được Đức Phật tán dương về thuyết Pháp. Qua SN 41.1, ông chỉ rõ tham ái mới là sợi dây trói buộc giữa căn và trần.
Những cuộc đối thoại của cư sĩ Citta trong SN 41 phân tích kiết sử, thân kiến, các kiểu tâm giải thoát và sự khác nhau giữa niềm tin với kinh nghiệm thiền.
Hatthaka xứ Āḷavī thực hành bốn nhiếp pháp: bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự để nuôi dưỡng cộng đồng bằng sự tử tế và tôn trọng.
Hatthaka xứ Āḷavī dạy người lãnh đạo biết chia sẻ, ái ngữ, lợi hành, công bằng; đồng thời giữ giới, trí tuệ và khiêm tốn theo AN 8.23–24.
Hai cư sĩ Ugga ở Vesālī và Hatthigāma được tán dương về lòng tin, giới hạnh, bố thí, khiêm tốn và tu tập sâu sắc trong AN 8.21–8.22.
AN 4.55 kể về vợ chồng Nakulapitā và Nakulamātā mong gặp nhau nhiều đời; Đức Phật dạy cùng vun bồi lòng tin, giới hạnh, bố thí và trí tuệ.
Đức Phật dạy vợ chồng muốn tương hợp nên cùng vun bồi lòng tin, giới hạnh, rộng lượng và trí tuệ (AN 4.55).
DN 31 giải thích sáu phương của Sigālaka như sáu mối quan hệ với trách nhiệm hai chiều: gia đình, thầy trò, hôn nhân, bạn bè, lao động và đời sống tâm linh.
Sigālaka lễ sáu phương theo lời cha. DN 31 tái định nghĩa nghi lễ thành tránh điều ác, chọn bạn lành và thực hiện trách nhiệm hai chiều trong sáu quan hệ đời sống.
Jīvaka hỏi Đức Phật về việc ăn thịt trong MN 55; giải thích ba điều kiện thấy, nghe, nghi con vật bị giết vì người nhận và tinh thần không sát sinh, tâm từ.
MN 55 không cho phép ăn mọi loại thịt: ba điều kiện liên quan đến giết riêng để cúng dường; Luật tạng còn cấm mười loại thịt.
Thuật ngữ được tra từ các trang giáo lý đã xuất bản. Nhãn truyền thống theo phân loại từng bài; câu hỏi đang hoàn thiện có ghi chú riêng.
Mở trang tra cứu để lọc theo nhóm và duyệt toàn bộ kết quả.