Mất người thân – Hiểu Vô thường có giúp hết đau buồn không?
Báo lỗi nội dung
Mất người thân – Hiểu Vô thường có giúp hết đau buồn không?
Mất người thân – Hiểu Vô thường có giúp hết đau buồn không?
Khi một người thân qua đời, người học Phật thường được nghe:
“MỌI THỨ ĐỀU VÔ THƯỜNG.”
“CÓ SINH THÌ CÓ DIỆT.”
“ĐỪNG CHẤP.”
Những lời ấy:
không sai về giáo lý.
Nhưng nếu được nói không đúng lúc, chúng có thể trở thành:
NHỮNG CÂU NÓI RẤT ĐÚNG
NHƯNG RẤT KHÓ NGHE.
Bởi người vừa mất:
cha;
mẹ;
vợ;
chồng;
con;
anh chị em;
hay một người mình vô cùng yêu thương
không chỉ đang gặp:
MỘT KHÁI NIỆM VỀ VÔ THƯỜNG.
Họ đang gặp:
MỘT CHỖ NGỒI BỖNG TRỐNG.
MỘT GIỌNG NÓI KHÔNG CÒN NGHE THẤY.
MỘT NGƯỜI KHÔNG CÒN TRỞ VỀ.
Vậy hiểu Vô thường:
CÓ LÀM HẾT ĐAU BUỒN KHÔNG?
Câu trả lời cần rất cẩn trọng:
KHÔNG NHẤT THIẾT.
Nhưng:
HIỂU VÀ THẤY VÔ THƯỜNG
CÓ THỂ THAY ĐỔI
CÁCH TA ĐI QUA ĐAU BUỒN.
Mục đích không nhất thiết là:
KHÔNG CÒN CẢM XÚC.
Mà là:
ĐAU MÀ KHÔNG BỊ ĐAU
NHẤN CHÌM HOÀN TOÀN.
NHỚ MÀ KHÔNG BIẾN NỖI NHỚ
THÀNH SỰ PHỦ NHẬN THỰC TẠI.
YÊU MÀ DẦN HỌC ĐƯỢC
CÁCH KHÔNG ĐÒI NGƯỜI ĐÃ MẤT
PHẢI QUAY TRỞ LẠI.
1. “Biết Vô thường” và “thấy Vô thường” không hoàn toàn giống nhau
Ta có thể biết từ rất lâu:
“AI RỒI CŨNG CHẾT.”
Nhưng khi cha mẹ còn khỏe:
câu ấy có thể chỉ là kiến thức.
Khi một người mình yêu chết:
VÔ THƯỜNG
không còn nằm:
trên trang sách.
Nó xuất hiện:
NGAY TRƯỚC MẶT.
Đây là khoảng cách giữa:
BIẾT MỘT MỆNH ĐỀ
và:
TRỰC TIẾP GẶP THỰC TẠI
MÀ MỆNH ĐỀ ẤY CHỈ RA.
2. Vì vậy biết “mọi người đều chết” không làm ta miễn nhiễm với đau buồn
Ta biết:
cha mẹ sẽ già.
Nhưng khi cha mẹ già:
vẫn đau lòng.
Ta biết:
người mình yêu không sống mãi.
Nhưng khi họ mất:
vẫn nhớ.
Ta biết:
thân này vô thường.
Nhưng khi nhận chẩn đoán bệnh:
vẫn sợ.
Điều này không nhất thiết chứng minh:
“PHẬT PHÁP KHÔNG CÓ TÁC DỤNG.”
Nó cho thấy:
KIẾN THỨC
CHƯA ĐỒNG NGHĨA
VỚI GIẢI THOÁT.
3. Đức Phật không dạy rằng mất người thân là chuyện nhỏ
Trong kinh điển sớm, một công thức xuất hiện rất nhiều trong việc mô tả dukkha:
PIYEHI VIPPAYOGO DUKKHO
tức:
CHIA LÌA VỚI ĐIỀU MÌNH YÊU
LÀ KHỔ.
Đây là điều đáng chú ý.
Đức Phật không nói:
“NGƯỜI CÓ TRÍ SẼ THẤY
MẤT NGƯỜI THÂN KHÔNG CÓ GÌ.”
Ngược lại:
SỰ CHIA LÌA VỚI NGƯỜI MÌNH YÊU
được trực tiếp đặt trong:
KINH NGHIỆM KHỔ.
4. Vì vậy đau buồn không cần bị biến thành tội lỗi
Một người vừa mất mẹ có thể:
khóc.
Một người mất chồng có thể:
nhớ.
Một người mất con có thể:
đau rất sâu.
Không nên lập tức nói:
“DO CHẤP ĐÓ.”
Về mặt phân tích Phật học, ái và thủ có liên hệ với khổ.
Nhưng dùng giáo lý như:
MỘT LỜI KẾT TỘI
đối với người đang tang chế có thể:
thiếu từ bi.
5. Có một khác biệt giữa nhận diện nguyên nhân khổ và trách móc người đang khổ
Phật pháp có thể nói:
ÁI → THỦ → KHỔ.
Nhưng điều đó không có nghĩa:
“ANH ĐANG KHỔ,
VẬY ANH TU KÉM.”
Đây là hai chuyện khác nhau.
Bác sĩ có thể biết:
cơ chế tạo ra đau.
Nhưng bác sĩ không cần:
trách bệnh nhân vì đang đau.
Tương tự:
TRÍ TUỆ
cần đi cùng:
TỪ BI.
6. Kinh điển có những câu chuyện mất mát rất mạnh
Một trường hợp nổi tiếng là:
KISĀ GOTAMĪ.
Theo truyền thống kinh điển Pāli, bà mất đứa con nhỏ và đau đớn đến mức tìm cách cứu sống con.
Bà tìm đến Đức Phật.
Câu chuyện nổi tiếng kể rằng Đức Phật bảo bà tìm:
hạt cải
từ một gia đình:
CHƯA TỪNG CÓ NGƯỜI CHẾT.
Bà đi từ nhà này sang nhà khác.
Hạt cải:
không khó tìm.
Nhưng ngôi nhà:
CHƯA TỪNG CÓ NGƯỜI CHẾT
thì:
không tìm được.
7. Điều quan trọng trong câu chuyện không phải “hãy ngừng khóc”
Kisā Gotamī dần nhận ra:
CÁI CHẾT KHÔNG CHỈ
XẢY RA VỚI CON MÌNH.
Mỗi gia đình:
đều có câu chuyện mất mát.
Đây là một sự chuyển đổi rất sâu:
“TẠI SAO CHỈ MÌNH TÔI?”
↓
“ĐÂY LÀ MỘT PHẦN
CỦA THÂN PHẬN HỮU TÌNH.”
Nỗi đau cá nhân:
không bị phủ nhận.
Nhưng nó được đặt vào:
MỘT THỰC TẠI RỘNG HƠN.
8. Đây là một chức năng quan trọng của quán Vô thường
Khi mất người thân, tâm rất dễ nghĩ:
“ĐIỀU NÀY KHÔNG NÊN XẢY RA.”
Nhưng Vô thường nhắc:
SINH
KHÔNG THỂ TÁCH KHỎI
GIÀ – BỆNH – CHẾT.
Điều đó không làm ta:
HẾT NHỚ.
Nhưng có thể dần làm giảm:
SỰ CHỐNG CỰ
VỚI MỘT ĐIỀU
ĐÃ KHÔNG THỂ THAY ĐỔI.
9. Chấp nhận không có nghĩa đồng ý rằng cái chết là “tốt”
Đây là phân biệt quan trọng.
CHẤP NHẬN:
“Điều này đã xảy ra.”
không có nghĩa:
“TÔI THÍCH ĐIỀU NÀY.”
Không có nghĩa:
“TÔI KHÔNG BUỒN.”
Không có nghĩa:
“CÁI CHẾT NÀY LÀ TỐT.”
Chấp nhận chỉ bắt đầu bằng:
KHÔNG TIẾP TỤC ĐÒI
QUÁ KHỨ PHẢI KHÁC ĐI.
10. Đây có thể là một trong những phần đau nhất của tang chế
Tâm liên tục quay lại:
“GIÁ NHƯ…”
Giá như hôm đó tôi đưa họ đi viện sớm hơn.
Giá như tôi gọi điện.
Giá như tôi không nói câu đó.
Giá như tôi ở bên họ.
Giá như bác sĩ phát hiện sớm hơn.
Một số “giá như” có thể giúp:
học kinh nghiệm.
Nhưng nếu sự kiện đã không thể thay đổi, tâm có thể sống:
HÀNG THÁNG
HOẶC HÀNG NĂM
trong:
MỘT QUÁ KHỨ TƯỞNG TƯỢNG.
11. Vô thường đưa ta trở lại sự thật
Sự thật có thể rất đau:
NGƯỜI ẤY ĐÃ MẤT.
Không phải:
“HỌ KHÔNG QUAN TRỌNG.”
Mà chính vì:
HỌ RẤT QUAN TRỌNG
nên:
TA ĐANG ĐAU.
Hai điều ấy có thể cùng tồn tại:
TÌNH YÊU LÀ THẬT TRONG KINH NGHIỆM.
Và:
SỰ CHIA LÌA CŨNG LÀ THẬT.
12. Đau buồn có phải chỉ là chấp thủ không?
Không nên giản lược như vậy.
Một kinh nghiệm tang chế có thể bao gồm:
TÌNH THƯƠNG.
KÝ ỨC.
CÔ ĐƠN.
THAY ĐỔI THÓI QUEN.
MẤT ĐI MỘT VAI TRÒ.
SỢ HÃI.
ÁI.
THỦ.
TIẾC NUỐI.
PHẢN ỨNG SINH LÝ.
Tất cả có thể:
ĐAN XEN.
Do đó:
“BUỒN = CHẤP”
là công thức:
QUÁ THÔ.
13. Nhưng Phật giáo vẫn đặt câu hỏi về ái và thủ
Không phải để:
kết tội người đang đau.
Mà để tìm:
PHẦN KHỔ
CÓ THỂ ĐƯỢC BUÔNG.
Ví dụ:
“TÔI NHỚ MẸ.”
khác với:
“MẸ KHÔNG ĐƯỢC PHÉP CHẾT.”
Câu đầu:
là nỗi nhớ.
Câu sau:
đòi một thân vô thường phải không vô thường.
14. Đây là nơi khổ trở nên rất sâu
Ta không chỉ muốn:
NGƯỜI MÌNH YÊU ĐƯỢC HẠNH PHÚC.
Ta còn muốn:
HỌ PHẢI Ở ĐÂY.
Và sâu hơn:
HỌ PHẢI Ở ĐÂY
VỚI TÔI.
Đây là nơi:
TÌNH THƯƠNG
có thể đan với:
ÁI VÀ THỦ.
Tu tập không cần phá:
TÌNH THƯƠNG.
Nó dần tháo:
SỰ NẮM GIỮ.
15. Ta có thể vẫn yêu một người đã mất
Buông chấp không có nghĩa:
XÓA KÝ ỨC.
Không có nghĩa:
KHÔNG NHẮC ĐẾN HỌ.
Không có nghĩa:
VỨT HẾT ẢNH.
Không có nghĩa:
NGỪNG THƯƠNG.
Có thể:
NHỚ
mà không:
ĐÒI QUÁ KHỨ QUAY LẠI.
Có thể:
BIẾT ƠN
mà không:
PHỦ NHẬN CÁI CHẾT.
Có thể:
YÊU
mà dần:
BUÔNG SỰ SỞ HỮU.
16. Đây là sự chuyển đổi rất tinh tế
Từ:
“TÔI MUỐN NGƯỜI ẤY TRỞ LẠI.”
dần thành:
“TÔI BIẾT ƠN
VÌ ĐÃ TỪNG CÓ HỌ.”
Từ:
“TẠI SAO HỌ BỎ TÔI?”
dần thành:
“MỘT ĐỜI SỐNG HỮU HẠN
ĐÃ ĐI ĐẾN CHỖ CHẤM DỨT.”
Từ:
“TÔI KHÔNG THỂ SỐNG
NẾU KHÔNG CÓ HỌ.”
dần thành:
“TÔI SẼ MANG NHỮNG ĐIỀU TỐT ĐẸP
HỌ ĐÃ TRAO CHO TÔI
VÀO PHẦN ĐỜI CÒN LẠI.”
Đó không phải:
QUÊN.
Đó là:
TÌNH YÊU
ĐANG THAY ĐỔI HÌNH THỨC.
17. Hình ảnh hai mũi tên cũng rất hữu ích
Trong SN 36.6, Đức Phật dùng hình ảnh:
MŨI TÊN THỨ NHẤT
và:
MŨI TÊN THỨ HAI.
Áp dụng cẩn trọng vào tang chế:
MŨI TÊN THỨ NHẤT:
người mình yêu đã mất.
Đó là:
MỘT MẤT MÁT THẬT.
Mũi tên thứ hai có thể là:
“TÔI SẼ KHÔNG BAO GIỜ
CÓ THỂ SỐNG TIẾP.”
“CUỘC ĐỜI KHÔNG CÒN
BẤT CỨ Ý NGHĨA GÌ.”
“TÔI PHẢI TỰ TRỪNG PHẠT
VÌ ĐÃ KHÔNG CỨU ĐƯỢC HỌ.”
“TÔI KHÔNG ĐƯỢC PHÉP
CẢM THẤY VUI NỮA.”
Pháp hành không làm:
MŨI TÊN THỨ NHẤT
biến mất.
Nhưng có thể giúp ta:
KHÔNG BẮN THÊM
VÔ SỐ MŨI TÊN VÀO CHÍNH MÌNH.
18. Một mũi tên thứ hai rất phổ biến là cảm giác tội lỗi khi vui trở lại
Sau một thời gian, người đang tang chế có thể:
cười.
Rồi lập tức nghĩ:
“SAO MÌNH CÓ THỂ CƯỜI
KHI HỌ ĐÃ CHẾT?”
Hoặc:
“NẾU MÌNH HẾT BUỒN,
CÓ PHẢI MÌNH ĐÃ QUÊN HỌ?”
Không.
HẾT KHỔ HƠN
≠
YÊU ÍT HƠN.
Một người không cần:
ĐAU SUỐT ĐỜI
để chứng minh:
TÌNH YÊU LÀ THẬT.
19. Đây là một nhận thức rất quan trọng
Ta thường vô thức tạo phương trình:
ĐAU NHIỀU
=
YÊU NHIỀU.
Nhưng không nhất thiết.
Nếu mẹ đã mất:
sống tử tế hơn;
chăm sóc gia đình tốt hơn;
tiếp tục những điều tốt mẹ đã dạy;
có thể là một cách tưởng nhớ sâu sắc hơn:
TỰ HÀNH HẠ MÌNH SUỐT ĐỜI.
20. Quên và buông là hai chuyện khác nhau
QUÊN:
ký ức phai đi hoặc không còn được nhớ.
BUÔNG:
không tiếp tục nắm giữ một điều
theo cách gây khổ.
Ta có thể:
KHÔNG QUÊN
nhưng:
DẦN BUÔNG.
Đây là điều rất quan trọng.
Phật giáo không yêu cầu:
XÓA NGƯỜI ĐÃ MẤT
KHỎI TRÁI TIM.
21. Có thể khóc không?
Có.
Nước mắt:
KHÔNG TỰ ĐỘNG
LÀ DẤU HIỆU THẤT BẠI TÂM LINH.
Khóc có thể là:
phản ứng của đau buồn.
Vấn đề không phải:
“TÔI ĐÃ KHÓC BAO NHIÊU?”
Mà sâu hơn:
“TÂM ĐANG NẮM GIỮ
ĐIỀU GÌ TRONG NỖI ĐAU NÀY?”
22. Nhưng kinh điển cũng cảnh báo việc chìm mãi trong sầu bi
Một văn bản quan trọng là:
SALLA SUTTA – KINH MŨI TÊN, SUTTANIPĀTA 3.8.
Bài kinh nói rất trực diện về:
cái chết;
sự bất định của đời sống;
việc con người khóc than cho người đã chết;
nhưng khóc than không thể làm người chết sống lại.
Điểm này nghe có vẻ nghiêm khắc.
Nhưng ý nghĩa thực hành là:
SẦU KHỔ KHÔNG THỂ
ĐẢO NGƯỢC CÁI CHẾT.
Vì vậy cuối cùng ta phải học:
CÁCH SỐNG VỚI
MỘT ĐIỀU KHÔNG THỂ ĐẢO NGƯỢC.
23. Điều này không có nghĩa “đừng khóc”
Đúng hơn:
KHÓC
nhưng biết:
nước mắt không thể thay đổi quá khứ.
NHỚ
nhưng biết:
ký ức không thể giữ một thân đã tan hoại.
ĐAU
nhưng học:
không biến đau thành nơi ở vĩnh viễn.
24. Vô thường không chỉ áp dụng cho người đã mất
Điều này rất quan trọng.
NỖI BUỒN CŨNG VÔ THƯỜNG.
Có lúc:
rất mạnh.
Có lúc:
dịu xuống.
Có lúc:
một bài hát làm nó trở lại.
Có lúc:
cả ngày ta bình thường.
Rồi một bức ảnh:
khiến ta khóc.
Điều ấy không nhất thiết có nghĩa:
“TÔI ĐÃ QUAY LẠI VẠCH XUẤT PHÁT.”
Nó cho thấy:
CẢM THỌ VÀ KÝ ỨC
CŨNG SINH DIỆT THEO DUYÊN.
25. Tang chế không nhất thiết diễn ra theo đường thẳng
Không phải:
NGÀY 1: ĐAU 100%.
NGÀY 30: ĐAU 50%.
NGÀY 100: HẾT.
Con người:
không vận hành như vậy.
Có thể sau nhiều tháng:
một mùi hương;
một con đường;
một món ăn;
một ngày giỗ;
một giọng nói giống người ấy
làm nỗi buồn:
TRỞ LẠI RẤT MẠNH.
Pháp hành lúc ấy không phải:
“TÔI KHÔNG ĐƯỢC BUỒN NỮA.”
Mà:
“NỖI BUỒN ĐANG CÓ MẶT.”
26. Chánh niệm có thể làm gì?
Không nhất thiết:
LÀM NỖI BUỒN BIẾN MẤT.
Nó giúp:
NHẬN RA NỖI BUỒN
LÀ NỖI BUỒN.
Thay vì:
“TÔI LÀ MỘT CON NGƯỜI
ĐÃ BỊ PHÁ HỦY.”
có thể dần thấy:
“ĐANG CÓ MỘT LÀN SÓNG
ĐAU BUỒN RẤT MẠNH.”
Làn sóng ấy:
đến.
ở lại.
thay đổi.
rồi dịu xuống.
27. Điều này không phủ nhận người đã mất
Có người sợ rằng:
nhìn cảm xúc như một pháp sinh diệt
sẽ làm:
TÌNH YÊU TRỞ NÊN LẠNH.
Không.
Ta không nói:
“NGƯỜI ẤY KHÔNG QUAN TRỌNG.”
Ta chỉ nhận ra:
PHẢN ỨNG CỦA TÂM
CŨNG LÀ PHÁP HỮU VI.
Điều ấy giúp ta:
KHÔNG BỊ TOÀN BỘ
DÒNG CẢM XÚC NUỐT CHỬNG.
28. Quán Vô thường cũng thay đổi cách ta yêu người đang còn sống
Mất một người có thể làm ta nhận ra:
NHỮNG NGƯỜI CÒN Ở ĐÂY
CŨNG KHÔNG Ở ĐÂY MÃI.
Điều ấy có thể khiến ta:
gọi cho cha mẹ nhiều hơn.
bớt tranh cãi chuyện nhỏ.
nói lời cảm ơn.
xin lỗi sớm hơn.
dành thời gian cho con.
bớt nghĩ “để mai.”
Đây là một trong những mặt:
RẤT SỐNG ĐỘNG
CỦA QUÁN VÔ THƯỜNG.
29. Vô thường không dạy “đừng yêu vì sẽ mất”
Nếu hiểu:
“VÌ MỌI THỨ SẼ MẤT,
TỐT NHẤT ĐỪNG YÊU,”
ta có thể đang biến Vô thường thành:
CƠ CHẾ TỰ VỆ.
Một cách hiểu khác là:
“VÌ KHÔNG AI Ở MÃI,
HÃY YÊU KHI CÒN CÓ THỂ.”
Nhưng:
YÊU MÀ KHÔNG ĐÒI
NGƯỜI ẤY PHẢI Ở MÃI.
Đây là:
TRÂN TRỌNG MÀ KHÔNG CHIẾM HỮU.
30. Cái chết làm lộ ra ảo tưởng “còn nhiều thời gian”
Ta thường sống như thể:
“MAI TÍNH.”
Mai gọi cho mẹ.
Mai về thăm cha.
Mai xin lỗi.
Mai nói cảm ơn.
Mai dành thời gian cho con.
Nhưng:
VÔ THƯỜNG
không hứa:
“MAI.”
Do đó quán chết trong Phật giáo không nhất thiết nhằm:
làm con người sợ.
Nó có thể giúp:
SỐNG KHẨN THIẾT HƠN
VÀ TỬ TẾ HƠN.
31. Mất người thân cũng làm lộ ra ngã chấp
Ta có thể đau không chỉ vì:
“HỌ KHÔNG CÒN.”
Mà còn vì:
“TÔI KHÔNG CÒN LÀ
NGƯỜI TÔI TỪNG LÀ
KHI CÓ HỌ.”
Ví dụ:
mất vợ,
không chỉ mất:
một con người.
Ta có thể mất:
vai trò người chồng;
thói quen mỗi ngày;
kế hoạch tương lai;
người chia sẻ ký ức.
Do đó tang chế có thể làm:
CẢ CẤU TRÚC “TÔI”
rung chuyển.
32. Đây là nơi Vô ngã có thể được hiểu rất thực tế
Không cần nói:
“KHÔNG CÓ TÔI.”
Mà quan sát:
“Tôi” hiện tại được tạo bởi rất nhiều quan hệ và điều kiện.
Khi một điều kiện lớn mất đi:
cấu trúc đời sống thay đổi.
Ta đau.
Nhưng rồi:
NHỮNG DUYÊN MỚI
tiếp tục hình thành.
Ta không cần:
TRỞ LẠI ĐÚNG CON NGƯỜI CŨ.
Có thể học:
SỐNG TIẾP
NHƯ MỘT CON NGƯỜI ĐÃ ĐI QUA
MẤT MÁT NÀY.
33. “Sống tiếp” không phải phản bội người đã mất
Đây là điều rất nhiều người cần nghe.
CƯỜI TRỞ LẠI
≠
QUÊN.
YÊU NGƯỜI KHÁC
≠
PHẢN BỘI.
TIẾP TỤC CÔNG VIỆC
≠
KHÔNG THƯƠNG.
TÌM LẠI HẠNH PHÚC
≠
NGƯỜI ĐÃ MẤT KHÔNG QUAN TRỌNG.
Ta không cần giữ:
NỖI ĐAU
như một:
ĐÀI TƯỞNG NIỆM.
34. Có thể tưởng nhớ bằng cách sống
Một cách tưởng nhớ có thể là:
TIẾP TỤC ĐIỀU TỐT ĐẸP
NGƯỜI ẤY ĐÃ GIEO VÀO MÌNH.
Nếu cha từng:
giúp người,
ta tiếp tục:
giúp người.
Nếu mẹ từng:
dạy lòng tử tế,
ta sống:
tử tế.
Nếu người ấy từng:
yêu gia đình,
ta chăm sóc:
gia đình.
Khi ấy ký ức không chỉ nằm:
TRONG ẢNH.
Nó tiếp tục biểu hiện:
TRONG CÁCH TA SỐNG.
35. Hồi hướng công đức có thể có vai trò gì?
Trong các truyền thống Phật giáo, người sống thường:
bố thí;
làm thiện;
tụng kinh;
hành trì;
rồi:
HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC
ĐẾN NGƯỜI ĐÃ MẤT.
Điều này có:
nền tảng và cách giải thích khác nhau giữa các truyền thống.
Trong Theravāda, truyền thống:
PATTIDĀNA
chia sẻ/hồi hướng phước được phát triển rõ.
Một văn bản nổi tiếng liên quan là:
TIROKUḌḌA KANDAPĀṬHA.
Nhưng không nên hiểu:
HỒI HƯỚNG
như:
CHUYỂN MỘT SỐ ĐIỂM
TỪ TÀI KHOẢN CÔNG ĐỨC
CỦA NGƯỜI SỐNG
SANG NGƯỜI CHẾT.
36. Về mặt thực hành, hồi hướng còn chuyển hóa người đang sống
Thay vì chỉ:
KHÓC CHO NGƯỜI ĐÃ MẤT,
ta có thể:
LÀM MỘT VIỆC THIỆN
VỚI TÂM TƯỞNG NHỚ HỌ.
Đau buồn được chuyển thành:
BỐ THÍ.
TỪ BI.
HÀNH ĐỘNG THIỆN.
Dù các truyền thống giải thích hiệu lực đối với người chết khác nhau, sự chuyển hóa:
TÂM NGƯỜI SỐNG
là một khía cạnh thực hành rất rõ.
37. Nhưng không nên dùng nghi lễ để né tránh đau buồn
Một người có thể:
tụng rất nhiều kinh;
làm rất nhiều lễ;
nhưng không cho phép mình:
NHÌN THẲNG VÀO MẤT MÁT.
Nghi lễ có thể:
NÂNG ĐỠ.
Nhưng không nhất thiết phải trở thành:
CÁCH CHẠY TRỐN CẢM XÚC.
Pháp hành vẫn cần:
THẤY.
CHẤP NHẬN.
BUÔNG DẦN.
38. “49 ngày” cần được trình bày đúng tầng lịch sử
Trong nhiều truyền thống Phật giáo Đông Á và Tây Tạng:
49 NGÀY
có vai trò quan trọng trong nghi lễ tang và quan niệm về giai đoạn sau chết.
Nhưng không nên nói:
“ĐỨC PHẬT TRONG KINH ĐIỂN SỚM
DẠY MỌI NGƯỜI ĐỀU PHẢI
LÀM LỄ 49 NGÀY.”
Đó là:
SỰ PHÁT TRIỂN TRUYỀN THỐNG VỀ SAU
và được giải thích khác nhau giữa:
ĐẠI THỪA ĐÔNG Á
và:
PHẬT GIÁO TÂY TẠNG.
39. Phật giáo sớm
Trong tầng kinh điển sớm, trọng tâm nổi bật là:
SINH – LÃO – BỆNH – TỬ.
CHIA LÌA VỚI CÁI YÊU.
VÔ THƯỜNG.
ÁI.
THỦ.
KHỔ.
CON ĐƯỜNG ĐOẠN KHỔ.
Mất người thân được đặt vào:
THỰC TẠI PHỔ QUÁT
CỦA ĐỜI SỐNG HỮU VI.
Mục tiêu không phải:
XÓA KÝ ỨC.
Mà là:
THẤY ĐÚNG THỰC TẠI
ĐỂ KHÔNG TIẾP TỤC
NẮM GIỮ CÁI KHÔNG THỂ GIỮ.
40. Theravāda
Theravāda giữ mạnh các thực hành:
QUÁN VÔ THƯỜNG.
QUÁN CHẾT – MARAṆASATI.
QUÁN NĂM UẨN.
TỪ – BI – HỶ – XẢ.
BỐ THÍ.
HỒI HƯỚNG PHƯỚC.
Nhưng:
MARAṆASATI
không nhằm tạo:
ám ảnh cái chết.
Mục đích là:
KHÔNG SỐNG PHÓNG DẬT
TRƯỚC MỘT ĐỜI SỐNG
KHÔNG ĐƯỢC BẢO ĐẢM.
41. Đại thừa
Đại thừa tiếp tục đặt:
SINH TỬ
trong:
DUYÊN KHỞI
và phát triển mạnh:
TỪ BI.
BỒ-ĐỀ TÂM.
TÁNH KHÔNG.
Mất người thân có thể trở thành cơ hội thấy:
KHÔNG CÓ CON NGƯỜI
HAY QUAN HỆ NÀO
TỒN TẠI ĐỘC LẬP,
BẤT BIẾN.
Nhưng Tánh Không:
KHÔNG BIẾN NGƯỜI ĐÃ MẤT
THÀNH “CHƯA TỪNG TỒN TẠI.”
Ở bình diện quy ước:
tình yêu;
quan hệ;
mất mát;
đau buồn
đều:
CÓ Ý NGHĨA.
42. Một số truyền thống Đại thừa phát triển nghi lễ cho người mất
Ví dụ có các truyền thống liên hệ đến:
tụng kinh;
niệm Phật;
hồi hướng;
cầu nguyện;
cúng dường;
nghi lễ siêu độ.
Những thực hành này cần được trình bày là:
CÁC PHÁT TRIỂN
TRONG NHỮNG TRUYỀN THỐNG CỤ THỂ,
không nên gom tất cả thành:
“ĐỨC PHẬT DẠY NHƯ VẬY.”
43. Kim Cương thừa
Trong Phật giáo Tây Tạng, giáo lý về:
BARDO
phát triển rất chi tiết.
Có các nghi quỹ:
dành cho người chết;
hướng dẫn tâm;
cầu nguyện;
hồi hướng;
thực hành liên quan đến tiến trình chết và tái sinh.
Nhưng:
BARDO
≠
LINH HỒN BẤT BIẾN
LANG THANG GIỮA HAI THÂN.
Nó nằm trong một hệ thống vẫn giữ:
VÔ NGÃ.
NGHIỆP.
TÁI SINH.
DUYÊN KHỞI.
TÁNH KHÔNG.
44. Bảng đối chiếu SK | TH | ĐT | KC
| Vấn đề | Phật giáo sớm | Theravāda | Đại thừa | Kim Cương thừa |
|---|---|---|---|---|
| Chia lìa người mình yêu là khổ | Có | Có | Có | Có |
| Vô thường là nền tảng | Có | Có | Có | Có |
| Đau buồn = tu sai | Không thể giản lược như vậy | Không | Không | Không |
| Mục tiêu là phủ nhận cảm xúc | Không | Không | Không | Không |
| Ái và thủ liên hệ đến khổ | Rất rõ | Rất rõ | Có | Có |
| Quán chết | Có nền tảng | Phát triển rõ | Có | Có |
| Hồi hướng cho người mất | Có các tiền đề/văn bản liên quan | Phát triển rõ | Phát triển đa dạng | Phát triển đa dạng |
| Nghi lễ 49 ngày | Không phải mô hình chung của kinh sớm | Không phải giáo lý trung tâm chung | Quan trọng trong một số truyền thống Đông Á | Có hệ thống 49 ngày trong nhiều truyền thống Tây Tạng |
| Bardo hệ thống hóa | Không theo mô hình Tây Tạng hậu kỳ | Không | Có tiền đề/phát triển đa dạng | Rất nổi bật |
| Vô thường = quên người mất | Không | Không | Không | Không |
45. Những điểm dễ hiểu lầm
“Hiểu Vô thường thì sẽ không buồn.”
KHÔNG NHẤT THIẾT.
Hiểu sâu Vô thường:
thay đổi quan hệ với nỗi buồn,
không nhất thiết:
xóa cảm xúc ngay lập tức.
“Còn khóc tức là còn chấp.”
QUÁ ĐƠN GIẢN.
Nước mắt:
không phải máy đo mức chứng ngộ.
“Buông là quên.”
KHÔNG.
Có thể:
NHỚ MÀ KHÔNG NẮM GIỮ.
“Hết buồn nghĩa là hết yêu.”
KHÔNG.
Ta không cần:
KHỔ SUỐT ĐỜI
để chứng minh:
ĐÃ TỪNG YÊU.
“Vô thường nghĩa là mọi quan hệ đều vô nghĩa.”
NGƯỢC LẠI.
Chính vì:
KHÔNG Ở MÃI
nên:
THỜI GIAN ĐANG CÓ
CÀNG ĐÁNG TRÂN TRỌNG.
“Phật tử không nên khóc trong tang lễ.”
KHÔNG CÓ CƠ SỞ ĐỂ BIẾN
ĐIỀU NÀY THÀNH LUẬT CHUNG.
“Người chết vì nghiệp của họ nên không cần buồn.”
KHÔNG.
Đây vừa:
đơn giản hóa nghiệp,
vừa có thể:
thiếu từ bi.
“Làm lễ thật lớn thì người mất nhận được nhiều công đức hơn.”
KHÔNG NÊN HIỂU
CÔNG ĐỨC NHƯ GIAO DỊCH TÀI CHÍNH.
“49 ngày là giáo lý giống nhau trong mọi truyền thống.”
KHÔNG.
Đây là:
MỘT LĨNH VỰC CÓ
PHÁT TRIỂN LỊCH SỬ VÀ TRUYỀN THỐNG KHÁC NHAU.
46. Khi vừa mất người thân, nên thực hành thế nào?
Không cần bắt đầu bằng:
TRIẾT HỌC CAO SIÊU.
Có thể bắt đầu:
RẤT NHỎ.
Bước 1 – Cho phép mình biết rằng đang đau
“TÔI ĐANG RẤT BUỒN.”
Không cần:
“TÔI LÀ PHẬT TỬ,
TÔI KHÔNG ĐƯỢC BUỒN.”
Đó có thể chỉ là:
ĐÈ NÉN.
Bước 2 – Trở về thân
Nếu tâm quá hỗn loạn:
biết hơi thở.
cảm nhận bàn chân.
uống nước.
ăn một chút.
nghỉ ngơi.
Tang chế cũng:
ẢNH HƯỞNG CƠ THỂ.
Bước 3 – Phân biệt sự thật với dòng suy nghĩ
Sự thật:
“NGƯỜI ẤY ĐÃ MẤT.”
Dòng suy nghĩ có thể là:
“TÔI SẼ KHÔNG BAO GIỜ
CÓ THỂ SỐNG TIẾP.”
Hai điều:
KHÔNG HOÀN TOÀN GIỐNG NHAU.
Bước 4 – Nhìn những “giá như”
Nếu có điều thực sự cần học:
HÃY HỌC.
Nếu có lỗi có thể sửa với người còn sống:
HÃY SỬA.
Nhưng nếu quá khứ:
KHÔNG THỂ THAY ĐỔI,
hãy nhận ra:
TỰ TRỪNG PHẠT
KHÔNG LÀM NGƯỜI ĐÃ MẤT
SỐNG LẠI.
Bước 5 – Cho phép ký ức tồn tại
Không cần:
vứt mọi thứ ngay.
Cũng không cần:
giữ mọi thứ mãi.
Hãy để:
KÝ ỨC
dần tìm:
VỊ TRÍ MỚI
trong đời sống.
Bước 6 – Làm một việc thiện để tưởng nhớ
Có thể:
giúp một người;
bố thí;
chăm sóc cha mẹ còn sống;
trồng cây;
hỗ trợ người bệnh;
làm một việc người đã mất từng quý trọng.
Rồi nếu phù hợp với truyền thống của mình:
HỒI HƯỚNG.
Như vậy:
NỖI NHỚ
được chuyển thành:
HÀNH ĐỘNG THIỆN.
Bước 7 – Quán Vô thường nhẹ nhàng
Không cần liên tục nhắc:
“AI CŨNG CHẾT.”
Có thể chỉ thấy:
“CHÚNG TÔI ĐÃ CÓ
MỘT KHOẢNG THỜI GIAN
BÊN NHAU.
KHOẢNG THỜI GIAN ẤY
KHÔNG THỂ KÉO DÀI VĨNH VIỄN.”
Điều này có thể:
đau.
Nhưng cũng có thể:
MỞ RA LÒNG BIẾT ƠN.
Bước 8 – Mở rộng lòng bi
Nhớ lại câu chuyện Kisā Gotamī:
KHÔNG CHỈ MÌNH TA
ĐÃ MẤT NGƯỜI THÂN.
Ngay lúc này:
có người đang mất mẹ.
có người đang mất cha.
có người đang mất con.
có người đang ngồi bên giường người sắp chết.
Có thể khởi tâm:
“MONG NHỮNG AI
ĐANG CHỊU NỖI ĐAU NÀY
CŨNG CÓ ĐỦ SỨC
ĐỂ ĐI QUA.”
Nỗi đau cá nhân:
KHÔNG BIẾN MẤT,
nhưng trái tim:
CÓ THỂ RỘNG HƠN.
47. Một bản đồ của đau buồn
NGƯỜI THÂN MẤT
↓
ĐAU – NHỚ – TRỐNG VẮNG
↓
tâm có thể đi theo:
“ĐIỀU NÀY KHÔNG ĐƯỢC XẢY RA”
↓
“TÔI KHÔNG THỂ SỐNG THIẾU HỌ”
↓
CHỐNG CỰ
↓
TỘI LỖI
↓
TỰ TRỪNG PHẠT
↓
KHỔ CHỒNG KHỔ.
48. Hoặc một hướng khác
NGƯỜI THÂN MẤT
↓
ĐAU – NHỚ – TRỐNG VẮNG
↓
NHẬN BIẾT
↓
CHẤP NHẬN SỰ KIỆN
↓
THẤY VÔ THƯỜNG
↓
BIẾT ƠN THỜI GIAN ĐÃ CÓ
↓
BUÔNG DẦN SỰ NẮM GIỮ
↓
CHUYỂN TÌNH THƯƠNG
THÀNH CÁCH SỐNG
↓
TỪ BI.
Điều quan trọng là:
CON ĐƯỜNG THỨ HAI
VẪN CÓ NƯỚC MẮT.
49. Đây là điểm rất đáng nhớ
CHẤP NHẬN
KHÔNG ĐỒNG NGHĨA
KHÔNG BUỒN.
XẢ
KHÔNG ĐỒNG NGHĨA
KHÔNG THƯƠNG.
VÔ THƯỜNG
KHÔNG ĐỒNG NGHĨA
MỌI THỨ VÔ NGHĨA.
BUÔNG
KHÔNG ĐỒNG NGHĨA
QUÊN.
Và:
SỐNG TIẾP
KHÔNG ĐỒNG NGHĨA
PHẢN BỘI NGƯỜI ĐÃ MẤT.
50. Hiểu Vô thường cuối cùng thay đổi điều gì?
Có lẽ không phải:
“TÔI SẼ KHÔNG BAO GIỜ
ĐAU KHI MẤT NGƯỜI TÔI YÊU.”
Mà dần thành:
“TÔI BIẾT RẰNG
NGƯỜI TÔI YÊU
KHÔNG THỂ Ở BÊN TÔI MÃI.
VÌ VẬY,
KHI HỌ CÒN Ở ĐÂY,
TÔI SẼ TRÂN TRỌNG.
KHI HỌ PHẢI ĐI,
TÔI SẼ ĐAU.
NHƯNG TÔI SẼ HỌC
KHÔNG BIẾN TÌNH YÊU
THÀNH YÊU CẦU
RẰNG HỌ PHẢI Ở LẠI MÃI MÃI.”
Đây là:
TÌNH YÊU
ĐƯỢC SOI BẰNG
TRÍ TUỆ VÔ THƯỜNG.
Kết luận
MẤT NGƯỜI THÂN –
HIỂU VÔ THƯỜNG
CÓ GIÚP HẾT ĐAU BUỒN KHÔNG?
Không nên trả lời:
“CÓ.
HIỂU ĐÚNG THÌ SẼ KHÔNG BUỒN.”
Câu ấy:
quá đơn giản.
Một câu trả lời chính xác hơn là:
HIỂU VÔ THƯỜNG
KHÔNG NHẤT THIẾT
LÀM NỖI ĐAU BIẾN MẤT NGAY.
Nhưng nó có thể giúp ta thấy:
NGƯỜI MÌNH YÊU
VỐN KHÔNG THỂ
Ở LẠI VĨNH VIỄN.
NỖI BUỒN
CŨNG KHÔNG PHẢI
MỘT THỰC THỂ VĨNH VIỄN.
KÝ ỨC
KHÔNG CẦN BỊ XÓA.
TÌNH YÊU
KHÔNG CẦN BỊ XÓA.
Điều cần dần được tháo ra là:
SỰ NẮM GIỮ.
SỰ CHỐNG CỰ.
SỰ ĐÒI HỎI
RẰNG CÁI VÔ THƯỜNG
PHẢI TRỞ THÀNH VĨNH VIỄN.
Ta có thể:
KHÓC
mà vẫn:
HIỂU PHÁP.
Ta có thể:
NHỚ
mà vẫn:
BUÔNG.
Ta có thể:
ĐAU
mà không:
TUYỆT VỌNG.
Ta có thể:
TIẾP TỤC SỐNG
mà không:
QUÊN.
Và cuối cùng, sự chuyển hóa có thể không phải từ:
“YÊU”
sang:
“KHÔNG YÊU.”
Mà từ:
“TÔI YÊU,
NÊN TÔI PHẢI GIỮ BẠN MÃI MÃI”
sang:
“TÔI YÊU,
NÊN TÔI BIẾT ƠN
KHOẢNG THỜI GIAN
CHÚNG TA ĐÃ CÓ.”
Đó là nơi:
VÔ THƯỜNG
không phá hủy:
TÌNH YÊU.
Nó chỉ dạy tình yêu:
ĐỪNG ĐÒI HỎI
ĐIỀU KHÔNG THỂ.
Và có lẽ một cách cô đọng nhất:
VÔ THƯỜNG KHÔNG DẠY
TA ĐỪNG YÊU
VÌ RỒI SẼ MẤT.
NÓ DẠY:
VÌ RỒI SẼ MẤT,
HÃY TRÂN TRỌNG
KHI CÒN CÓ THỂ.
VÀ KHI ĐÃ MẤT: