Nghiệp không thay thế y học
Nghiệp không thay thế y học: hiểu nhân quả đúng, điều trị bệnh phù hợp và chăm sóc người bệnh bằng từ bi.
Thuật ngữ, giáo lý, câu hỏi trong các nhóm và nghiên cứu về đạo Phật.
Nghiệp không thay thế y học: hiểu nhân quả đúng, điều trị bệnh phù hợp và chăm sóc người bệnh bằng từ bi.
Nghiệp nhấn mạnh tác ý và trách nhiệm đạo đức, nhưng không thay thế điều tra, xử lý theo pháp luật, bồi thường và bảo vệ người bị hại.
Hiểu nghiệp không thay thế việc nhận lỗi, khắc phục hậu quả và chuyển đổi hành vi. MN 61 dạy quán xét thân, khẩu, ý trước, trong và sau hành động.
Sám hối là bước nhận lỗi quan trọng, nhưng muốn chuyển hóa phải ngừng gây hại, sửa sai trong khả năng và rèn luyện phòng hộ để không tái phạm.
Hậu quả của việc đã làm có thể đang xuất hiện, nhưng tác ý và hành động hiện tại vẫn tạo nên hướng đi mới; không phải mọi khổ đau đều do nghiệp cũ.
Tự do trong nghiệp hiện tại là khả năng tỉnh giác, lựa chọn tác ý và sửa đổi hành vi giữa các điều kiện nhân duyên, không phải quyền kiểm soát tuyệt đối số phận.
Hiểu nghiệp là nhìn lại tác ý và hành động ngay trong hiện tại, chủ động sửa sai và làm thiện thay vì quy mọi biến cố cho nghiệp quá khứ.
Học nghiệp để chịu trách nhiệm về tác ý và hành động, tu sửa lỗi lầm và giúp người gặp khổ, không dùng nghiệp để phán xét số phận người khác.
Duyên khởi là tính điều kiện của sự sinh khởi và đoạn diệt khổ; hiểu đủ hai chiều giúp tránh định mệnh luận và thực hành chuyển hóa ái, thủ.
Đức Phật giác ngộ và giảng dạy Duyên khởi, không sáng tạo ra quy luật ấy; SN 12.20 xác nhận tính điều kiện tồn tại dù Như Lai xuất hiện hay không.
Duyên khởi vẫn là nguyên lý có điều kiện dù Như Lai có xuất hiện hay không; Đức Phật giác ngộ, tuyên giảng và chỉ con đường đoạn khổ.
Vô minh duyên Hành nghĩa là sự không thấy rõ Tứ Thánh đế làm điều kiện cho những tạo tác thuộc thân, lời nói và ý trong tiến trình Duyên khởi; không phải nguyên nhân đầu tiên của vũ trụ.
Hành duyên Thức nói rằng các hành tạo tác làm điều kiện cho thức trong Duyên khởi; không phải có linh hồn bất biến. Giải thích theo SN 12.2 và SN 12.38.
Thức duyên Danh-sắc và Danh-sắc duyên Thức – Tại sao có quan hệ hai chiều? Trả lời ngắn gọn: Theo Duyên khởi, Thức (viññāṇa) và Danh–sắc (nāmarūpa) nương nhau mà tồn tại. “Thức duyên Danh–sắc” nhấn mạnh vai trò điều kiện của thức đối với danh–sắc; “Danh–sắc duyên Thức” cho thấy thức cũng không thể được xem là một thực…
DN 15 giải thích Duyên khởi qua Thức và Danh-sắc nương nhau, nhánh ái dẫn đến chiếm hữu và tranh chấp, cùng sự chấp ngã.
Duyên khởi không chỉ là chuỗi nhân quả một chiều: kinh nêu sự nương tựa Thức–Danh-sắc, nhiều điều kiện và cả con đường đoạn diệt khổ.
Danh-sắc (nāmarūpa) gồm các yếu tố tâm lý và vật chất theo Duyên khởi; SN 12.2 định nghĩa danh gồm thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý hướng tâm.
Danh-sắc gần với thân và tâm ở nghĩa nhập môn, nhưng SN 12.2 định nghĩa Danh gồm thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý hướng tâm; Sắc là bốn đại và sắc y cứ bốn đại, còn Thức được trình bày riêng.
Giải thích chuỗi Danh-sắc duyên sáu xứ, sáu xứ duyên xúc, xúc duyên thọ theo SN 12.2; phân biệt xúc, thọ và ái, kèm ví dụ thực hành.
Giải thích chuỗi Thọ → Ái → Thủ → Hữu trong Duyên khởi: cảm thọ, khát ái, bốn loại chấp thủ và ba cõi hữu; ví dụ quan sát hiện tại theo SN 12.2, SN 36.6.
Trong Duyên khởi, Sinh (jāti) không chỉ là sinh con mà là sự xuất hiện của hữu tình, các uẩn và các xứ do Hữu làm duyên; cần phân biệt tái sinh với ví dụ tâm lý trong hiện tại.
Sinh duyên Già–chết: ý nghĩa của già và chết trong SN 12.2, tính vô thường của đời sống hữu tình và hướng tu tập để đoạn tận khổ.
Khi vô minh bị đoạn tận, những hành do vô minh làm điều kiện trong Duyên khởi chấm dứt; điều đó không đồng nghĩa người giải thoát ngừng mọi hoạt động.
Duyên khởi hoàn diệt là chiều đoạn diệt của khổ khi vô minh và các điều kiện duy trì luân hồi chấm dứt; không phải quay ngược thời gian hoặc ngừng mọi cảm giác.
Thuật ngữ được tra từ các trang giáo lý đã xuất bản. Nhãn truyền thống theo phân loại từng bài; câu hỏi đang hoàn thiện có ghi chú riêng.
Mở trang tra cứu để lọc theo nhóm và duyệt toàn bộ kết quả.