
Nhân vật : 1089
Yet another one, at 15:00 PM
Lorem ipsum dolor sic amet, today at 12:00 PM
Another meeting today, at 12:00 PM
Yet another one, at 15:00 PM
Lorem ipsum dolor sit amit,consectetur eiusmdd tempor incididunt ut labore et dolore magna elit enim at minim veniam quis nostrud
Lorem ipsum dolor sit amit,consectetur elit enim at minim veniam quis nostrud
Lorem ipsum dolor sic amet, today at 12:00 PM
Another meeting today, at 12:00 PM
Yet another one, at 15:00 PM
Lorem ipsum dolor sit amit,consectetur eiusmdd tempor incididunt ut labore et dolore magna elit enim at minim veniam quis nostrud
Lorem ipsum dolor sit amit,consectetur elit enim at minim veniam quis nostrud
ID:715
| Roll | : | 125 |
|---|---|---|
| Academic Year | : | 2020 |
| Gender | : | Nam |
| Religion | : | Group |
| blood | : | B+ |
Xuất hiện trong kinh Wiki Tâm Học -Danh sách : Kinh Trường Bộ 016 Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn (Mahāparinibbāna sutta)
A minister of Magadha, who, with Vassakāra, was in charge of the fortifications of Pātaligāma, built in order to repel the Vajjīs. These two are always mentioned together.
They invited the Buddha to a meal, and, after his departure, named the gate by which he had left the city Gotamadvāra, and the ford by which he crossed the Ganges, Gotamatittha. Vin.i.228f; D.ii.86f.; Ud.viii.6.
Đức Phật thuyết Bảy Pháp Bất Thối đem lại cường thịnh cho nước VAJJÌ và Hội Chúng Tỳ Khưu Tăng
Vua AJÀTASATTU đang trị vì xứ MAGADHA khởi lên ý tưởng muốn chinh phục đất nước VAJJÌ, nên đã nhờ đại quan SASSAKÀRA đến thỉnh ý đức Thế Tôn để mưu cầu lợi ích. Đức Phật không trả lời thẳng vấn đề, mà chỉ hỏi đại đức ÀNANDA về những đức tính của dân xứ VAJJÌ và gián tiếp chỉ cho thấy sự cường thịnh và hùng mạnh của dân xứ VAJJÌ.
Với Bảy Pháp Bất Thối này sẽ làm cho dân xứ VAJJÌ được cường thịnh, không bị suy giảm, và như thế vua AJÀTASATTU không thể nào chinh phục được, trừ khi dùng ngoại giao hay dùng kế ly gián.
Nhân dịp này, đức Phật bảo đại đức ÀNANDA đi triệu tập Chư Tỳ Khưu Tăng cư ngụ tại RÀJAGAHA để thuyết giảng Bảy Pháp Bất Thối đem lại lợi ích cho Chư Tăng như sau:
Với Bảy Pháp Bất Thối này sẽ làm cho Hội Chúng Tỳ Khưu Tăng được cường thịnh, không bị suy giảm.
Cũng với Bảy Pháp Bất Thối này sẽ làm cho Hội Chúng Tỳ Khưu Tăng được cường thịnh, không bị suy giảm.
Sau đó, đức Phật cùng với đại đức ÀNANDA và Hội Chúng Tăng đi đến AMBALATTHIKA, trú tại nhà nghỉ mát của Vua, và thuyết Pháp Thoại về Tam Học.
Lời tán dương của đại đức SÀRIPUTTA về đức Phật
Đức Phật thuyết giảng năm điều nguy hại về sự phạm giới và năm điều lợi ích của sự giữ giới
*Khi thấy Chư Thiên đến tụ hợp đông đảo tại PÀTALIGÀMA, đức Phật cho biết đó là một sự kiết tường, và trú địa này sau sẽ là một thành thị bậc nhất, một trung tâm thương mãi bậc nhất có tên gọi là PATALIPUTTA, nhưng cũng tại trú địa này về sau sẽ bị ba hiểm nạn về lửa, nước, và chia rẽ bất hòa (phân tranh).
* Nhận lời thỉnh mời về nhà cúng dường vật thực của hai vị đại thần ở xứ MAGADHA, có tên là SUNÌDHA và VASSAKÀRA, đức Phật cùng với đại chúng tỳ khưu đi đến thọ thực. Sau khi thọ thực xong, đức Phật thốt lên kệ tùy hỷ:
“Tại chỗ nào người sáng suốt lấy làm chỗ trú xứ, Hãy nuôi dưỡng người giữ giới và phạm hạnh, Và san sẻ công đức với Chư Thiên trú tại chỗ ấy. Được tôn kính, chúng sẽ tôn kính lại,
Được trọng vọng, chúng sẽ trọng vọng lại.
Chúng sẽ thương mến người ấy như người mẹ thương mến con một,
Và những ai được Chư Thiên thương mến thì luôn luôn được nhiều may mắn.”
Nhân dịp đức Phật đến viếng và đi ra khỏi cửa thành, hai vị đại thần này đặt tên cửa thành là “Cửa GOTAMA.” Đức Phật rời khỏi bến nào thì bến ấy sẽ được đặt tên là “Bến GOTAMA.” Đức Phật đi đến sông GANGÀ (Sông Hằng), có nhiều người đang chuẩn bị chiếc thuyền để đưa đức Phật cùng đại chúng tỳ khưu qua sông Hằng – lúc bấy giờ bến sông đang ngập nước và định đặt tên cho chiếc thuyền là, “Thuyền GOTAMA,” thì đức Phật cùng với chư tỳ khưu dùng thần thông sang qua bến bờ kia. Đức Phật hiểu được ý nghĩa của cảnh này, liền ứng khẩu lời cảm khái:
“Những ai làm cầu vượt biển trùng dương, bỏ lại đất sủng đầm ao, trong khi người phàm phu đang cột bè, những người ấy quả thật là những vị được trí tuệ giải thoát.”
Tại nơi đây, đức Phật cho biết, “Chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Tứ Thánh Đế, mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm.”
“Chính vì không thấy như thật Tứ Thánh Đế, nên có sự luân chuyển lâu dài trong nhiều đời. Khi những sự thật này được nhận thức, thì nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt. Khi Khổ Căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa.”
Trong thời gian đức Phật ở KOTIGÀMA, Ngài đã thuyết giảng Pháp Thoại cho chúng tỳ khưu về “Giới, Định, Tuệ, Định cùng tu với Giới, Tuệ cùng tu với Định, Tâm cùng tu với Tuệ, giải thoát mọi Lậu Hoặc.”
Đức Phật thuyết giảng Pháp Kính (DHAMMÀDÀSA – Gương Chánh Pháp)
Tại nơi đây, đại đức ÀNANDA vấn hỏi đức Phật về cảnh trạng tương lai của nhiều người (kể cả xuất gia và tại gia) đã quá vãng tại NÀDIKÀ, và đức Phật đã nhẫn nại kể lại từng mỗi cảnh trạng của từng người.
Mỗi lần có người mệnh chung lại đi đến hỏi đức Phật, với hiện tượng ấy quả thật phiền nhiễu quấy rối Ngài. Do vậy, đức Phật đã thuyết giảng Pháp Kính cho đại đức ÀNANDA để nhận biết được cảnh trạng sẽ đến cho một Thánh đệ tử đã chứng đạt Pháp Nghĩa khi mạng
Pháp Kính hay Gương Chánh Pháp là gương lành của người Thánh đệ tử đã đặt trọn vẹn niềm tin vào Tam Bảo, trau giồi phẩm hạnh cao thượng, với những giới hạnh đưa đến giải thoát, được bậc Thiện Trí Thức tán thán, thoát ly mọi dục vọng trần tục, hướng tâm an chỉ trong Thiền Định, chứng đạt Pháp Nghĩa, do vậy, vị Thánh đệ tử nhận biết viễn ảnh của mình.
“Đối với ta, sẽ không còn Địa Ngục, sẽ không tái tục cõi bàng sanh, ngạ quỷ, ác xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự Lưu, nhất định không đọa ác đạo, sẽ thành đạt Chánh Giác.”
Trong thời gian đức Phật ở tại NÀDIKÀ, Ngài đã thuyết giảng Pháp Thoại cho chúng tỳ khưu về: “Giới, Định, Tuệ, Định cùng tu với Giới, Tuệ cùng tu với Định, Tâm cùng tu với Tuệ, giải thoát mọi Lậu Hoặc.”
Vì kỷ nữ AMBAPÀLI rất xinh đẹp và thế nào cũng đến yết kiến, đức Phật khuyên dạy chư tỳ khưu phải luôn chú tâm an trú vào Chánh Niệm và Tỉnh Giác.
Đức Phật cùng với Hội Chúng Tỳ Khưu nhận lời mời về nhà cúng dường vật thực của AMBAPÀLI và khước từ lời thỉnh mời đến sau của các thanh niên LICCHAVÌ sau khi thọ thực
Sau khi đức Phật cùng với Hội Chúng Tỳ Khưu đã thọ thực xong, thì kỷ nữ AMBAPÀLI đã phát tâm cúng dường khu vườn xoài của mình và tín thọ lời Pháp Thoại của đức Phật.
Trong thời gian đức Phật ở tại VESÀLI, Ngài đã thuyết giảng Pháp Thoại cho chúng tỳ khưu về, “Giới, Định, Tuệ, Định cùng tu với Giới, Tuệ cùng tu với Định, Tâm cùng tu với Tuệ, giải thoát mọi Lậu Hoặc.”
Từ thành VESÀLI đi đến làng BELUVÀ
Một làng nhỏ bé kế cận, và đức Phật quyết định an cư mùa mưa tại đây.
Lời kêu gọi của đức Phật đến Hội Chúng Tăng
“Chúng Tỳ Khưu còn mong mỏi gì nữa ở nơi Như Lai? Như Lai đã giảng Chánh Pháp không có phân biệt trong ngoài (bí truyền và công truyền). Đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Đạo Sư còn nắm tay lại (còn giữ lại một ít bí truyền chưa giảng dạy). Những ai nghĩ rằng, Ta sẽ là vị cầm đầu, lãnh đạo chúng Tỳ Khưu hoặc chúng Tỳ Khưu chịu sự giáo huấn của Ta, thì người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỳ Khưu. Nhưng Như Lai không nghĩ rằng, Ta sẽ là vị cầm đầu, lãnh đạo chúng Tỳ Khưu hoặc chúng Tỳ Khưu chịu sự giáo huấn của Ta, thì làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỳ Khưu.”
“Này ÀNANDA, nay Như Lai đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Như cổ xe đã cũ kỷ mà còn chạy được bởi các dây chằng chịt cột các bộ phận lại. Cũng vậy, thân Như Lai đang duy trì sự sống cũng chính nhờ những sợi dây chằng chịt. Này ÀNANDA, chỉ khi nào Như Lai không suy niệm đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái.”
“Do vậy, này ÀNANDA, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình y tựa chính mình, chớ y tựa một gì khác. Dùng Chánh Pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh Pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Này ÀNANDA, thế nào là vị tỳ khưu khéo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, không y tựa một gì khác? Này ÀNANDA, một vị tỳ khưu sống chuyên cần, tinh tấn, tỉnh giác chánh niệm, từ khước mọi tham ái ưu bi trên đời, luôn luôn phát triển tâm định đối với Thân Thọ Tâm Pháp (Tứ Niệm Xứ). Như vậy, vị tỳ khưu khéo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, chớ y tựa một gì khác. Dùng Chánh Pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh Pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.”
“Này ÀNANDA, những ai sau khi Như Lai viên tịch, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, chớ y tựa một gì khác, dùng Chánh Pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh Pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác, những vị ấy là những vị Tối Thượng trong hàng tỳ khưu của Ta, nếu những vị ấy vẫn tha thiết học hỏi.”
Ba lần gợi ý của đức Phật với đại đức ÀNANDA thỉnh nguyện đức Phật ở lại thế gian
Tại đền CÀPÀLA, đức Phật đã ngỏ lời gợi ý ba lần với đại đức ÀNANDA, nên thỉnh nguyện đức Thế Tôn sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại (kiếp trái đất) vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho Chư Thiên và Nhân Loại.
Do bởi đức Phật đã thật điêu luyện, đã thật vững chải, đã thật thiện xảo về Tứ Thần Túc, một năng lực phi thường, có thể làm cho kéo dài thêm kiếp sống. Tuy nhiên, lúc bấy giờ Tâm của đại đức ÀNANDA đã bị Ác Ma che ám, nên không hiểu biết được sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của đức Phật, và đã không thỉnh cầu đức Thế Tôn ở lại trên thế gian này.
Nhân cơ hội ấy, Ác Ma đã đến thỉnh nguyện ba lần với đức Thế Tôn hãy nên viên tịch Níp Bàn vì đã đúng thời và phù hợp với hạnh nguyện của Ngài đã tế độ Tứ Chúng (Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni, Cận Sự Nam, Cận Sự Nữ) được thành tựu viên mãn với Chánh Pháp, sống theo Chánh Pháp, và có thể truyền bá Chánh Pháp một cách thần diệu.
Đức Thế Tôn đã nhận lời với Ác Ma: “Này Ác Ma hãy yên tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.”
Kể từ ngày ấy, tại đền CÀPÀLA, đức Phật chánh niệm tỉnh giác và từ bỏ thọ hành (không duy trì mạng sống lâu hơn nữa), đã làm cho quả địa cầu chấn động ghê rợn, sấm trời vang dậy. Đức Thế Tôn nhận biết ý nghĩa của sự kiện ấy, liền thốt câu kệ cảm khái:
“Mạng sống hữu hạn hay vô hạn, Tu sĩ từ bỏ không kéo dài. Nội Tâm chuyên nhất trú thiền định, Như thoát áo giáp đang mang mặc.”
Đức Phật thuyết giảng về tám nguyên nhân làm cho quả địa cầu chấn động dữ dội
Đức Phật kể lại cuộc đối thoại giữa đức Phật với Ác Ma sau khi Ngài chứng đắc quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Giác, tại URUVELÀ, trên bờ sông NERANJARA, dưới gốc cây AJAPÀLANIGODHA. Ác Ma xin thỉnh đức Thế Tôn hãy nên diệt độ, Vô Dư Y Níp Bàn ngay lúc bấy giờ. Đức Phật đã từ chối vì chưa đúng thời và không phù hợp với hạnh nguyện của Ngài là tế độ Tứ Chúng (Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni, Cận Sự Nam, Cận Sự Nữ) được thành tựu viên mãn với Chánh Pháp, sống theo Chánh Pháp, và có thể truyền bá Chánh Pháp một cách thần diệu. Nhưng ngay hiện tại, mọi việc đã viên thành, đã đúng thời và phù hợp với hạnh nguyện của Ngài đã tế độ Tứ Chúng được thành tựu viên mãn; do đó, đức Phật đã nhận lời thỉnh nguyện của Ác Ma.
Khi đã biết rõ nguyên nhân làm cho quả địa cầu rung động là điềm báo lời hứa của đức Thế Tôn với Ác Ma chỉ còn ba tháng nữa là Ngài viên tịch Níp Bàn. Đại đức ÀNANDA đã ba lần khẩn khoản thỉnh cầu đức Phật hãy ở lại thế gian vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho Chư Thiên và Nhân Loại. Tuy nhiên, đã không được đức Phật nhận lời của đại đức ÀNANDA. Và Ngài đã xác nhận đó là lỗi của đại đức ÀNANDA, là khuyết điểm của đại đức ÀNANDA. Sau đó, đức Phật giảng giải về tính cách Vô Thường của đời sống (mọi Pháp Hữu Vi đã có sanh khởi, tồn tại rồi phải chịu biến hoại đúng theo thực tính của Pháp).
Vào trú tại khu rừng Đại Lâm và triệu tập tất cả chư tỳ khưu tăng đang cư trú quanh thành VESÀLI.
Những lời di huấn tối hậu của đức Phật đến Hội Chúng Tăng
Với Ba Mươi Bảy Pháp nhân sanh quả giác ngộ do chính đức Phật đã chứng ngộ và khéo giảng dạy cho Chư Tỳ Khưu Tăng, thì hội chúng phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập, và phát triển đầy đủ để truyền bá nếp sống Phạm Hạnh cao quý cho được trường tồn, vĩnh cửu vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho Chư Thiên và Nhân Loại.
“Này chư tỳ khưu, đây là lời Ta nhắn nhủ với các người: Các Hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát. Không bao lâu, Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.” Và đức Thiện Thệ thốt lên bài kệ như sau:
“Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ biệt các ngươi, Ta đi một mình. Tự mình làm sở y cho chính mình,
Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật, Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong Pháp và Luật này, Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.”
Từ giã VESÀLI đi đến làng BHANDAGÀMA
Tại nơi đây, đức Phật cho biết, “Chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Tứ Thánh Đế, mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm.”
“Chính vì không thấy như thật Tứ Thánh Đế, nên có sự luân chuyển lâu dài trong nhiều đời. Khi những sự thật này được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt. Khi Khổ Căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa.”
Sau đó, đức Thiện Thệ thốt lên bài kệ như sau:
“Giới, Định, Tuệ và Giải Thoát vô thượng, GOTAMA danh xưng đã chứng ngộ.
Đấng Giác Ngộ giảng pháp chúng Tỳ Khưu, Đạo Sư diệt khổ, Pháp Nhãn Tịnh Lạc.”
Trong thời gian đức Phật ở tại BHANDAGÀMA, Ngài đã thuyết giảng Pháp Thoại cho chúng tỳ khưu về: “Giới, Định, Tuệ, Định cùng tu với Giới, Tuệ cùng tu với Định, Tâm cùng tu với Tuệ, giải thoát mọi Lậu Hoặc.”
Đức Phật thuyết bốn Đại Giáo Pháp (MAHÀPADASA – Bốn điều tham chiếu lớn) cho Hội Chúng Tăng
Những lời ấy, không nên tán thán, chấp nhận, cũng không hủy báng bác bỏ. Phải thận trọng cân nhắc từng mỗi chữ, mỗi câu, cần phải nghiên cứu học hỏi kỹ lưỡng, và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật.
Khi đem so sánh với Kinh Luật, nếu chúng không phù hợp, không tương ứng với Kinh Luật, thì có thể kết luận rằng đây, “Không phải là lời dạy của đức Thế Tôn, và vị tỳ khưu ấy đã thọ giáo sai lầm.” Khi đem so sánh với Kinh Luật, nếu chúng phù hợp, tương ứng với Kinh Luật thì có thể kết luận rằng đây, “Chính là lời dạy của đức Thế Tôn, và vị tỳ khưu ấy đã thọ giáo chân chánh.”
Đây là Đại Giáo Pháp thứ nhất, và chư tỳ khưu phải thọ trì.
Những lời ấy, không nên tán thán, chấp nhận, mà cũng không hủy báng bác bỏ. Phải thận trọng cân nhắc từng mỗi chữ, mỗi câu, cần phải nghiên cứu học hỏi kỹ lưỡng, và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật.
Khi đem so sánh với Kinh Luật, nếu chúng không phù hợp, không tương ứng với Kinh Luật, thì có thể kết luận rằng đây, “không phải là lời dạy của đức Thế Tôn, và vị tỳ khưu ấy đã thọ giáo sai lầm.” Khi đem so sánh với Kinh Luật, nếu chúng phù hợp, tương ứng với Kinh Luật, thì có thể kết luận rằng đây, “chính là lời dạy của đức Thế Tôn, và vị tỳ khưu ấy đã thọ giáo chân chánh.”
Đây là Đại Giáo Pháp thứ hai, và chư tỳ khưu phải thọ trì.
Những lời ấy, không nên tán thán, chấp nhận, mà cũng không hủy báng bác bỏ. Phải thận trọng cân nhắc từng mỗi chữ, mỗi câu, cần phải nghiên cứu học hỏi kỹ lưỡng, và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật.
Khi đem so sánh với Kinh Luật, nếu chúng không phù hợp, không tương ứng với Kinh Luật, thì có thể kết luận rằng đây, “Không phải là lời dạy của đức Thế Tôn, và vị tỳ khưu ấy đã thọ giáo sai lầm.” Khi đem so sánh với Kinh Luật, nếu chúng phù hợp, tương ứng với Kinh Luật, thì có thể kết luận rằng đây, “Chính là lời dạy của đức Thế Tôn, và vị tỳ khưu ấy đã thọ giáo chân chánh.”
Đây là Đại Giáo Pháp thứ ba, và chư tỳ khưu phải thọ trì.
Những lời ấy, không nên tán thán, chấp nhận, mà cũng không hủy báng bác bỏ. Phải thận trọng cân nhắc từng mỗi chữ, mỗi câu, cần phải nghiên cứu học hỏi kỹ lưỡng, và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật.
Khi đem so sánh với Kinh Luật, nếu chúng không phù hợp, không tương ứng với Kinh Luật, thì có thể kết luận rằng đây, “Không phải là lời dạy của đức Thế Tôn, và vị tỳ khưu ấy đã thọ giáo sai lầm.” Khi đem so sánh với Kinh Luật, nếu chúng phù hợp, tương ứng với Kinh Luật thì có thể kết luận rằng đây, “Chính là lời dạy của đức Thế Tôn, và vị tỳ khưu ấy đã thọ giáo chân chánh.”
Đây là Đại Giáo Pháp thứ tư, và chư tỳ khưu phải thọ trì.
Trong thời gian đức Phật ở tại BHOGANAGARA, Ngài đã thuyết giảng Pháp Thoại cho chúng tỳ khưu về “Giới, Định, Tuệ, Định cùng tu với Giới, Tuệ cùng tu với Định, Tâm cùng tu với Tuệ, giải thoát mọi Lậu Hoặc.”
Từ BHOGANAGARA đi đến PÀVÀ
Khi đi đến PÀVÀ, đức Phật cùng Hội Chúng Tỳ Khưu trú tại vườn xoài của thợ rèn CUNDA. Và tại đây, CUNDA đã cung thỉnh đức Phật cùng chư Tăng về nhà thọ thực. Với tâm rất trong sạch, CUNDA đã cúng dường một món vật thực rất đặc biệt, có tên gọi là SÙKARA MADDAVE đến đức Phật, cùng với những món ăn thượng vị, loại cứng loại mềm.
Theo lời chỉ dạy của đức Phật, món ăn SÙKARA MADDAVE chỉ dâng duy nhất đến đức Phật mà thôi, còn dư sót (tàn thực), thì phải đem chôn vào một lỗ thật sâu dưới lòng đất bởi vì không có một ai, luôn đến Chư Thiên, Ma Giới, Phạm Thiên, có thể tiêu hóa món vật thực này.
Sau khi thọ thực xong, đức Phật lâm trọng bệnh, bệnh lỵ huyết, đau đớn cận kề tử vong. Đức Phật chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại chịu đựng cơn bệnh, và quyết định đi đến vườn KUSINÀRÀ.
Lúc bấy giờ, PUKKUSA thuộc dòng họ MALLÀ, đệ tử của ÀLÀRA KÀLÀMA, đang đi trên đường từ KUSINÀRÀ đến PÀVÀ.
PUKKUSA đã đến gần đức Phật và bày tỏ lòng thán phục của mình trước sự trầm tỉnh khác thường của đức Phật. Sau khi nghe đức Phật thuyết về sự thanh tịnh, không xao động của Ngài, PUKKUSA phát tâm tín thọ lời dạy và trọn đời quy ngưỡng vào Tam Bảo.
Kế tiếp, để bày tỏ lòng tôn kính với đức Phật, PUKKUSA xin dâng lên hai bộ y kim sắc vàng chói, và theo lời chỉ dạy của Ngài, PUKKUSA đã dâng một bộ y cho đức Phật, và một bộ y cho đại đức ÀNANDA.
Khi đại đức ÀNANDA mặc y kim sắc đặt ở trên thân của đức Phật, thì màu sắc sáng chói của y bị lu mờ đi. Đại Đức lấy làm ngạc nhiên khi thấy nước da của đức Phật sáng chói khác thường.
Đức Phật cho biết trong hai trường hợp màu da của Ngài trở nên sáng chói rực rỡ lạ thường, đó là:
Và đức Phật cho biết trong đêm ấy, vào lúc canh ba, Ngài sẽ tịch diệt tại UPAVATTANA ở KUSINÀRÀ trong khu rừng Long Thọ (SÀLA) của tiểu vương quốc MALLÀ.
Đức Phật cùng với đại chúng tỳ khưu đi đến con sông KAKUTTHÀ, xuống sông tắm, uống nước sông, rồi lội qua bờ bên kia, đi đến khu rừng xoài, và đức Phật muốn được nằm nghỉ vì đã quá mệt mỏi.
“Đức Phật tự đi đến con sông KAKUTTHÀ,
Con sông chảy trong sáng, mát lạnh và thanh tịnh. Vị Đạo Sư mỏi mệt, đi dần xuống mé sông,
Như Lai đấng Vô Thượng, ngự trị ở trên đời. Tắm xong, ước nước xong, lội qua bên kia sông, Bậc Đạo Sư đi trước, giữa tăng chúng tỳ khưu. Vừa đi vừa diễn giảng, Chánh Pháp thật vi diệu. Rồi bậc Đại Sĩ đến tại khu vực rừng xoài,
Cho gọi vị tỳ khưu, tên họ CUNDAKA: Hãy gấp tư áo lại, trải y cho Ta nằm.
Nghe dạy, CUNDAKA lập tức vâng lời dạy, Gấp tư và trải y một cách thật mau lẹ.
Bậc Đạo Sư nằm xuống, thân mình thật mệt mỏi, Tại đấy, CUNDAKA ngồi ngay phía trước mặt.”
Sau khi nằm nghỉ một chốc lát, đức Phật nói cho đại đức ÀNANDA được biết rằng, trong đời của Ngài có hai bữa cơm vô cùng phước báu, đó là:
Hai bữa ăn này có đồng một quả báo, có đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác.
Đức Phật dạy bảo đại đức ÀNANDA cần phải làm tiêu tan sự hối hận của thợ rèn CUNDA, về bữa ăn cuối cùng, và đức Phật thọ bệnh lỵ huyết. Đây là bữa ăn có nhiều phước báu, và việc cúng dường của CUNDA sẽ có nhiều phước báu, đó là:
“Công đức người bố thí, Luôn luôn được tăng trưởng. Trừ được Tâm hận thù,
Không chất chứa, chế ngự. Kẻ chí thiện từ bỏ,
Mọi ác hạnh bất thiện.
Diệt trừ Tham Sân Si,
Tâm giải thoát thanh tịnh.”
Đức Phật dạy đại đức ÀNANDA nên làm những việc nên làm sau khi Ngài đã viên tịch
*Đức Phật dạy đại đức UPAVÀNA hãy tránh qua một bên, không nên đứng trước mặt Ngài, vì Chư Thiên ở khắp mười phương thế giới đang tụ hội để chiêm ngưỡng Ngài, cho đến mười hai do tuần quanh khu rừng KUSINÀRÀ UPAVATTANA, Chư Thiên đã tụ hội lại chật ních khắp cả khu rừng.
* Và những ai trong khi đi chiêm bái những Thánh Tích mà từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thì những vị ấy sau khi thân hoại mạnh chung, sẽ được thọ sanh về Thiên Giới.
Không nên nhìn người nữ
Nếu đã nhìn, thì không nên nói chuyện
Khi đã nói chuyện, thì phải an trú trong Chánh Niệm
Hạng người xuất gia không phải quá lo lắng vấn đề cung kính Thân Xá Lợi. Hãy nên nỗ lực, hãy tinh tấn hướng về tự độ, sống không phóng dật, cần mẫn, chuyên hướng về tự độ.
Hãy để hạng người tại gia, hạng học giả Sát Đế Lỵ, hạng học giả Bà La Môn, hạng học giả Cư Sĩ thâm tín, với niềm tin vững chắc với đức Phật, lo phần cung kính cúng dường Thân xá Lợi của đức Phật.
Xử sự nhục thể đức Phật như cách xử sự Thân Chuyển Luân Thánh Vương. Pháp táng Thân đức Phật tương tự Pháp táng của Chuyển Luân Thánh Vương. Giàn hỏa thiêu được đặt tại ngã tư đường.
Tháp của đức Phật phải được dựng lên tại ngã tư đường. Và những ai đến cúng dường hương hoa và lễ vật cung kính, hoặc khởi tâm hoan hỷ khi đứng trước bảo tháp, thì những vị này sẽ được hưởng nhiều phước báu lợi ích, hạnh phúc lâu dài.
Lúc bấy giờ, đại đức ÀNANDA đi vào Tinh Xá, dựa trên cột cửa, và đứng khóc than: “Ta nay vẫn còn là kẻ hữu học, còn phải lo tu tập. Nay bậc Đạo Sư của Ta sắp diệt độ, còn ai thương tưởng Ta nữa.”
Đức Phật khuyên nhủ và thọ ký đại đức ÀNANDA: “ Này ÀNANDA, chớ có buồn rầu, chớ có khóc than,
Mọi vật ái luyến, tốt đẹp đều phải sanh biệt, tử biệt, và dị biệt, Các Pháp sanh, trú hữu vi, biến hoại, và bị tiêu diệt.
Này ÀNANDA đã lâu nay, ngươi đối với Như Lai:
Này ÀNANDA, ngươi là người tác thành công đức. Hãy cố gắng tinh tấn lên, Ngươi sẽ chứng bậc Vô Lậu, không bao lâu đâu.”
*Thế rồi, đức Phật bảo với đại đức ÀNANDA đi vào thành KUSINÀRÀ báo tin cho hoàng tộc MALLÀ và dân chúng được biết về sự viên tịch Níp Bàn của Ngài. Tất cả mọi người hay tin đều khóc than và đã dìu dắt nhau đi đến đảnh lễ đức Phật.
Đức Phật tế độ SUBHADDA trở thành người đệ tử cuối cùng
“Này SUBHADDA năm hai mươi chín, Ta xuất gia hướng tìm chân Thiện Đạo. Trải năm mươi năm với thêm một năm, Ta là du sĩ tu Trí tu Đức.”
Những lời dạy tối hậu cho đại đức ÀNANDA
“Này các tỳ khưu, nay Ta khuyên dạy các ngươi: Các Pháp Hữu Vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật.” Đức Phật gom cả lời giáo huấn trong 45 năm vào một câu “Chớ có phóng dật” (APPAMÀDO) để nhắc nhở các vị tỳ khưu đừng dể vui, giải đãi trên đường tự tu, tự độ.
“Chúng sanh ở trên đời, từ bỏ thân ngũ uẩn, Bậc Đạo Sư cũng vậy, đấng Tuyệt Luân trên đời. Bậc Đại Hùng giác ngộ, Như Lai đã diệt độ.”
“Các hành là vô thường, Có sanh phải có diệt.
Đã sanh, chúng phải diệt, Nhiếp chúng là an lạc.”
“Không phải thở ra vào, Chính tâm trú chánh định. Không tham ái tịch tịnh, Tu sĩ hướng diệt độ.
Chính tâm tịnh bất động, Nhẫn chịu mọi cảm thọ. Như đèn sáng bị tắt, Tâm giải thoát hoàn toàn.”
“Thật kinh khủng bàng hoàng, Thật râu tóc dựng ngược. Khi bậc Toàn Thiện Năng, Bậc Giác Ngộ viên tịch.”
Lễ trà tỳ và phân chia Ngọc Xá Lợi
Nghe tin đức Phật đã viên tịch thì có cả bảy nước ở các vùng lân cận quanh xứ MALLÀ đều mong muốn có được Ngọc Xá Lợi để tạo Tháp tôn thờ, bày tỏ lòng cung kính. Đó là
Phật dạy chúng ta phải kham nhẫn.
Thật không tốt nếu có tranh giành, Khi chia Xá Lợi bậc Thượng Nhân. Chúng ta hãy đoàn kết nhất tâm, Hoan hỷ chia Xá Lợi tám phần.
Chúng ta hãy dựng Tháp mọi phương,ại Chúng mười phương tin Pháp Nhãn.”
Đó là truyền thống thời xưa như vậy.
.
Yet another one, at 15:00 PM
Yet another one, at 15:00 PM
Lorem ipsum dolor sic amet, today at 12:00 PM
Another meeting today, at 12:00 PM
Yet another one, at 15:00 PM
Lorem ipsum dolor sit amit,consectetur eiusmdd tempor incididunt ut labore et dolore magna elit enim at minim veniam quis nostrud
Lorem ipsum dolor sit amit,consectetur elit enim at minim veniam quis nostrud
Lorem ipsum dolor sic amet, today at 12:00 PM
Another meeting today, at 12:00 PM
Yet another one, at 15:00 PM
Lorem ipsum dolor sit amit,consectetur eiusmdd tempor incididunt ut labore et dolore magna elit enim at minim veniam quis nostrud
Lorem ipsum dolor sit amit,consectetur elit enim at minim veniam quis nostrud
Yet another one, at 15:00 PM