
Nhân vật : 1089
Yet another one, at 15:00 PM
Lorem ipsum dolor sic amet, today at 12:00 PM
Another meeting today, at 12:00 PM
Yet another one, at 15:00 PM
Lorem ipsum dolor sit amit,consectetur eiusmdd tempor incididunt ut labore et dolore magna elit enim at minim veniam quis nostrud
Lorem ipsum dolor sit amit,consectetur elit enim at minim veniam quis nostrud
Lorem ipsum dolor sic amet, today at 12:00 PM
Another meeting today, at 12:00 PM
Yet another one, at 15:00 PM
Lorem ipsum dolor sit amit,consectetur eiusmdd tempor incididunt ut labore et dolore magna elit enim at minim veniam quis nostrud
Lorem ipsum dolor sit amit,consectetur elit enim at minim veniam quis nostrud
Cập nhật mới Nikaya.tamhoc.org 16/7/2026
Danh sách các địa danh trong kinh điển thời Phật tại thế Ấn Độ
Danh sách các nhân vật trong thời Phật tại thế
Cập nhật 15/11/2025 Thêm các nhân vật trong Tiểu bộ Nikaya : Kinh Phật tự thuyết , Phật thuyết như vậy , Trưởng lão tăng kê, Trưởng lão ni kệ Thời gian tới Tâm Học fix hình ảnh , giới tính thời gian xuất hiện của các nhân vật trong thời Phật tại thế Thêm chức năng phân loại theo từng vùng, và 1 bảng liệt kê chi tiết các mối liên hệ.
Những trường hợp tu tập , ăn ở hiền lành nhưng bị trả quả do ác nghiệp đời trước - Thời Phật tại thế
Trong thời Phật còn tại thế, có nhiều gia đình đã theo Ngài, tiêu biểu như gia đình của các Trưởng giả như ông Anatāpindika (Tên Cấp Cô Độc) và Vua Shuddhodana (Tên Tịnh Phạn), thân phụ của Đức Phật. Những gia đình này đã trở thành tín đồ Phật tử, thực hành theo giáo lý của Đức Phật, giúp đỡ Ngài trong các hoạt động truyền bá đạo pháp, xây dựng Tăng đoàn và thực hiện các nghi lễ tôn giáo.
Những trường hợp cư sĩ và không phải tu sĩ đắc thánh quả trong thời Phật tại thế
Những trường hợp sanh thiên sau đó có liên hệ lại trong thời Phật tại thế
Các vị tu sĩ xuất thân hoàng tộc thời Đức Phật bao gồm Tôn giả La Hầu La (con trai của Đức Phật) và Tôn giả A Nan (em họ của Đức Phật). Ngoài ra, các vị tôn giả khác như Mục Kiền Liên cũng xuất thân từ gia đình Bà La Môn có tiếng tăm, tuy không phải là hoàng tộc trực tiếp.
Bài viết do Tâm Học soạn ra... đang cập nhật thêm ( có sử dụng cả google AI serach ) Trong thời Đức Phật tại thế, có Nhiều vị vua đã quy y và ủng hộ Phật giáo, nổi bật nhất là Vua Bimbisara (Vua Tần-bà-sa-la) của vương quốc Magadha và Vua Prasenajit (Vua Ba-tư-nặc) của vương quốc Kosala. Họ đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của Phật giáo sơ khai.
Cập nhật ngày 06/11/2025 + Thêm nhân vật vào Tương ưng Bộ kinh + Thêm khá nhiều nhân vật mới + Chỉnh sửa thêm nội dung cho 1 số nhân vật
Theo tinh thần Luật Tạng nguyên thủy, và cả bài kinh Phạm Võng của Trường Bộ Kinh, thì những học thuật như bùa chú, chiêm mộng, phong thủy, tướng số,… đều bị xếp chung vào loại tà môn dị thuật (tiracchànavijjà) mà một người tu Phật nên tránh xa. Lý do đơn giản là chúng vô ích trong lý tưởng giải thoát và cũng là những con đường dễ dẫn đến những ngộ nhận nguy hiểm, kéo dài cuộc trầm luân không cần thiết.
Đọc về cuộc đời Đức Phật, chúng ta không thể không để ý đến tầm quan trọng của cỏ cây trong cuộc sống Ngài. Hầu hết chúng ta đều chỉ nghe đến cội Bồ Đề Ngài ngồi toạ thiền và thành Đạo, tuy nhiên, còn nhiều cây khác nữa. Xã hội Đức Phật sinh ra dường như rất quan tâm và quý trọng cây cối. Liên hệ giữa con người và thiên nhiên thấm nhuần cả nền văn hoá, vì ai cũng thấy rõ rằng mình hoàn toàn lệ thuộc vào môi trường. Đây là khía cạnh làm hấp dẫn thêm câu chuyện về cuộc đời của bậc đạo sư khai sáng một tôn giáo có thể được gọi là từ bi nhất trong các tôn giáo lớn trên thế giới.
Tôi đến Bodh Gaya vào giữa tháng Hai dịu nắng. Vượt qua một cây cầu dài và hơi bị rung lắc, bắc qua sông Falgu, chúng tôi đến khu vực được ngành du lịch Ấn Độ giới thiệu là làng Sujātā. Tên tuổi Sujātā được sử dụng rộng rãi, từ lớp học cho trẻ em nghèo đến khách sạn sang trọng ở khu vực Bodh Gaya. Đường vào làng hẹp và bụi bặm. Ven đường, một vài nông dân đang đập lúa vàng ươm vừa mới thu hoạch trên các khoảnh ruộng. Phong cảnh giống như đất nước Việt Nam trước đây. Xe đưa chúng tôi đến một ngôi tháp bằng gạch. Tháp khá lớn và tròn đều, có thể nhận ra rất rõ từ không ảnh của Google Maps. Đọc dòng giới thiệu vắn tắt trên tấm biển màu xanh gần ngôi tháp, được biết đó là ngôi tháp của nàng Sujātā, người con gái đã dâng bát cháo sữa cho nhà khổ hạnh Siddhārtha trước khi chứng đạo. Tôi chợt nghĩ về các đạo sĩ khổ tu và tấm lòng nhân hậu của người dân Ấn.
Hai nước Cộng hòa Sakya và Koliya nằm trên hai phía của dòng sông Rohiṇī. Các thành viên thống trị của hai vương quốc này được gọi là các rājās, và người thống lãnh các rājās này được gọi là Maharājā. Cả hai vương quốc đều có quyền tự trị trên phạm vi lãnh thổ của mình. Tuy nhiên, các tiểu vương quốc này không hoàn toàn độc lập như vương quốc Vesālī, bởi vì cả hai đều là những nước chư hầu của quốc gia láng giềng hùng mạnh Kosala.
Trong Ấn Độ giáo và Phật giáo cổ đại, con rắn (Naga) là một hình tượng đa nghĩa, vừa là sinh vật bán thần thánh mang tính bảo vệ, sinh sôi, vừa là biểu tượng cho sự hủy diệt, nhưng cũng có liên quan đến sự tái sinh . Naga được miêu tả là các vị thần nửa người nửa rắn, bảo vệ kho báu và có khả năng biến hóa. Hình ảnh rắn còn gắn liền với các vị thần như Shiva (quấn quanh cổ ngài) và Đức Phật (bảo vệ ngài khỏi bão), cũng như có thể xuất hiện trong các nghệ thuật với nhiều đầu để thể hiện các ý nghĩa khác nhau.
Sau khi Đức Phật thành đạo 14 năm, một nhóm các tỳ-khưu (những người tu hành) đã không có đủ y áo sau ba tháng an cư kiết hạ (mùa mưa). Họ đã xin Đức Phật cho phép đi xin y và Đức Phật đã chấp thuận, ban hành luật cho phép Phật tử tại gia dâng y Kathina cho chư tăng. Từ đó, Lễ dâng y Kathina đã trở thành một truyền thống quan trọng trong Phật giáo, thể hiện thiện tâm của Phật tử đối với việc hộ trì Tăng đoàn.
Trong suốt cuộc đời hoằng đạo của Đức Phật, Ngài luôn là một tấm gương sáng cho các đệ tử về hạnh khất thực & ngày ăn một bữa. Ngài thực hành triệt để Pháp tri túc, không chọn lựa món ăn ngon dở, chỉ xem thực phẩm như phương tiện duy trì thân mạng để tiếp tục hoằng Pháp độ sinh. Suốt 45 năm giáo hóa, Đức Phật đã trải qua vô số bữa ăn, nhưng trong đó có những bữa ăn mang ý nghĩa đặc biệt, đánh dấu những giai đoạn quan trọng trong cuộc đời Ngài. Mỗi bữa ăn không chỉ là một sự kiện trong sinh hoạt đời thường, mà còn mang ý nghĩa thâm sâu trong giáo Pháp, thể hiện con đường giác ngộ & giải thoát của Đức Phật.
Mahāpajāpatī Gotamī (Kiều Đàm Di) là một nhân vật quan trọng trong lịch sử Phật giáo, được biết đến như vị Tỳ kheo Ni đầu tiên, cũng đồng thời là di mẫu của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ni sư đã đóng góp lớn lao trong việc thành lập Ni đoàn và mở đường cho phụ nữ tham gia con đường tu tập giải thoát.
Đại đức Yasa có bốn người bạn tên Vimala, Subahu, Punnaji và Gavampati. Khi bốn vị này đã nghe tin người bạn cao quý của mình đã cạo râu tóc và đắp y thì đến thăm và tỏ ý muốn noi theo gương lành ấy. Ngài Yasa dẫn cả bốn vào yết kiến Đức Phật, sau khi nghe Pháp, cả bốn đều đắc quả A-la-hán. >>Nhân vật Phật giáo Tại thành Benares có con một nhà triệu phú tên Yasa, trưởng thành trong khung cảnh dồi dào phong phú. Một buổi sáng, chàng dậy sớm hơn mọi khi, và lúc nhìn các nàng hầu thiếp nằm ngủ ngổn ngang bừa bãi thì lấy làm nhàm chán. Ấn tượng ghê tởm này luôn luôn ám ảnh chàng. Toàn thể đền đài nguy nga tráng lệ bấy giờ đối với chàng chỉ còn là một nơi tối tăm buồn bã, đầy dẫy những hình ảnh thô kịch xấu xa.Nhận thức tánh cách tạm bợ của đời sống phàm tục, Yasa trốn nhà ra đi. Chàng nói: "Thống khổ thay cho tôi! Đọa đày thay cho tôi!" và đi về phía Isipatana, nơi mà Đức Phật tạm ngự sau khi độ năm vị tỳ khưu (anh em Kiều-trần-như) đắc quả A-la-hán.
Thời Phật tại thế (khoảng năm 563 - 483 TCN) tương ứng với thời kỳ Văn Lang của Việt Nam, cụ thể là thời kỳ Hùng Vương thứ 6, thứ 7. Thời điểm này, đạo Phật đã được du nhập vào nước ta thông qua các đoàn thuyền buôn và các đoàn hoằng pháp của Ấn Độ.
Kinh Jivaka (kinh Trung bộ, số 55), Đức Phật dạy: “Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt không được thọ dụng: thấy, nghe và nghi vì mình mà giết. Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt không được thọ dụng. Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt được thọ dụng: không thấy, không nghe và không nghi vì mình mà giết. Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt được thọ dụng”. Kinh Àmagandha (kinh Hôi thối, kinh Tập, Tiểu bộ I) ghi lời Phật Kassapa dạy về việc “Ăn thịt không phải thối”. Theo kinh văn, đồ ăn hôi thối (àmagandha) không phải là cá thịt mà chính là sự ô uế của thân tâm. Chính sự cấu uế này đã hủy hoại đạo đức của một người chứ không phải vì ăn thịt cá:
Theo các bản sớ giải của bộ Phật Sử và kinh Bổn Sanh, sau khi vượt thành xuất gia, thái tử Sĩ-đạt-đa nghĩ rằng bộ y phục sang trọng may bằng lụa xứ Ba-la-nại mà mình đang mặc chẳng hợp với những ai đang vân du khắp nơi để tầm cầu chân lý và vì thế thái tử đã đổi nó để nhận một bộ y phục nhạt màu từ một người thợ săn vốn là hoá thân của một Phạm thiên. Bộ y phục này được xem là khởi đầu cho truyền thống mặc y phấn tảo (pāṃśukūla) hay y bá nạp (loại y được may từ những mảnh vải rách lượm từ đống rác hay nghĩa địa được giặt sạch) trong Tăng đoàn. Đại trí độ luận giải thích rằng, trong xã hội Ấn thời xưa hàng bạch y vì tham cầu dục lạc nên thích mặc nhiều y phục, lại có những nhà ngoại đạo tu khổ hạnh nên sống lõa thể, hàng đệ tử của đức Phật theo gương của Ngài xa lánh hai cực đoan này, sống đời thiểu dục, tri túc, mặc y phục đủ để che thân. Đối với đức Phật và hàng đệ tử xuất gia của Ngài, ngoài ý nghĩa liên hệ đến các yếu tố xã hội, việc thọ trì y phục còn là việc noi theo truyền thống của chư Phật trong nhiều đời.
Tiếng Phạn là Bát Đa La lại gọi là Bát vu, ứng pháp khí, ứng lượng khí. Bát vu là một trong những pháp khí mà Tỳ kheo phải mang theo bên mình dùng để khất thực, cho nên bình bát là Pháp khí thường thấy trong nhà Phật. “Nhất bát thiên gia phạn Cô thân vạn lý du Thanh mục đổ nhân thiểu Vấn lộ bạch vân đầu” Bố Đại Hòa thượng thi kệ: “Một bát cơm ngàn nhà, Thân chơi muôn dặm xa, Mắt xanh xem trần thế, Mây trắng hỏi đường qua”
Thập đại đệ tử Ni là những vị thánh Ni kiệt xuất, lỗi lạc. Mười vị thánh Ni này xuất thân từ nhiều giai cấp khác nhau trong xã hội và có hoàn cảnh cá nhân đặc biệt. Mỗi vị tiếp cận giáo pháp của Đức Phật, nỗ lực tu tập và sau đó đều chứng đắc quả vị A La Hán.
Trong xã hội Ấn Độ cổ đại thời Phật, phụ nữ chủ yếu bị giới hạn vai trò trong gia đình, không có nhiều quyền lực và địa vị xã hội thấp kém, phần lớn bị cấm tiếp cận kinh điển và không tham gia các nghi lễ tôn giáo lớn. Tuy nhiên, một số phụ nữ vẫn có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các nghi lễ tôn giáo tại gia, và Đức Phật sau đó đã cho phép phụ nữ xuất gia, thành lập ni đoàn, dù ban đầu gặp nhiều phản đối từ xã hội.
Nguyên nhân ban đầu Đức Phật từ chối cho phụ nữ xuất gia là vì lo ngại đến sự an toàn của phụ nữ trong bối cảnh xã hội Ấn Độ thời bấy giờ, nơi họ có thể dễ bị tổn hại khi sống đời du mục, du hành và đối mặt với các hiểm nguy bên ngoài. Tuy nhiên, sau khi ngài A Nan thỉnh cầu, Đức Phật đã chấp nhận với điều kiện phải tuân thủ "Bát Kính Pháp" nhằm đảm bảo sự bảo vệ và giữ gìn giới luật, đồng thời công nhận khả năng tu chứng và giải thoát bình đẳng của phụ nữ
Tên của các vị Thánh tăng, chúng tôi căn cứ vào quyển Nền Tảng Phật Giáo – Quyển VI – PHÁP HẠNH BA-LA-MẬT (Tập 1) của Tỳ-khưu HỘ PHÁP biên soạn; còn đặc hạnh của mỗi vị thì chúng tôi căn cứ vào Tăng chi bộ kinh và từ điển Pali Proper Names của G P Malalasekera biên soạn.
Giàn hỏa táng đức Phật vừa được dập tắt thì chư Tỳ-kheo bắt đầu tự hỏi: làm gì bây giờ? Trưởng lão Mahàkassapa đặc biệt quan tâm việc này, vì lời nhận xét của Tỳ-kheo Subhadda hình như cứ văng vẳng bên tai tôn giả rằng sau khi bậc Đại Sa-môn diệt độ, chư Tăng có thể làm gì tùy thích. Vì vậy, tôn giả liền triệu tập Tăng chúng lại và bảo "Chư Tôn giả, chúng ta hãy cùng đọc lại Pháp và Luật với mục đích không để cho tà giáo nào hay tà giới nào lọt vào, và không để một nhóm người tà kiến nào lớn mạnh trong khi các bậc đa văn thông tuệ lại suy yếu". (Cv 11. 1. 1, giản lược). Ý tưởng tập họp một hội đồng (sangiti) và cách trình bày phương pháp làm việc đã được chính đức Phật ban bố khi ngài có lần diễn tả cho Sa-di Cunda biết phương pháp tự trị tập thể của Giáo hội.
Đang tải
Yet another one, at 15:00 PM
Yet another one, at 15:00 PM
Lorem ipsum dolor sic amet, today at 12:00 PM
Another meeting today, at 12:00 PM
Yet another one, at 15:00 PM
Lorem ipsum dolor sit amit,consectetur eiusmdd tempor incididunt ut labore et dolore magna elit enim at minim veniam quis nostrud
Lorem ipsum dolor sit amit,consectetur elit enim at minim veniam quis nostrud
Lorem ipsum dolor sic amet, today at 12:00 PM
Another meeting today, at 12:00 PM
Yet another one, at 15:00 PM
Lorem ipsum dolor sit amit,consectetur eiusmdd tempor incididunt ut labore et dolore magna elit enim at minim veniam quis nostrud
Lorem ipsum dolor sit amit,consectetur elit enim at minim veniam quis nostrud
Yet another one, at 15:00 PM