Layout Options

  • Fixed Header
    Makes the header top fixed, always visible!
  • Fixed Sidebar
    Makes the sidebar left fixed, always visible!
  • Fixed Footer
    Makes the app footer bottom fixed, always visible!

Header Options

  • Choose Color Scheme

Sidebar Options

  • Choose Color Scheme

Main Content Options

  • Page Section Tabs
  • Light Color Schemes
Trần Nhân Tông ( Đức vua - Phật hoàng)
Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông (chữ Hán: 陳仁宗, 7 tháng 12 năm 1258 – 16 tháng 12 năm 1308) tên khai sinh là Trần Khâm (陳昑), tự là Thanh Phúc, là vị vua thứ ba của nhà Trần nước Đại Việt. Ông trị vì từ ngày 8 tháng 11 năm 1278 đến ngày 16 tháng 4 năm 1293, sau đó làm Thái thượng hoàng cho đến khi qua đời. Trần Nhân Tông được sử Việt đánh giá là một vị Hoàng đế anh minh, đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững của Đại Việt cuối thế kỷ XIII, cũng như việc bảo vệ nền độc lập và mở rộng lãnh thổ đất nước.[1][2] Ngoài ra, Trần Nhân Tông cũng là một thiền sư lớn của Phật giáo Việt Nam thời trung đại.[3] Ông là 1 trong 14 vị anh hùng dân tộc Việt Nam.
Tìm kiếm nhanh
student dp

ID:264

Các tên gọi khác

General Information

Roll : 125
Academic Year : 2020
Gender : Nam
Religion : Group
blood : B+
Trần Nhân Tông ( Đức vua - Phật hoàng)

I. Lược sử

 

TRẦN NHÂN TÔNG – ĐỨC VUA,  PHẬT HOÀNG
NGƯỜI SÁNG LẬP DÒNG THIÊN TRÚC LÂM   

(Trí Bửu)

Tôn tượng Đức vua Trần Nhân Tông núi Yên Tử

Trong diễn văn của Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết tại buổi khai mạc Đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008 tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình Hà Nội  đã khẳng định:

“Việt Nam là đất nước đa tôn giáo mà đạo Phật là tôn giáo có mặt rất sớm từ gần 2000 năm trước. Ngay từ buổi đầu tiên, với tư tưởng Từ bi, hỷ xả, Phật giáo đã được nhân dân Việt Nam đón nhận, luôn đồng hành cùng dân tộc với phương châm nhập thế, gắn bó giữa Đạo và Đời phấn đấu vì hạnh phúc an vui cho con người. Trong các thời đại, thời nào lịch sử Việt Nam cũng ghi nhận những nhà Sư đại đức, đại trí đứng ra giúp đời, hộ quốc, an dân. Đặc biệt lịch sử Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công lao của vị vua anh minh Trần Nhân Tông có công lớn lãnh đạo nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Khi đất nước thái bình, Người nhường ngôi từ bỏ giàu sang, quyền quý, tìm đến nơi non cao Yên Tử để học Phật tu hành, sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm, một dòng Thiền riêng của Việt Nam tồn tại mãi tới ngày nay.”

Sách Đại Việt Sử ký toàn thư ghi: Vua Trần Nhân Tông tên “húy là Khâm, con trưởng của Thánh Tông, mẹ là Nguyên Thánh Thiên Cảm hoàng thái hậu, sinh năm Mậu Ngọ, Nguyên Phong năm thứ 8, tháng 11, ngày 11, được tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng. Hai cung đều cho là lạ, gọi là Kim Tiên đồng tử. Trên vai bên trái có nốt ruồi đen, cho nên có thể cáng đáng được việc lớn, ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, băng ở am Ngoạ Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức Lăng. Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần”.

 Nhân dịp kỷ niệm 709 năm ngày nhập niết bàn của Phật hoàng Trần Nhân Tông, đức vua Phật của dân tộc Việt (16.11.1308-16.11.2017) ôn lại cuộc đời của Ngài để chúng ta tự hào về con người Việt, văn hóa, Phật giáo Việt Nam.

Vua Trần Nhân Tông là một con người có thật trong lịch sử bằng xương, bằng thịt như bao con người bình thường khác, sinh ra và lớn lên tại kinh đô Thăng Long.

Năm 1284 được tin quân giặc tập trung ở Hồ Nam tới 50 vạn tên, Vua Nhân Tông liền trao cho Trần Quốc Tuấn chức Quốc công tiết chế tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang để lo chống giặc. Ngoài ra Trần Nhân Tông còn tổ chức triệu tập các bô lão về họp ở điện Diên Hồng để hỏi ý kiến về đường lối giữa lúc nước sôi lửa bỏng. Hội nghị Diên Hồng là một đại hội đại biểu nhân dân thời ấy, đã bày tỏ quyết tâm sắt đá của toàn dân đánh giặc đến cùng, đem lại quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc cho muôn dân Đại Việt.

Sau khi chiến thắng giặc ngoại xâm Nguyên Mông, Vua nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, từ bỏ ngai vàng, vào Yên Tử tu hành rồi hiển Phật… – một Hoàng Đế minh quân kỳ tài, góp phần tô thêm trang sử vàng chói lọi của dân tộc thời nhà Trần, tạo đỉnh cao nền văn minh Đại Việt.

Triều đại nhà Trần kéo dài 175 năm, từ năm 1225 đến năm 1400 và trải qua 14 đời vua. Trần Nhân Tông là đời vua thứ 3, sau ông nội là vua Trần Thái Tông và vua cha là Trần Thánh Tông.

Ngài sinh ngày 7 tháng 12 năm 1258, tức vào ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ và mất ngày 16 tháng 11 năm 1308 tức vào ngày 03 tháng 11 năm Mậu Thân.

 Thuở nhỏ, nhà vua thường theo vua cha lên chơi núi Yên Tử, sớm bộc lộ chí xuất gia tu hành.

Năm 16 tuổi, được vua cha lập làm Hoàng Thái tử, Ngài hai lần cố xin nhường ngôi lại cho em là Đức Việp, nhưng Vua Trần Thánh Tông không cho, vì thấy Ngài có khả năng gánh vác việc lớn.

Năm 21 tuổi, Ngài được vua cha truyền ngôi báu (1297) và đã làm vua suốt 14 năm. Ngài là bậc minh quân có biệt tài kinh bang tế thế, có công lớn trong việc lãnh đạo toàn dân hai lần kháng chiến chống Nguyên Mông thắng lợi, xây dựng đất nước phồn vinh.

Tháng 7 năm 1299, Ngài cho xây dựng một am thiền trên núi Yên Tử gọi là Ngự Dược Am và theo Thánh Đăng Lục tháng 10 năm ấy Vua len núi Yên Tử xuất gia tu hành, sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử.

Mười lăm năm ở ngôi Thái Thượng Hoàng, cũng là mười lăm năm vua Nhân Tông tu hành.

“Thế tôn bỏ ngai vàng quý báu, nửa đêm vượt thành, bỏ áo rồng cao sang, non xanh cắt tóc, mặc chim thước làm tổ trên đỉnh đầu, mặc con nhện chăng tơ trên vai cánh, tu pháp tịch diệt để tỏ đại chân như, dứt cõi trần duyên mà thành bậc chính giác. Đức tổ ta là Điều Ngự Nhân Tông Hoàng đế ra khỏi cõi trần, thoát vòng tục lụy, bỏ chốn cung vua ra giữa sơn môn…”

“Công danh chẳng trọng.
Phú quý chẳng màng.
Tần Hán xưa kia,
Xem đà hèn hạ.
Yên bề phận khó,
Kiếm chốn dưỡng thân.
Khuất tịch non cao.
Náu mình sơn dã.
Vượn mừng hủ hỷ
Làm bạn cùng ta.
Vắng vẻ ngàn kia
Thân lòng hỷ xả.
Rồi
Dốc chí tu hành
Giày sồi, áo vá

Thân này chẳng quản,
Bữa đói, bữa no.
(Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca, Trần Nhân Tông) 

Có điều, nhà vua không phải cứu đời theo cách của một vị Vua, mà theo cách của bậc thánh nhân, bậc vĩ nhân.

Bởi vì làm vua chỉ chăn dân trăm họ, làm Phật cứu độ cả muôn loài. Tấm gương Phật hoàng tuy ẩn mà hiện, tuy mờ mà lại sáng. Ngài vượt qua cái bình thường để trở thành cái phi thường.

Cho nên, hàng ngàn năm qua, bao triều đại thịnh suy trị vì đất nước, bao người đã làm vua. Song có ai được mọi người ngưỡng vọng, tôn thờ và nhớ mãi như Phật hoàng Trần Nhân Tông? 

Nếu ngày xưa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đắc đạo thành Phật là nhờ vào phép tu Thiền Định dưới gốc cây Bồ Đề thì Vua Trần Nhân Tông cũng tu thiền, luyện pháp tu thiền để đạt đạo.

Thiền (Dhyana) là sự tập trung tư duy cao độ, được các nhà tu hành thực hiện bằng cách ngồi im lặng (tĩnh tọa) gọi là tọa thiền, tham thiền, nhập định hay thiền định.

Tinh thần Thiền Trúc Lâm của Ngài đã thể hiện trong bài kệ:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
居塵樂道且隨緣
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
饑則飧兮困則眠
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
家中有宝休寻覓
Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.
对鏡無心莫問禪

Tạm dịch:

Sống ở trên đời theo với hoàn cảnh mà vui với đạo
Đói thì ăn, mệt thì ngủ
Của báu sẵn trong nhà khỏi tìm kiếm
Đứng trước cảnh vật mà vô tâm thì không phải hỏi Thiền là gì.

 Dịch thơ:

Ở đời vui đạo, hãy tùy duyên,
Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền.
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền.

Giáo pháp của Đạo Phật có tám vạn bốn ngàn pháp môn tu, giống như nhiều dòng sông về chung một bến bờ giác ngộ và giải thoát. Các giáo phái khác dựa vào kinh điển, giáo lý Phật dạy để tu trì, Giáo phái Thiền chủ trương dùng tâm mà truyền tâm. Phật tại tâm. Tâm tức Phật. Phật tức Tâm. Nếu ai thấy được tâm tịnh thì lập tức thành Phật. Thiền phái cho rằng tất cả kinh điển chẳng qua như ngón tay chỉ mặt trăng. Đến như mặt trăng chân lý thì chúng ta không thể dùng văn tự ngôn ngữ mà diễn tả hay hiểu rõ được. Vì thế, người tu hành theo pháp môn Thiền Định đứng ngoài kinh luận. Chỉ dùng phép tâm ấn của Phật tổ để làm phương pháp truyền tâm cho thế hệ sau. Chỉ khi nào đôi bên hiểu nhau, thông cảm đạo lý, truyền thụ được chân lý thì mới thực hiện được phép tâm truyền.

Trong khi tham thiền nhập định người tu hành dùng phép điều thân và điều tâm. Điều thân bằng cách tiết chế sự ăn uống, hơi thở và cơ thể theo những cách thức nhất định của phép tu Thiền Định. Điều tâm bằng cách đưa tâm mình trở về một trạng thái tĩnh lặng tuyệt đối, không nghĩ việc dữ lành, thoát ly những ý niệm mê ngộ, sinh tử, tiến đến mà an trú vào cảnh giới tuyệt đối, dẹp trừ ý niệm và ngôn ngữ: trừ tuyệt tâm tư. Cả thân lẫn tâm trở về với trạng thái an lạc, tĩnh lặng. Đến một lúc nào đó, tất cả các ý niệm đều tiêu tán, hơi thở cũng gần như đoạn tuyệt, chỉ có một trạng thái sáng suốt, bên trong không thấy có thân tâm, bên ngoài không thấy có thế giới, đó chính là cảnh giới ngộ đạo.

Người tu theo pháp môn Thiền Định rất cần một nơi yên tĩnh, thanh tịnh để ngồi thiền. Núi rừng Yên Tử cách biệt với phàm trần là một nơi lý tưởng để tu thiền.

Không bàn tới yếu tố tĩnh mịch, linh thiêng của ngọn núi này mà xét tới tính khoa học của vấn đề, các nhà nghiên cứu cho rằng: Những quả núi lâu đời giống Yên Tử như Hy Mã Lạp Sơn (Tây Tạng), Phú Sỹ (Nhật Bản)… đều có lực từ trường khá lớn. Những luồng điện này sẽ làm tăng thêm lực cho dòng lưu nhân điện trong thân thể những người ngồi thiền nơi núi đó. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng nhập định và thành đạo dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn, cạnh núi Tượng Đầu. Sau khi đắc đạo, ngài vẫn thường cùng với các đệ tử ngồi thiền định trên non Linh Thứu.

Vua Trần Nhân Tông về Yên Tử, bởi nơi này thuở trước, đã lưu danh kỳ tích An Kỳ Sinh tu tiên.

Người tu thiền theo chính pháp và đạt đạo có được những quyền năng siêu việt mà người thường không dễ gì có được. Truyền thuyết Phật giáo truyền rằng:

Nhờ phép tu Thiền Định, Tôn Giả Mục Kiền Liên có khả năng xuất thần du hành các cõi Phật. Xuống cả địa ngục để quan sát chúng sinh, bay qua mười ức cõi Phật đến quốc độ của Đức Phật Thích Ca có tầm âm vang xa.

Nhờ phép tu Thiền Định, Tôn Giả Phú Lâu Na cùng Mục Kiều Liên đã từng vâng mệnh của Đức Phật Thích Ca xuất thân từ hư không bay vào trong ngục giảng thuyết pháp yếu và truyền trao tâm pháp yếu cho Vua Tần-Đà-Ta La là vua nước Ma-Kiệt-Đà đang bị giam cầm. Tôn giả A Na Luật tuy bị mù lòa có khả năng thiên nhãn thông (nhìn xa ngàn dặm). Tôn giả Xá Lợi Phất mắt có thể nhìn thấy 60 tiểu kiếp người về trước, Tôn giả A Nan Đà nhìn thấy cõi Tây Phương Cực lạc mà ở đó Đức Phật A Di Đà đã phóng ra muôn vàn ánh hào quang rực rỡ. Đức Thích Ca Mâu Ni có phép tha tâm thông nên từ xa đã đọc được tư tưởng của đại đệ tử Tu-Bồ-Đề.

Các nhà sư tu Thiền khẳng định rằng: Tuy ngồi thiền trong am cỏ Ngọa Vân trên đỉnh núi Yên Tử. Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đã dùng hào quang định lực của mình mà quán chiếu trong, ngoài, trên dưới, mọi sự với Ngài đều thông tỏ.

Trên đỉnh núi Yên Sơn, cách biệt với kinh kỳ. Vua Phật Nhân Tông vẫn rõ được triều chính, nhiều lần về triều khuyên bảo vua Anh Tông tu dưỡng tâm tính, kìm bớt lòng dục, xa rời tửu sắc, gìn giữ chân tâm… xứng đáng trở thành bậc quân vương tôn kính. Ngài còn biết rõ được biên cương phương bắc, phương tây và phương nam, có được những quyết sách lớn lao và đúng đắn nhằm gìn giữ tình bang giao giữa các nước láng giềng và Đại Việt, giữ vững, nền an ninh chính trị nước nhà.

Trên non Yên Tử, Ngài hoàn thiện hệ thống giáo lý của Pháp phái Trúc Lâm Giáo lý Trúc Lâm đã trở thành nền tảng tư tưởng và đạo đức của thời đại hoàng kim triều Trần, giai đoạn Phật giáo là Quốc giáo.

Cho nên, việc từ bỏ ngôi vua vào núi để tu hành của Vua Trần Nhân Tông tưởng chừng xuất thế, nhưng đích thực lại nhập thế tích cực. Từ chức vụ cao sang của Nhà Vua, Vua Trần Nhân Tông trở về ngôi tôn quý Nhà Phật. Vua từ cái nhất thời, hữu hạn mà trở về cái vô hạn, vĩnh hằng. Không phải lúc chết, Vua Trần Nhân Tông mới hóa Phật. Danh hiệu Vua Bụt (Phật Hoàng) đã được tôn vinh cho Vua Trần khi Ngài còn tại thế.

“Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Tâm lặng mà biết đó chính là tâm Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ không cần đi tìm cực khổ ở bên ngoài”. (Thiền Tông chỉ nam)

“Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
年少何曾了色空,
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung?
一春心事百花中?
Như kim khám phá Đông hoàng diện,
如今勘破東皇面,
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng?”
 禪板蒲團看墜紅?
春晚 (Xuân Vãn, Trần Nhân Tông)

Tạm dịch:

Thuở bé đâu từng rõ sắc không
Xuân về rộn rã nức trong lòng.
Chúa Xuân nay bị ta khám phá,
Ngồi lặng nhìn xem rụng cánh hồng.

Kỷ niệm 709 năm ngày nhập diệt của Phật hoàng Trần Nhân Tông là một sự kiện có nhiều ý nghĩa, giờ đây hàng triệu cháu con của Rồng Tiên đất Việt và bạn bè bốn phương lại có dịp về Yên Tử lễ Phật, vãng cảnh.

Tưởng niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông. Ông vua đã  khước từ phú quý, vinh hoa, tước vị cao sang, giã biệt chốn phồn hoa, lên non xanh Yên Tử tu hành, trút bỏ một cuộc sống của người thường để  trở thành một đức Đại Hùng Đại Lực, Đại Bi, Đại Trí và Đại Dũng, xứng danh là Đức Phật của dân  tộc Việt  Nam..
NNC Trí Bửu -Tháng 12/2017
(Thư Viện Hoa Sen)

II. Thơ Trần Nhân Tông

ĐỌC THƠ TRẦN NHÂN TÔNG
Nguyễn Lương Vỵ

Trong kho tàng thi ca cổ điển Việt Nam, Trần Nhân Tông là nhân vật lịch sử rất đặc biệt: Ngài không chỉ là một bậc minh quân lỗi lạc hiếm có, mà còn là một vị thiền sư đã liễu ngộ Phật pháp (được người đương thời tôn xưng là Điều Ngự Giác Hoàng hay Phật Hoàng, trở thành vị tổ sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử của Phật giáo Việt Nam), đồng thời, cũng là một nhà thơ lớn của dân tộc.

Tác phẩm thơ của Trần Nhân Tông, trải qua nhiều thời kỳ loạn lạc chiến tranh đã bị thất tán khá nhiều. Đến nay, di sản thơ của Trần Nhân Tông đã được sưu tập và lưu giữ chỉ còn khoảng trên dưới 35 bài và một số câu thơ lẻ nằm rải rác ở các bài giảng, ngữ lục, phú… Tuy số lượng thơ còn lại khá khiêm tốn, nhưng giá trị về nội dung tư tưởng, nghệ thuật trong thơ Trần Nhân Tông được người đương thời, cũng như các thế hệ đời sau rất tâm đắc, ca ngợi và ngưỡng mộ.

Thơ của một vị vua anh minh, đởm lược và nhân hậu

Trước hết, với tư cách là vị vua của một nước nhỏ phương Nam, luôn bị áp lực đe dọa xâm lược của nước lớn láng giềng phương Bắc, vua Trần Nhân Tông đã nối nghiệp vua cha Trần Thánh Tông và là một vị vua anh minh, đởm lược, nhân hậu: Lên ngôi khi còn rất trẻ, chưa tròn 20 tuổi (1278), nhưng đã hai lần (1285, 1287) thống lĩnh toàn dân, toàn quân, đánh thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược nước ta của quân Nguyên khi tuổi đời chưa đến 30 tuổi. Thật là một vị vua thiên tài kiệt xuất hiếm có.

Theo sử sách ghi lại, ngày 26 tháng chạp năm Giáp Thân (01.1285), quân Nguyên tấn công cửa ải Chi Lăng, Nội Bàng. Tướng Trần Hưng Đạo (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn) cho lui quân về Vạn Kiếp để tránh sức tiến quân ào ạt của 50 vạn quân Nguyên. Vua Trần Nhân Tông đã lập tức lên thuyền ra Hải Đông gặp tướng Trần Hưng Đạo. Nhà vua không kịp ăn trưa, mãi đến chiều, người lính hầu Trần Lai mới dâng cơm. Tướng Trần Hưng Đạo vâng lệnh vua, chọn những người khỏe mạnh và dũng cảm làm tiên phong, lên thuyền vượt biển vào Nam. Thế quân ta mạnh dần, vô cùng phấn chấn.

“Cối Kê cựu sự quân tu ký,
Hoan Ái do tồn thập vạn binh.”

(Cối Kê chuyện cũ, ngươi nên nhớ,
Hoan Ái vẫn còn mười vạn quân.)

Cũng theo sử sách ghi lại, vua Trần Nhân Tông đã viết hai câu thơ trên và cho gắn ở đuôi thuyền, nhằm hiệu triệu lòng tin tất thắng cho tất cả tướng sĩ.

Hai câu thơ ngắn, nhưng tỏ rõ một tầm nhìn chiến lược, một bản lĩnh lớn lao: Nhà vua liên hệ với tích “Cối Kê” thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tàu (lúc Việt Vương Câu Tiễn phải lui quân về Cối Kê để dưỡng quân đợi thời cơ, đánh bại được Ngô vương Phù Sai, lập nên nước Việt cường thịnh, bao gồm cả lãnh thổ nước Ngô) – với việc châu Hoan châu Ái (thuộc vùng Thanh Hóa – Nghệ Tĩnh ngày nay) của nước Đại Việt lúc bấy giờ, vẫn còn ém giữ được 10 vạn quân, sẵn sàng chờ lệnh xung trận chiến đấu chống quân Nguyên trong thời điểm đó. Nhà vua đã tỏ rõ bản lĩnh đỡm lược của một vị vua trẻ đầy khí phách và tài năng thao lược.

Sau ngày toàn thắng quân Nguyên, khi đến viếng lăng mộ vua Trần Thái Tông (ông nội của vua Trần Nhân Tông), chứng kiến cảnh mấy con ngựa đá trước lăng của ông nội mình bị lấm bùn (do trước đây, bọn giặc Nguyên muốn đào lăng phá hủy nhưng không kịp), nhà vua xúc động nhớ lại cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ Nhất (1258) do vua Trần Thái Tông lãnh đạo, nên đã cảm khái viết hai câu thơ:

“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.”

(Đất nước hai lần lao ngựa đá,
Núi sông ngàn thuở vững âu vàng.)

Chỉ cô đọng, ngắn gọn trong 2 câu thơ 7 chữ, nhưng mỗi chữ như vết khắc in sâu trong tâm tưởng nhà vua: Vừa bày tỏ lòng tri ân, hoài niệm người xưa, vừa là niềm cảm khái mang nét đẹp bi hùng và lòng tự hào, lòng tin son sắt của vị minh quân yêu nước yêu dân!

Cũng vậy, bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt “Xuân Nhật Yết Chiêu Lăng” (Ngày Xuân Viếng Chiêu Lăng) cô đọng nhưng đong đầy cảm xúc:

“Tì hổ thiên môn túc,
Y quan thất phẩm thông.
Bạch đầu quân sĩ tại,
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong.”

(Ngàn cửa, uy nghiêm lính,
Bảy phẩm, chỉnh tề quan.
Người lính bạc đầu nhắc,
Chuyện Nguyên Phong còn vang.)

Chuyện Nguyên Phong là nhắc về niên hiệu Nguyên Phong thứ 7 của vua Trần Thái Tông: Ngày 17.01.1258, quân Nguyên tràn tới cánh đồng Bình Lệ (phía Nam Bạch Hạc, Việt Trì, Phú Thọ), vua Trần Thái Tông đã trực tiếp chỉ huy cuộc chiến đấu chống giặc: “Vua tự làm tướng đốc chiến đi trước, xông pha tên đạn…”(theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư). Đến ngày 29.01.1258, tức chỉ nửa tháng sau, vua Trần Thái Tông cùng thái tử Hoàng (vua Trần Thánh Tông sau nầy) đã phá tan quân Nguyên ở Đông Bộ Đầu, chiếm lại Thăng Long, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ Nhất.

“Người lính bạc đầu” là nói về những người lính 27 năm về trước (trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược nước ta lần thứ 1), nay đã là những ông già đầu bạc, ngồi ôn lại chuyện cũ với lòng tự hào và xúc động.

Mặc dù đã đánh thắng quân nhà Nguyên xâm lược, nhưng trong chính sách ngoại giao với đối phương, vua Trần Nhân Tông luôn giữ phong thái đĩnh đạc: Khiêm hạ nhưng không yếu hèn, ôn nhu nhưng dũng lược, khoan hòa nhưng vẫn kiên định vững vàng, khiến cho đối phương phải nể nang và tôn trọng.

Những bài thơ “Quỹ Trương Hiển Khanh Xuân Bính” (Tặng Bánh Ngày Xuân Cho Trương Hiển Khanh), “Tống Bắc Sứ Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Mai” (Tiễn Sứ Phương Bắc Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Mai), “Tặng Bắc Sứ Lý Tư Diễn” (Tặng Sứ Phương Bắc Lý Tư Diễn), “Họa Kiều Nguyên Lãng Vận” (Họa Vần Thơ Của Kiều Nguyên Lãng), “Tống Bắc Sứ Ma Hợp, Kiều Nguyên Lãng” (Tiễn Sứ Phương Bắc Ma Hợp, Kiều Nguyên Lãng) đã minh chứng rõ ràng cho những điều vừa nêu trên.

Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt “Quỹ Trương Hiển Khanh Xuân Bính” (Tặng Bánh Ngày Xuân Cho Trương Hiển Khanh) được viết trong buổi tiệc chiêu đãi Trương Hiển Khanh (tức Trương Lập Đạo) sang sứ nước Đại Việt lần thứ hai, năm 1291. Nội dung bài thơ khá đơn giản: Miêu tả cảnh họp mặt vui vẻ với sứ thần phương Bắc giữa tiết hàn thực, mồng ba tháng Ba (tiết Thanh Minh), vào cuối mùa Xuân, không khí ấm áp trong lành, nhưng ngầm ý bày tỏ niềm tự hào về vẻ đẹp văn hóa vốn đã có lâu đời của nước Đại Việt. Vẻ đẹp tuy dân dã, dung dị trên mâm bánh trao tặng Trương Hiển Khanh, nhưng bài thơ hàm chứa niềm tự hào về tầng sâu văn hóa của một đất nước vốn đã có nền văn hiến lâu đời:

“Giá Chi vũ bãi, thí Xuân sam,
Huống trị kim triêu tam nguyệt tam.
Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bính,
Tòng lai phong tục cựu An Nam.”

(Giá Chi múa xong, thử áo Xuân,
Lại thêm hàn thực, tiết thanh nhuần.
Bánh rau như ngọc hồng ăm ắp,
Tục Việt xưa nay đẹp bội phần.)

Trong bài thơ họa đáp lại, ngỏ lời cảm tạ với vua Trần Nhân Tông, Trương Hiển Khanh đã viết một cách trân trọng, thủ lễ:

“An Nam tuy tiểu văn chương tại,
Vị khả khinh đàm tỉnh để oa.”

(Nước An Nam tuy nhỏ nhưng đã có văn chương,
Chưa thể nói một cách nông cạn, xem thường họ là ếch ngồi đáy giếng.)

Khi tiễn hai sứ phương Bắc là Lý Trọng Tân và Tiêu Phương Nhai về nước, vua Trần Nhân Tông đã viết bài thơ thất ngôn tứ tuyệt “Tống Bắc Sứ Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai” để chia tay với tình cảm chân thành, nhưng vẫn bày tỏ mong ước bang giao giữa hai nước được ôn hòa, tôn trọng lẫn nhau và được gìn giữ lâu dài. Lời lẽ trong bài thơ khiêm hạ, nhưng cũng có ngụ ý nhắc nhở tế nhị với vương triều phương Bắc rằng: Không nên dấy lên cảnh đao binh xâm lược phương Nam nữa, để cho dân hai nước được an hưởng thái bình:

“Khảm khảm linh trì noãn tiễn diên,
Xuân phong vô kế trụ quy tiên,
Bất tri lưỡng điểm thiều tính phúc,
Kỷ dạ quang mang chiếu Việt thiên.”

(Thăm thẳm Linh Trì, tiệc ấm đưa,
Gió Xuân khôn giữ ngọn roi xưa.
Chẳng hay phước báu, sao hai sứ,
Chiếu sáng trời Nam được mấy khuya.)

Cũng vậy, năm 1288, quân nhà Nguyên bị quân nhà Trần đánh bại, Thoát Hoan phải theo đường tắt chạy trốn. Ô Mã Nhi và Tích Lệ Cơ bị bắt. Sau đó, theo đối sách ngoại giao mềm mỏng, vua Trần Nhân Tông đã cử sứ sang vương triều Nguyên để “cống” và dâng biểu với lời lẽ khiêm hạ “xin lỗi”. Vì vậy, năm 1289, vua nhà Nguyên cử sứ Lý Tư Diễn sang nước ta, chiêu dụ bằng chiếu “tha tội”, phong tước cho vua nhà Trần như cũ. Đồng thời, yêu sách với vua nhà Trần trao trả các tướng đã bị bắt. Trong buổi tiệc chiêu đãi nầy, Lý Tư Diễn làm thơ, vua Trần Nhân Tông cũng đã viết bài thơ thất ngôn bát cú “Tặng Bắc Sứ Lý Tư Diễn” để họa lại:

“Vũ lộ uông dương phổ Hán ân,
Phượng hàm đan chiếu xuất hồng vân.
Thác khai địa giác giai hòa khí,
Tịnh hiệp thiên hà tẩy chiến trần.
Tận đạo tỉ thư thập hàng hạ,
Thắng như cầm điện ngũ huyền huân.
Càn khôn kiêm ái vô Nam Bắc,
Hà hoạn vân lôi phục hữu truân.”

(Ơn Hán như mưa rưới khắp nơi,
Chiếu son phượng ngậm, mây hồng phơi.
Đất nước mở mang hòa khí hẵn,
Thiên hà rửa sạch chiến tranh rồi.
Mươi hàng chiếu chỉ đâu nhiều lắm,
Năm dây đàn quí phải nhường thôi.
Trời đất thương đều Nam với Bắc,
Gian khó lo gì, sấm sét trôi.)

Lời lẽ trong bài thơ khá trân trọng, nhún nhường, “Tận đạo tỉ thư thập hàng hạ / Thắng như cầm điện ngũ huyền huân” (Mươi hàng chiếu chỉ đâu nhiều lắm / Năm dây đàn quí phải nhường thôi). “Mươi hàng chiếu chỉ” mà giá trị vẫn hơn “Năm dây đàn quí”, thể hiện cái ý khiêm hạ, “biết người biết mình”. Trân trọng, nhún nhường nhưng phong thái vẫn đĩnh đạc, đường hoàng với niềm tin: “Càn khôn kiêm ái vô Nam Bắc / Hà hoạn vân lôi phục hữu truân.” (Trời đất thương đều Nam với Bắc / Gian khó lo gì, sấm sét trôi).

Năm 1301, Kiều Nguyên Lãng (Kiều Công Lượng) là Thị lang bộ Lễ, nhân vật chủ chốt của đoàn sứ nhà Nguyên sang nước ta. Trong buổi tiệc chiêu đãi tiễn khách về nước, vua Trần Nhân Tông đã viết bài thơ thất ngôn bát cú “Họa Kiều Nguyên Lãng Vận” (Họa Vần Thơ Của Kiều Nguyên Lãng):

“Phiêu phiêu hành lý lĩnh vân nam,
Xuân nhập mai hoa chỉ lưỡng tam.
Nhất thị đồng nhân thiên tử đức.
Sinh vô bổ thế trượng phu tàm.
Mã đầu phong tuyết trùng hồi thủ,
Nhãn để giang san thiểu trụ tham.
Minh nhật Lô giang yên thủy khoát,
Bồ đào nộn lục tẩy tâm đàm.”

(Như mây bay, nhẹ bước về Nam,
Mùa Xuân, mai lác đác khoe mầm.
Vua hiền đức lớn, thương trăm họ,
Trai tài chí cả, nợ muôn dân.
Tuyết rung đầu ngựa, niềm lưu luyến,
Mắt chứa non sông, nhịp lắng thầm.
Ngày mai sóng nước sông Lô tiễn,
Bồ đào cạn chén ấm lòng trần.)

Sau khi bày tỏ ân tình với “thượng quốc”: “Nhất thị đồng nhân thiên tử đức / Sinh vô bổ thế trượng phu tàm” (Vua hiền đức lớn, thương trăm họ / Trai tài chí cả, nợ muôn dân) rồi cảm khái: “Mã đầu phong tuyết trùng hồi thủ / Nhãn để giang san thiểu trụ tham” (Tuyết rung đầu ngựa, còn lưu luyến / Mắt chứa non sông, nhịp lắng thầm), rồi bày tỏ mong ước, hy vọng: “Minh nhật Lô giang yên thuỷ khoát / Bồ đào nộn lục tẩy tâm đàm”(Ngày mai sóng nước sông Lô tiễn / Bồ đào cạn chén ấm lòng trần). Đúng là giọng thơ nghĩa khí đĩnh đạc của một bậc minh quân, giàu sức rung động, cảm hóa đối phương bằng chính tấm lòng nhân hậu của mình.

Trong dịp nầy, khi tiễn Ma Hợp và Kiều Nguyên Lãng về nước, vua Trần Nhân Tông đã viết thêm bài thơ thất ngôn bát cú “Tống Bắc Sứ Ma Hợp, Kiều Nguyên Lãng” (Tiễn Sứ Phương Bắc Ma Hợp, Kiều Nguyên Lãng) với lời chào tiễn biệt trân trọng và tình nghĩa, kèm theo lời nhắn nhủ, nhắc nhở tế nhị với vương triều phương Bắc về chiếu Trung Thống năm 1261 của Hốt Tất Liệt, vua nhà Nguyên, đại ý nói: “Các phong tục và mũ áo ban cho các quan, nước Đại Việt được theo lệ cũ của mình mà sử dụng.” (Ngoài ra, vua nhà Nguyên còn răn bảo các tướng phía quân Nguyên ở Vân Nam không được đem quân lấn chiếm, cướp bóc và quấy nhiễu vùng biên giới nước Đại Việt). Cuối bài thơ có đoạn:

“… Tiết lăng chướng vụ thân vô dạng,
Tiên phất Xuân phong mã hữu tham.
Đỉnh ngữ nguyện ôn Trung Thống chiếu,
Miễn giao ưu quốc mỗi như đàm.”

(… Cờ tiết khí hung, người vững bước,
Gió Xuân roi vút, ngựa ghìm chân.
Trung Thống chiếu xưa, lời hệ trọng,
Vận nước lo toan được bớt dần.)

Lời lẽ đoạn thơ trên rất ôn nhu, chân thành. Chiếu Trung Thống nhắc lại trong bài thơ còn được gọi là “đỉnh ngữ”(lời chuông vạc), nghĩa là lời hệ trọng của vua đã ban ra, phải vâng phục và làm theo. Vì vậy, lời nhắc nhở của vua Trần Nhân Tông thật thấu tình đạt lý, buộc đối phương phải suy nghĩ, nếu muốn việc bang giao giữa hai nước được duy trì tốt đẹp.

*

Năm 1290, vua Trần Nhân Tông đem quân đi đánh nước Lào, do vua Lào bội ước, nghe lời xúi giục của nhà Nguyên, tạo điều kiện cho quân nhà Nguyên tấn công nước ta từ phía Tây Nam. Bài thơ thất ngôn bát cú “Tây Chinh Đạo Trung” (Trên Đường Chinh Tây), nhà vua đã viết trên đường hành quân chinh phạt:

“Cẩm phàm khinh sấn lãng hoa khai,
Bồng để yêm yêm thủ bất đài.
Tam Giáp mộ vân vô nhạn đáo,
Cửu Than minh nguyệt hữu long lai.
Thê lương hành sắc thiêm cung mộng,
Liêu loạn nhàn sầu đáo tửu bôi.
Hán Vũ phiên chiêu cùng độc báng,
Nam nhi đắc đắc nhược vi tai.”

(Thuyền gấm rượt nhau tung sóng hoa,
Chẳng ngẩng đầu lên, mui ướt nhòa.
Tam Giáp mây chiều, tin nhạn vắng,
Cửu Than trăng sáng, bóng rồng sa.
Hành cung nuối mộng thêm sầu nhớ,
Chén rượu vơi sầu một bóng ta.
Vua Hán đánh Phiên, đời chán ghét,
Làm trai như vậy, đáng khen à?)

Bút pháp giản dị nhưng rất tài hoa, nhạy cảm, giàu sức liên tưởng khi tác giả nhìn phong cảnh hùng vĩ của thiên nhiên trên đường hành quân: “Tam Giáp mộ vân vô nhạn đáo / Cử Than minh nguyệt hữu long lai” (Tam Giáp mây chiều, tin nhạn vắng / Cửu Than trăng sáng, bóng rồng sa). Hai câu cuối của bài thơ, “Hán Vũ phiên chiêu cùng độc báng / Nam nhi đắc đắc nhược vi tai!” (Vua Hán đánh Phiên, đời chán ghét / Làm trai như vậy, đáng khen à?!) liên tưởng đến việc vua nhà Hán đánh nước Phiên ngày xưa để bày tỏ lòng mình rằng không muốn chuyện binh đao với nước Lào (chỉ là chuyện bất đắc dĩ), không muốn mang tiếng hiếu chiến như vua nhà Hán, cũng là xuất phát từ tấm lòng bi mẫn của một vị vua đầy lòng nhân hậu, không muốn dấy lên cảnh chiến tranh máu lửa, khiến cho hai dân tộc phải rơi vào cảnh tang thương, chết chóc.

Một thiền-sư-thi-sĩ thấu triệt Đời và Đạo

Trần Nhân Tông là một vị vua nổi tiếng “thân dân”. Ngài thấu hiểu tình cảnh đau thương, ly tán của muôn dân trong chiến tranh, nhất là thân phận của những người cô phụ ở hậu phương, khi người chồng phải ra chiến trường đánh giặc. Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt “Khuê Oán” (Nỗi Oán Nơi Phòng Khuê), người đọc có cảm tưởngnhư có tiếng than thầm của người vợ đang sống trong cảnh cô quạnh, nhung nhớ, mong chờ:

“Thụy khởi câu liêm khán trụy hồng,
Hoàng ly bất ngữ oán đông phong.
Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoại,
Hoa ảnh chi đầu tận hướng đông.”

(Ngủ dậy cuốn rèm, xem hồng rơi,
Oanh không ca, oán gió Xuân thôi.
Ngờ đâu chiều rụng lầu Tây đó,
Bóng hoa vươn cánh hướng Đông rồi.)

Chẳng những có lòng nhân hậu với con người, vị thiền-sư-thi-sĩ còn có lòng thương cảm ngay cả với vật dụng gần gũi. Bài thơ tứ tuyệt “Trúc Nô Minh” (Bài Minh Trúc Nô) khắc ghi trong lòng hình ảnh chiếc gối tựa (hay chiếc gối kê tay) được đan bằng trúc, luôn ở bên cạnh mình một cách thân thiết như người bạn tâm giao:

“Ngạo tuyết tâm hư,
Lăng sương tiết kính.
Giả nhĩ vi nô,
Khủng phi thiên tính.”

(Tuyết trải tâm không,
Sương phơi đốt cứng.
Làm tớ, cậy ông,
Ngại tính chẳng khứng.)

Chiếc gối tựa (hay chiếc gối kê tay) nầy, ngày xưa thường được dùng vào mùa nóng, giúp cho dịu mát, thoải mái cơ thể. Trúc có bản chất “Tuyết trải tâm không”, “Sương phơi đốt cứng” còn hàm ý nói về tính khí cứng cỏi, trung kiên của con người. Với nhà Phật, đây cũng là biểu trưng cho hành giả đã đạt được bản tâm thanh tịnh, an nhiên, tự tại. Đây cũng là ẩn ý thâm diệu của bài thơ vậy.

*

Thơ viết về mùa Xuân của Trần Nhân Tông khá nhiều, đầy ắp cảm xúc, tinh tế, bén nhạy, tư tưởng sâu sắc, khoáng đạt.

“Xuân Hiểu” (Sớm Xuân), bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt, với hình ảnh giản dị nhưng rất sinh động:

“Thụy khởi khải song phi,
Bất tri Xuân dĩ quy.
Nhất song bạch hồ điệp,
Phách phách sấn hoa phi.”

(Ngủ dậy mở cửa trông,
Nào hay Xuân mênh mông.
Có một đôi bướm trắng,
Vỗ vỗ cánh vờn bông.)

Hai câu thơ cuối, như một nét vẽ phác đơn giản nhưng rất sinh động: “Nhất song bạch hồ điệp / Phách phách sấn hoa phi” (Kìa một đôi bướm trắng / Vỗ vỗ cánh vờn bông). Màu trắng của đôi cánh bướm, hòa quyện vào âm thanh “phách phách” (vỗ vỗ), gợi tả một cách tài tình hình ảnh sinh động, giữa cảnh sắc mênh mông của mùa Xuân.

“Xuân Cảnh” (Cảnh Xuân), bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, với vài nét chấm phá như một họa sỹ tài hoa, nhưng đầy ấn tượng:

“Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì,
Họa đường thiềm ẩn mộ vân phi.
Khách lai bất vấn nhân gian sự,
Cộng ỷ lan can khán thúy vi.”

(Chim chậm lời ca, liễu nở đầy,
Họa đường bóng lộng, mây chiều bay.
Khách đến, chuyện đời không hỏi nữa,
Cùng tựa lan can ngắm biếc ngày.)

Động và tĩnh quyện vào nhau cả âm vang và sắc màu, khiến cho cảnh Xuân đẹp một cách sinh động và lãng mạn, làm cho “Khách lai bất vấn nhân gian sự / Cộng ỷ lan can khán thúy vi” (Khách đến chuyện đời không hỏi nữa / Cùng tựa lan can ngắm biếc ngày). Trước cái đẹp của Cảnh Xuân, “khách đến” chỉ còn biết thinh lặng, thưởng thức, tận hưởng, nên “Chuyện đời không hỏi nữa” vì đã có cái đẹp của Cảnh Xuân nói hết rồi!

Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt “Nhị Nguyệt Thập Nhất Nhật Dạ” (Đêm Mười Một Tháng Hai) thể hiện sự mẫn cảm, tinh tế của một vị vua còn rất trẻ, tuy đang sống trong cung điện sang trọng, đài các, nhàn nhã, nhưng cảm xúc trước cảnh Xuân vẫn rất nồng nàn, đắm say, hòa nhập vào khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, với rung động đầy mỹ cảm, tinh tế của một thi nhân:

“Hoan bá kiêu sầu phong vị trường,
Đào sinh, trúc đạm ổn long sàng.
Nhất thiên như thủy, nguyệt như trú,
Hoa ảnh mãn song, xuân mộng trường.”

(Chén rượu vơi sầu ấm mãi thôi,
Giường rồng chiếu trúc khỏe thân rồi.
Trời trong như nước, trăng ngời sáng,
Hoa đầy song cửa, mộng Xuân dài.)

Bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt “Động Thiên Hồ Thượng”(Cảnh Trên Hồ Động Thiên), chỉ một vài nét phác đơn giản của hình ảnh “Hoa thảo giảm Xuân dung” (Hoa cỏ có vẻ giảm sút nét Xuân tươi), khiến cho “Thượng đế liên sầm tịch” (trời thương xót vẻ vắng lặng u tịch nơi nầy) rồi cảm ứng với không gian mênh mông: “Thái thanh thì nhất chung” (Thỉnh thoảng điểm một hồi chuông trên tầng biếc). Cảm xúc tinh nhạy trước cái đẹp vắng lặng, tĩnh mịch của ngoại cảnh đi vào tâm thức một cách trực tiếp, dậy lên một niềm rung động sâu xa:

“Động thiên hồ thượng cảnh,
Hoa thảo giảm Xuân dung.
Thượng đế liên sầm tịch,
Thái thanh thì nhất chung.”

(Cảnh trên hồ Động Thiên,
Dáng Xuân gầy hoa cỏ.
Trời thương xót niềm riêng,
Một hồi chuông xanh tỏ.)

“Xuân Vãn” (Chiều Xuân), bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, như một sự bày tỏ chân thành: Trải qua những chiêm nghiệm từ thời niên thiếu cho đến bây giờ, vị thiền-sư-thi-sĩ đã lĩnh hội được, đã thấy được một cách thấu đáo về lẽ Sắc-Không của cuộc đời huyễn ảo. Một khi đã tỏ ngộ, đã thấy rồi thì ung dung tự tại:

“Niên thiếu hà tằng liễu Sắc-Không,
Nhất Xuân tâm sự bách hoa trung.
Như kim khám phá đông hoàng diện,
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.”

(Thuở nhỏ chưa từng thấu Sắc-Không,
Xuân tươi trăm đóa gửi chuyện lòng.
Gương mặt chúa Xuân nay đã tỏ,
Nệm cỏ ngồi xem rụng cánh hồng.)

Vẻ đẹp của hoa mai khoe sắc trong mùa Xuân, đã cho thi sĩ nhiều xúc cảm thâm trầm, sâu lắng trong bài thơ thất ngôn bát cú “Tảo Mai Kỳ Nhất” (Hoa Mai Sớm – Lần Một):

“Ngũ xuất viên ba kim niễn tu,
San hô trầm ảnh hải lân phù.
Cá tam đông bạch chi tiền diện,
Tá nhất biện hương xuân thượng đầu.
Cam lộ lưu phương si điệp tỉnh,
Dạ quang như thủy khát cầm sầu.
Hằng Nga nhược thức hoa giai xứ
Quế lãnh thiềm hàn chỉ ma hưu”

(Tròn xoe năm cánh, nhụy vàng phơi,
Chìm bóng san hô, vảy cá trồi.
Đông ba tháng lạnh, cành im trắng,
Xuân một ngày hanh, nhánh ấm ngời.
Sương ngọt mùi hương, lay bướm dậy,
Đêm ngời ánh nước, khiến chim lơi.
Hằng Nga nếu biết hoa mai đẹp,
Bóng quế cung thiềm sẽ chán thôi.)

Tiếp theo, bài thơ thất ngôn bát cú “Tảo Mai Kỳ Nhị” (Hoa Mai Sớm – Lần Hai), cảm xúc càng sâu lắng hơn. Thiền-sư-thi-sĩ “lãn xuất môn” (lười ra khỏi cửa). Nhưng cửa ở đây, không còn là cửa trong cung son điện ngọc nữa, mà là cửa của một ngôi chùa ở Yên Tử, khi nhà-vua-thi-sĩ đã trở thành thiền-sư-thi-sĩ, an nhiên thanh tịnh, chiêm nghiệm lẽ Đạo và lẽ Đời:

“Ngũ nhật kinh hàn lãn xuất môn,
Đông phong tiên dĩ đáo cô côn [căn].
Ảnh hoành thủy diện băng sơ bạn,
Hoa áp chi đầu noãn vị phân.
Thúy vũ ca trầm sơn điếm nguyệt,
Hoạ long xuy thấp Ngọc Quan vân.
Nhất chi mê nhập cố nhân mộng,
Giác hậu bất kham trì tặng quân.”

(Năm ngày sợ lạnh, biếng rời nhà,
Gió Xuân vừa ghé gốc cây già.
Mặt nước bóng chao, băng sớm lở,
Cành hoa cánh ép, ấm chưa ra.
Thúy Vũ chim vờn, trăng xóm núi,
Họa Long sáo ướt, Ngọc Quan nhòa.
Cành hoa lạc mộng người xưa gặp,
Tỉnh giấc nên không tặng được mà.)

Tuy lấy cảm hứng từ 2 câu cuối của bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt “Tặng Phạm Diệp” của Lục Khải (nhà thơ cuối đời nhà Hán, nước Tàu): “Giang Nam hà sở hữu / Liêu tặng nhất chi Xuân” (Giang Nam chẳng có gì cả / Chỉ tặng bạn một cành Xuân) nhưng tác giả đã chuyển ý rất sáng tạo và rất đẹp, hợp với tâm cảnh của mình ở hai câu thơ cuối: “Nhất chi mê nhập cố nhân mộng / Giác hậu bất kham trì tặng quân” (Cành hoa lạc mộng người xưa gặp / Tỉnh giấc nên không tặng được mà).

“Đăng Bảo Đài Sơn” (Lên Núi Bảo Đài), bài thơ ngũ ngôn bát cú tuyệt bút nói về mùa Xuân. Có thể xem đây là bài thơ quí hiếm trong kho tàng thơ cổ điển Việt Nam. Ngôn ngữ thơ giản dị, nhưng dung hợp tài tình giữa cảnh và tâm, thấu đáo giữa thấy và nghe của một người đã thực chứng bản thể của cái-đang-là, cái mộng huyễn bào ảnh của vạn pháp, để rồi, trước phong cảnh của núi Bảo Đài, tác giả đã “Ỷ lan hoành ngọc địch / Minh nguyệt mãn hung khâm” (Tựa lan can nâng ngang chiếc sáo ngọc / Ánh trăng sáng chan hòa, đầy tràn trước ngực):

“Địa tịch đài du cổ,
Thời lai Xuân vị thâm.
Vân sơn tương viễn cận.
Hoa kính bán tình âm.
Vạn sự thủy lưu thủy,
Bách niên tâm dữ [ngữ] tâm.
Ỷ lan hoành ngọc địch,
Minh nguyệt mãn hung khâm.”

(Đất vắng, lầu càng cũ,
Xuân mới về chưa lâu.
Mây núi gần xa tỏ,
Ngõ hoa râm sáng màu.
Vạn sự giòng nước cuốn,
Trăm năm tấc lòng cầu.
Tựa lan can nâng sáo,
Ngực sáng ánh trăng cao.)

Hai bài thơ thất ngôn tứ tuyệt “Sơn Phòng Mạn Hứng Kỳ Nhất” (Mạn Hứng Tại Sơn Phòng – Lần Một) và “Sơn Phòng Mạn Hứng Kỳ Nhị” (Mạn Hứng Tại Sơn Phòng – Lần Hai) thấm đẫm hương vị thiền rất thanh thoát, tự tại:

“Thùy phọc cánh tương cầu giải thoát,
Bất phàm hà tất mịch thần tiên.
Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão,
Y cựu vân trang nhất tháp thiền.”

(Ai buộc gì đâu cầu giải thoát,
Không phàm đừng nhọc kiếm thần tiên.
Vượn nhàn ngựa mỏi thân già yếu,
Vẫn một am mây một chiếu thiền.)

.

“Thị phi niệm trục triêu hoa lạc,
Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn.
Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch,
Nhất thanh đề điểu hựu Xuân tàn.”

(Phải quấy rụng cùng hoa buổi sáng,
Lợi danh lạnh theo mưa ban đêm.
Mưa tạnh hoa tàn, non vắng lặng,
Một tiếng chim kêu, Xuân úa thêm.)

*

Thơ viết về mùa Thu của Trần Nhân Tông tuy ít hơn, nhưng thi tứ, thi cảnh trong từng bài thơ rất cô đọng và rất đẹp. Những bài thơ thất ngôn tứ tuyệt đạt tới mức u nhã, uyên mặc.

Bài thơ “Thiên Trường Vãn Vọng” (Dạo Ngắm Cảnh Chiều Ở Thiên Trường):

“Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô, bán hữu tịch dương biên.
Mục đồng địch lý quy ngưu tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.”

(Trước thôn sau thôn, trời nhạt nhòa,
Nửa không nửa có, bóng chiều tà.
Mục đồng thổi sáo, trâu về hết,
Cò trắng trên đồng, cánh nhẹ sa.)

Hình ảnh bóng chiều tà “bán vô bán hữu” (nửa không nửa có) và hình ảnh “Mục đồng địch lý quy ngưu tận / Bạch lộ song song phi hạ điền” (Mục đồng thổi sáo, trâu về hết / Cò trắng trên đồng, cánh nhẹ sa) vẽ lên một bức tranh tuyệt đẹp, có cả âm vang và sắc màu, tĩnh và động, thực và ảo của mùa Thu ở vùng nông thôn Việt Nam, vừa tĩnh mịch, vừa thanh thoát, giao cảm đồng điệu với tâm hồn của thi sĩ.

“Nguyệt”(Trăng), bài thơtả một đêm trăng Thu, cũng là một bức tranh tuyệt đẹp, tứ thơ trầm mặc, thanh thoát:

“Bán song đăng ảnh mãn sàng thư,
Lộ trích Thu đình dạ khí hư.
Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ,
Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ.”

(Đèn soi nửa bóng, sách đầy giường
Sân Thu đêm thoáng, mát hơi sương
Tỉnh giấc chày khua đâu đó vẳng
Trăng trên bông quế ngát đưa hương).

Như bức tranh thủy mặc với những nét vẽ bảng lảng mênh mông, âm vang lắng trong sắc màu: “Chiếc cầu, có bóng in ngược xuống mặt nước, bắc ngang qua suối. Một vạt nắng chiều tỏa sáng bên ngoài ngấn nước. Ngàn núi tịch mịch yên lắng, những chiếc lá đỏ rơi. Áng mây ướt như giấc mộng đời, có tiếng chuông vang lên từ xa vọng lại.” Đó cũng là nội dung cô đọng trong bài thơ thất ngôn tứ tuyệt “Vũ Lâm Thu Vãn” (Chiều Thu Ở Làng Vũ Lâm) với bút lực tài hoa hiếm có, tác giả đã cho người đọc một cảm xúc thanh thoát diệu kỳ:

“Họa kiều đảo ảnh trám khê hoành,
Nhất mạt tà dương thủy ngoại minh.
Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc,
Thấp vân như mộng viễn chung thanh.”

(Ngược bóng, cầu ngang suối bắt qua,
Ngấn nước chiều loang vạt nắng nhòa.
Yên lắng non ngàn, rơi lá đỏ,
Mây ướt mộng đời, chuông gióng xa.)

Nét sầu u tịch trong buổi chiều mùa Thu ở Lạng Châu với nét đẹp mênh mông diệu vợi trong bài thơ “Lạng Châu Vãn Cảnh” (Cảnh Chiều Ở Châu Lạng):

“Cổ tự thê lương Thu ái ngoại,
Ngư thuyền tiêu sắt mộ chung sơ.
Thủy minh sơn tĩnh bạch âu quá,
Phong định vân nhàn hồng thụ sơ.”

(Chùa xưa sầu ngất, mây Thu nhuốm,
Thuyền cá buồn tênh, chuông chiều rơi.
Núi tạnh nước trong, âu trắng lượn,
Gió lặng mây nhàn, lá đỏ phơi.)

Cám cảnh u tịch của mùa Thu để gửi gắm lòng mình, bài thơ “Đề Phổ Minh Tự Thủy Tạ” (Đề Thơ Ở Nhà Thủy Tạ Chùa Phổ Minh) toát lên vẻ đẹp thanh thoát lạ thường:

“Huân tận thiên đầu mãn tọa hương,
Thủy lưu sơ khởi bất đa lương.
Lão dong ảnh lý tăng quan bế,
Đệ nhất thiền thanh Thu tứ trường.”

(Thơm ngát ngàn hương, tỏa khắp nhà,
Dòng nước êm trôi, dịu mát qua.
Dưới bóng đa già, chùa khép cửa,
Ve rân một tiếng, tứ Thu xa.)

*

Bài thơ thất ngôn bát cú “Thiên Trường Phủ” (Phủ Thiên Trường), tác giả viết khi về thăm quê cha đất tổ (sau khi nhà Trần khởi nghiệp lên ngôi vua, đã xây một hành cung ở hương Tức Mạc, đến năm 1262 vua Trần Thánh Tông đổi tên là phủ Thiên Trường, hàng năm đều có tổ chức thăm viếng, cúng tế tổ tiên):

“Lục ám hồng hi bội tịch liêu,
Tễ vân thôn vũ thổ hoa tiêu.
Trai đường giảng hậu tăng quy viện,
Giang quán canh sơ nguyệt thượng kiều.
Tam thập tiên cung hoành dạ tháp,
Bát thiên hương sát động xuân triều.
Phổ Minh phong cảnh hồn như tạc,
Phảng phất canh tường nhập mộng nhiêu.”

(Xanh thẫm hồng phai, đêm lắng yên,
Tạnh mưa, mây sáng, đất khô liền.
Trai đường sau hội, sư về nghỉ,
Sông quán đầu canh, trăng mới lên.
Ba chục cung tiên say giấc ngủ,
Tám ngàn ngọn tháp ngát triều đêm.
Phổ Minh cảnh vật như hôm trước,
Mộng thấy vua cha chạnh nỗi niềm.)

Đoạn cuối của bài thơ bày tỏ niềm hồi nhớ vua cha Trần Thánh Tông rất cảm động: “Phổ Minh phong cảnh hồn như tạc / Phảng phất canh tường nhập mộng nhiêu.” (Phổ Minh cảnh vật như hôm trước / Mộng thấy vua cha chạnh nỗi niềm). “Canh tường,” 2 chữ trong câu cuối của bài thơ, tác giả mượn tích về lòng hiếu thảo của vua Thuấn đối với cha là vua Nghiêu để bày tỏ lòng mình: Trong sách Hậu Hán Thư (do Phạm Diệp biên soạn vào thế kỷ thứ 5, đời nhà Hán, nước Tàu) đã thuật lại chuyện khi vua Nghiêu mất, vua Thuấn tưởng nhớ luôn trong 3 năm. Vì thế, vua Thuấn lúc ngồi thì thấy bóng vua Nghiêu trên tường, lúc ăn thì thấy bóng vua Nghiêu trong bát canh.

Tứ thơ đẹp một cách phóng khoáng, nhưng tâm thái rất an nhiên thanh tịnh trong bài thơ thất ngôn bát cú “Đại Lãm Thần Quang Tự” (Chùa Thần Quang Trên Núi Đại Lãm):

“Thần quang tự liểu (yểu) hứng thiên u,
Sanh thố phi ô thiên thượng du.
Thập nhị lâu đài khai họa trục,
Tam thiên thế giới nhập thi mâu.
Tục đa biến thái vân thương cẩu,
Tung bất tri niên tăng bạch đầu.
Trừ khước chú hương tham Phật sự,
Tá dư niệm liễu tổng hưu hưu.”

(Thần Quang yên lắng, hứng trong lòng,
Ôm thỏ cưỡi quạ, bay chơi rong.
Mười hai lầu mở khung tranh đẹp,
Ba ngàn cõi đọng mắt thơ chong.
Mây-chó thói đời xanh trắng đổi,
Sư-tùng niềm nỗi tháng năm mong.
Học Phật, dâng hương, chừng ấy việc,
Lo toan buông hết, thế là xong.)

Hãy chú ý 2 cặp đối rất hay và rất đẹp trong bài thơ trên: “Thập nhị lâu đài khai họa trục / Tam thiên thế giới nhập thi mâu” (Mười hai lầu mở khung tranh đẹp / Ba ngàn cõi đọng mắt thơ chong) – “Tục đa biến thái vân thương cẩu / Tùng bất tri niên tăng bạch đầu” (Mây-chó thói đời xanh trắng đổi / Sư-tùng niềm nỗi tháng năm mong) với thi hứng tràn đầy, hình ảnh ẩn dụ thâm trầm, để rồi kết thúc bằng 2 câu thơ cuối rất tự tại, thanh thoát, buông xả: “Trừ khước chú hương tham Phật sự / Tá dư niệm hữu tả hưu hưu” (Học Phật, dâng hương, chừng ấy việc / Lo toan buông hết, thế là xong).

*

Trúc Lâm Đại Đầu Đà (vua Trần Nhân Tông) trọn đời luôn kính ngưỡng và tri ân người thầy của mình là Tuệ Trung Thượng Sĩ (Trần Tung, Trần Quốc Tung), thành viên trong hoàng tộc nhà Trần và cũng là một thiền sư trí huệ lỗi lạc. Ngay từ thời tuổi trẻ, Trần Nhân Tông đã được Tuệ Trung Thượng Sĩ giáo dục và truyền tâm ấn Phật pháp. Bài thơ “Tán Tuệ Trung Thượng Sĩ” (Ca Ngợi Tuệ Trung Thượng Sĩ) chỉ vắn tắt cô đọng trong 4 chữ 6 câu, nhưng thâu tóm được tinh túy cốt lõi về sự liễu ngộ Phật pháp của Tuệ Trung Thượng Sĩ:

“Vọng chi di cao,
Toàn chi di kiên.
Hốt nhiên tại hậu,
Chiêm chi tại tiền.
Phu thị chi vị,
Thượng sĩ chi thiền.”

(Càng trông càng cao,
Càng khoan càng cứng.
Thình lình phía sau,
Liền thấy phía trước.
Thốt lên cho mau:
Thiền của Thượng Sỹ.)

Phía dưới bài thơ, tác giả có ghi thêm: “Tự pháp đệ tử Trúc Lâm Đại Đầu Đà cẩn tán” (Học trò nối pháp là Trúc Lâm Đại Đầu Đà kính cẩn xưng tụng), chứng tỏ lòng kính ngưỡng và tri ân sâu nặng của vị tổ thứ Nhất dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đối với bậc Thầy của mình biết dường nào! Ngoài bài thơ cô đọng nầy, Trần Nhân Tông đã viết bài văn “Thượng Sĩ Hành Trạng” (Hành Trạng của Tuệ Trung Thượng Sĩ) thuật lại công lao tu tập hành trì và đắc pháp của vị ân sư.

Khi đọc xong bài thơ trên và bài văn “Thượng Sĩ Hành Trạng,” kẻ hậu bối nầy dâng trào cảm xúc, nên có viết bài thơ tán thán, kính ngưỡng tri ân, thay cho lời bình như sau:

“Càng trông lên càng thấy cao
Càng khoan càng cứng trước sau hiện tiền
Tuệ Trung Thượng Sỹ như nhiên”
Chân tâm thấu suốt chân thiền diệu Không
Khép hai bờ cỏ mơ mòng
Mở thiên thu hát thong dong chốn về
Qua đi dứt tuyệt cuồng mê
Tri ân chánh pháp chở che kiếp người

Tri ân giọt lệ nụ cười
Chân tâm diệu hữu trang đời nhẹ đưa
Diệu âm hoa rụng sân chùa
Nhặt bông nắng lạ xin thưa: Đang-Là
Triệu năm trong Cõi Người Ta
Tỉ năm cũng vậy sát na sáng lừng
Gió đưa gió đẩy sáng trưng
Sương rung bắt nhịp tưng bừng hòa thanh

Tri ân tiền bối viên thành
Câu thơ tinh mật tinh anh tinh ròng
Càng nghe càng thấm càng thông
Bạn cùng cô quạnh để mong gặp mình
Trông lên mây trắng như kinh
Thấy ra diệu nghĩa tận tình Như Lai
Hít sâu thở nhẹ một vài…
Đếm thầm nghe rõ trong ngoài đang trôi…

(04.2015)

Đặt biệt nhất, “Hữu Cú Vô Cú” (Câu Có Câu Không), bài thi kệ có giá trị tư tưởng rất uyên áo thâm viễn, thể hiện sự liễu ngộ về Phật pháp của tác giả.

Bài thi kệ nầy, viết theo thể 4 chữ (4 câu cho mỗi đoạn, tổng cộng 9 đoạn, 36 câu). Đây là câu trả lời rất cô đọng, nhưng rất uyên áo thâm viễn của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông về “Có” và “Không”.

Theo sử sách ghi lại, trong một buổi giảng kinh tại chùa Sùng Nghiêm, tháng 12 năm Giáp Thìn (1304), khi có một tăng chúng hỏi:

“Hữu cú vô cú / Như đằng ỷ thụ / Như hà?”
(Câu Có câu Không, như dây bìm bám cây. Ý là như thế nào?)

Câu hỏi trên, xuất phát từ tên một công án trong thiền tông “Sớ Sơn Hữu Cú Vô Cú”. Nội dung công án nầy nói về việc thiền sư Sớ Sơn Khuông Nhân cuối đời Đường, nước Tàu, tham yết thiền sư Trường Khánh Đại An tại Qui Sơn, Phúc Châu để tham học ngài Đại An câu “Hữu cú vô cú, như đằng ỷ thụ.” (Nguồn: Từ Điển Phật Quang).

Từ câu hỏi đó, Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đã trả lời bằng bài thi kệ “Hữu Cú Vô Cú” nầy:

“Hữu cú vô cú,
Đằng khô thụ đảo.
Kỷ cá nạp tăng,
Chàng đầu hạp não.

Hữu cú vô cú,
Thể lộ kim phong.
Căng già sa số,
Phạm đao thương phong.

Hữu cú vô cú,
Lập tông lập chỉ.
Đả ngõa toàn quy,
Đăng sơn thiệp thủy.

Hữu cú vô cú,
Phi hữu phi vô.
Khắc chu cầu kiếm,
Sách ký án đồ.

Hữu cú vô cú,
Hỗ bất hồi hỗ.
Lạp tuyết hài hoa,
Thủ chu đãi thố.

Hữu cú vô cú,
Tự cổ tự kim.
Chấp chỉ vong nguyệt,
Bình địa lục trầm.

Hữu cú vô cú,
Như thị như thị.
Bát tự đả khai,
Toàn vô ba tị.

Hữu cú vô cú,
Cố tả cố hữu.
A thích thích địa,
Náo quát quát địa.

Hữu cú vô cú,
Điêu điêu đát đát.
Tiệt đoạn cát đằng,
Bỉ thử khoái hoạt.”

(Câu Có câu Không,
Cây ngã dây héo.
Mấy vị sư ông,
Đầu sưng óc méo.

Câu Có câu Không,
Gió thu phơi xác.
Sông Hằng ngập cát,
Cam chịu vết thương.

Câu Có câu Không,
Dựng chỉ lập tông.
Khoan rùa đập ngói,
Lên núi lội sông.

Câu Có câu Không,
Chẳng Không chẳng Có.
Khắc thuyền mò gươm,
So tranh tìm ngựa.

Câu Có câu Không,
Chẳng qua chẳng lại.
Nón tuyết giày bông,
Ôm cây đợi thỏ.

Câu Có câu Không,
Xưa nay vậy đó.
Nhớ ngón quên trăng,
Vùi thây đất nọ.

Câu Có Câu Không,
Vậy đó vậy đó.
Tám chữ mở tung,
Còn gì để nói?!

Câu Có câu Không,
Nhìn phải ngó trái.
Lải nhải lằng nhằng,
Om sòm tranh cãi.

Câu Có câu Không,
Đau đau xót xót.
Cắt dứt lòng thòng,
Nầy kia thông suốt.)

Trước hết, Điều Ngự Giác Hoàng dành 20 câu thi kệ đầu (4 đoạn) để chỉ ra sự nguy hại của thái độ định kiến, chấp thủ đối với hai phạm trù  và Không. Những định kiến, chấp thủ (cũng gọi là chấp thủ trong vô minh) do không thấu hiểu về bản-chất-như-thật-của-chính-nó, thì rất dễ gây nên những tác hại nguy hiểm giống như “chàng đầu hạp não” (đập đầu méo óc), “phạm đao thương phong” (phạm vào dao kiếm, bị thương vì mũi nhọn) hay phí công vô ích như “đả ngõa toàn quy” (khoan rùa đập ngói), “đăng sơn thiệp thủy” (lên núi lội sông), “khắc chu cầu kiếm” (khắc thuyền mò gươm), “sách ký án đồ” (so tranh tìm ngựa),”lạp tuyết hài hoa” (lấy tuyết làm nón, lấy bông làm giày), “thủ chu đãi thố” (ôm gốc cây đợi thỏ).

Nguyên nhân chính của việc định kiến, chấp thủ Có / Không này là không nhận rõ sự sanh khởi và đoạn diệt của tất cả các pháp là do Duyên Khởi (Nghĩa là: Do cái này Có nên cái kia Có / Do cái này Không nên cái kia Không / Do cái này Sinh nên cái kia Sinh / Do cái này Diệt nên cái kia Diệt – Kinh Phật Tự Thuyết). Trong kinh Trung Bộ, Đức Phật nói:“Ai thấy Duyên Khởi tức là thấy Pháp. Ai thấy Pháp tức thấy Như Lai.” Trong kinh Tăng Chi Bộ, đức Phật nói: “Tất cả Pháp lấy Tác Ý làm sanh khởi.”

Thật vậy, chúng ta sẽ không có bất cứ nhận thức hay cảm nhận nào về bất cứ Pháp gì nếu như trước đó, chúng ta không có sự hướng tâm hay Tác Ý tới Pháp đó. Nếu có Tác Ý, tức là ngay lúc đó, Ý tiếp xúc với Pháp, lập tức Ý khởi lên, sự phối hợp đó gọi là Xúc, nhân có Xúc cho nên có Cảm Thọ, nhân có Cảm Thọ nên có Ái Dục, nhân có Ái Dục nên có Chấp Thủ, nhân có Chấp Thủ nên có Hữu, nhân có Hữu nên có Sanh, nhân có Sanh nên có Già Chết, và toàn bộ Khổ Uẩn tập khởi. Khi Tâm không có Tác Ý, thì không có Tham-Sân-Si, tuyệt nhiên không có một vật nào xuất hiện (Bổn lai vô nhất vật – Câu cuối trong bài kệ đắc pháp của thiền sư Huệ Năng trong kinh Pháp Bảo Đàn). Đây là điều hết sức vi diệu mà chúng ta cần tỉnh thức suy nghiệm và hành trì tu tập mới có thể thấu hiểu được. Vì sao? Vì đức Thế Tôn là người chỉ nói lời chân chánh, không có vọng ngữ: “Như Lai là người nói sao làm vậy, làm sao nói vậy.” Khi đức Thế Tôn nói: “Tất cả Pháp lấy Tác Ý làm Sanh Khởi”, đó chính là nói đến sự vận hành của Tác Ý: Nghĩa là khi có Tác Ý xảy ra, thì các Pháp sẽ sanh khởi và đưa tới chấp Hữu, nếu chúng ta không đích thực tuệ tri. Điều này đúng với tất cả các Pháp.

8 câu thơ của 2 đoạn kế tiếp chính là tâm điểm, huyết mạch của bài thi kệ:

Hình ảnh có tính ẩn dụ trong câu “chấp chỉ vong nguyệt” (nhớ ngón tay mà quên trăng) xuất phát từ câu trả lời của đức Phật khi có người hỏi: “Giáo pháp của Ngài có phải là một học thuyết hay chủ thuyết chăng?” Câu trả lời của đức Thế Tôn đại ý rằng: “Giáo pháp của Như Lai là một phương tiện để đi vào thực-tại-hiện-tiền chứ không phải để miêu tả thực-tại-hiện-tiền”. Vì vậy,”Giáo pháp của Như Lai giống như ngón tay chỉ lên mặt trăng.” (kinh Viên Giác, chương Thanh Tịnh Tuệ). Như vậy, ngón tay là phương tiệnmặt trăng là mục đích. Mối quan hệ giữa phương tiện và mục đích tuy có tính biện chứng mật thiết, nhưng người hành trì tu tập cần hết sức cẩn trọng để khỏi rơi vào hai cực đoan, nhầm lẫn hay chấp thủ giữa phương tiện và mục đích. Vì vậy, Văn-Tư-Tu chính là phương tiện thiện xảo giúp cho người hành trì tu tập đạt được Giới-Định-Tuệ, nhằm thể nhập vào thể tánh của thực-tại-hiện-tiền, tức chân tánh. Nếu cứ “Chấp chỉ vong nguyệt” (Nhớ ngón tay mà quên trăng) thì tất yếu sẽ dẫn đến “Bình địa lục trầm” (Vùi thây đất nọ), tức là chìm đắm vào bi kịch trầm kha trong vô minh tự cổ chí kim của con người mà thôi. Định kiến, chấp thủ thì không bao giờ đi vào Trung Đạo để Kiến Tánh được. Đây cũng là lời cảnh báo rất hệ trọng về phương pháp hành trì tu tập.

“Bát tự đả khai” (Tám chữ tháo tung): Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, “Tám chữ” trong câu nầy, xuất phát từ câu trích trong kinh Niết Bàn“Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc” (Sinh diệt nếu diệt rồi, thì tịch diệt là vui). Như vậy, khi đã thấu hiểu “Bát tự đả khai” (Tám chữ tháo tung) thì sẽ “Toàn vô ba tị” (Không còn gì để nói nữa!) Đến đây thì không còn chấp thủ gì với ngón tay (phương tiện) vì ngón tay đã chỉ đúng, đã giúp cho hành giả nhận ra mặt trăng (mục đích) rồi, thì hành giả cứ thong dong bước vào Trung Đạo, tự mình hành trì tu tập để đạt mục đích tối thượng là liễu ngộ chân tánh của vạn pháp!

8 câu thơ của 2 đoạn thi kệ cuối cùng, Điều Ngự Giác Hoàng còn khuyên hành giả phải dẹp đi những “A thích thích địa / Náo quát quát địa” (Lải nhải lằng nhằng / Om sòm tranh cãi) và phải “tiệt đoạn cát đằng” (dứt bỏ mọi việc rối rắm như dây bìm leo) thì mới vượt lên được và không còn kiến chấp, chấp thủ với hai khái niệm  và Không, lúc đó mới thấu suốt được thực-tại-hiện-tiền của pháp giới Duyên Khởi, đạt được tự tại thanh tịnh, tức chân tánh của vạn pháp.

 và Không cũng là câu hỏi lớn của nhân loại từ ngàn xưa của các nền triết học, tư tưởng lớn Đông Tây.

Như được biết, nền triết học Hy Lạp cổ đại, khởi đi từ Parmenides, triết gia thời tiền Socratic, đã sớm nhận ra: “Thinking and Being is the same” (Tư Duy và Hiện Hữu là một). Điều này có nghĩa là Hiện Hữu, tức phạm trù  mang ý nghĩa rằng, nó chỉ  trong tư duy, trong khái niệm mà thôi. Cho nên, Có, chỉ là một phạm trù quy ước. Cái  này là vô thường, luôn luôn biến hoại đoạn diệt. Vì thế, Có, chỉ nên được thiết lập tạm thời để phơi bày đặc tính duyên khởi của nó, không nên chấp thủ, khẳng định nó. Ngược lại, trong khi nó đang-là, không cần thiết phải mang khái niệm Không để phá hủy cái đang-là của nó. Khi nào hết duyên, nó sẽ tự nhiên Không.

Lão Tử, nhà triết học Trung Quốc cổ đại, khi giải thích bản thể của vũ trụ, cũng đã nói trong Đạo Đức Kinh: “Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô” (Vạn vật trong thiên hạ đều sinh ra từ Hữu, Hữu sinh ra từ Vô).

Từ Đạo Hạnh, một thiền sư lỗi lạc của nước ta, đời nhà Lý, cũng đã có bài thi kệ “Hữu Không” rất uyên áo thâm viễn:

“Tác Hữu trần sa Hữu
Vi Không nhất thiết Không
Hữu Không như thủy nguyệt
Vật trước Hữu Không Không.”

(Khởi niệm, tác ý Có thì từ hạt bụi đến hạt cát li ti cũng Có. Khởi niệm, tác ý Không thì cả vũ trụ này cũng Không. Cái Có cái Không kia cũng giống như ánh trăng trên mặt nước. Đừng chấp vào cái Không của Có-và-Không!” [Đừng lầm tưởng cho rằng cái Có cái Không ấy là không có]).

Thiền sư Huyền Quang, tổ thứ 3 của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử dịch:

(Có thì Có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng Không
Kìa xem bóng nguyệt lòng sông
Ai hay Không-Có Có-Không là gì!)

Bài thi kệ của ngài Từ Đạo Hạnh cũng là ngụ ý cảnh báo chúng ta không nên chấp thủ vào Có và Không để thấu suốt chân tánh của vạn pháp.

Gầnvới chúng ta hơn, thế kỷ 15, câu “To be or not to be, that is question” (Tồn tại hay không tồn tại, đó là vấn đề), là câu hỏi lừng danh trong vở kịch “Hamlet” của William Shakespeare, nhà viết kịch, nhà tư tưởng vĩ đại của nước Anh. Đến thế kỷ 19, phạm trù về “Being” (Cái-đang-là, hữu thể, hiện thể, hiện tồn), là chủ đề chính về bản thể luận (ontology) của Martin Heidegger, nhà triết học lừng danh của nước Đức, chuyên nghiên cứu về Hữu thể và Thời Gian (Being and Time) cũng xuất phát từ câu hỏi lớn như trên. Với tác phẩm này, Heidegger tiếp tục tư duy theo chiều hướng của Parmenides, khảo sát  (Being) trong mối liên hệ mật thiết với Dasein (Dasein, là thực tại Người được nhận diện qua hai đặc tính căn bản là một hiện hữu biết tư duy và có khả năng cảm xúc tồn tại trong một bối cảnh không gian và thời gian đang-là, tức là đang-đi-đến cái Không).

Như vậy,  và Không chỉ là qui ước tạm thời về nhận thức, không phải là cái để ta kiến chấp, chấp thủ. Hiểu được như vậy thì mới có thể thoát ra khung cửa nhị nguyên Có và Không, để trực nhận về Cái-Đang-Là, về Thực-Tại-Hiện-Tiền của nguyên lý Duyên Khởi.

Thiết nghĩ, chỉ có thấm nhuần trí huệ của Phật pháp, cùng với nỗ lực tự tu, tự chứng, tự mình đoạn tận tất cả các kiến chấp, chấp thủ tiềm tàng ở nội tâm thì mới đạt được nhận thức viên mãn, siêu vượt lên Có  Không, thể nhập và liễu ngộ được chân tánh của vạn pháp, tức Phật tánh trong bản thân mình.

Tóm lại, bài thi kệ “Hữu Cú Vô Cú” của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, cách nay đã trên 700 năm, với ngôn ngữ diễn đạt giản dị như một bài đồng dao đầy Việt tính, nhưng đã chuyển tải những ẩn dụ hàm súc, thâm diệu của Phật pháp, giúp cho chúng ta biết cách buông bỏ những kiến chấp, chấp thủ về  và Không, đạt tới chánh kiến viên mãn, thấu suốt Thực-Tại-Hiện-Tiền để tự mình quay về chân tâm, liễu ngộ Phật tánh. Thật là điều rất đáng kính ngưỡng và tri ân vậy.

*

Sách Thánh Đăng Ngữ Lục có ghi đại ý rằng: Tháng Mười năm Mậu Thân (1308), nhận được tin công chúa Thiên Thụy ốm nặng, Điều Ngự Giác Hoàng từ Yên Tử về thăm. Sau khi vấn an công chúa, Ngài lại quay trở về Yên Tử. Đi được nửa đường, Ngài nghỉ tại ngôi chùa làng ở hương Cổ Châu. Sáng hôm sau, trước khi lên đường, Ngài viết lên vách tường của ngôi chùa bài thơ “Đề Cổ Châu Hương Thôn Tự” (Đề Thơ Nơi Chùa Làng Cổ Châu):

“Thế số nhất tức mặc,
Thời tình lưỡng hải ngân.
Ma cung hồn quản thậm,
Phật quốc bất thăng Xuân.”

(Số đời, một hơi thở,
Tình người, đôi mắt thôi.
Cung ma nhốt chặt hết,
Xứ Phật rợp Xuân rồi.)

“Thế số nhất tức mặc” (số phận đời người giống như một hơi thở ra hít vào), thở ra mà không hít vào thì xem như một đời người sẽ kết thúc. Vì vậy, Sống-Chết mong manh như hơi thở mà thôi. “Thời tình” (tình của đời người) chỉ là “lưỡng hải ngân” (đôi mắt). Nếu thấy thấu suốt điều ấy thì sẽ liễu ngộ lẽ Sống-Chết, vượt thoát hết “ma cung” đã từng “hồn quản thậm” (hồn bị nhốt chặt, khóa chặt hết) mọi chúng sinh. Chỉ có liễu ngộ lẽ Sống-Chết được như vậy thì mới “Phật quốc bất thăng Xuân” (Xứ Phật tràn ngập màu Xuân khôn xiết kể) được.

Cũng vậy, khi mở đầu cho một bài giảng ở chùa Sùng Nghiêm bằng bài thi kệ 4 câu (trích trong sách Trần Nhân Tông Toàn Tập của giáo sư Lê Mạnh Thát, đặt tựa bài là “Thân Như”):

“Thân như hô hấp tỵ trung khí,
Thế tự phong hành lĩnh ngoại vân.
Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú,
Bất thị tầm thường không quá xuân.”

(Thân như hơi thở ra vào mũi,
Đời tợ gió vờn mây đỉnh xa.
Đỗ quyên xót tiếng trăng ngày sáng,
Chớ lụy tầm ruồng xuân luống qua.)

Thiết nghĩ, đây cũng là sự chiêm nghiệm về Ngũ Uẩn Giai Không của Phật pháp. Phải thấu suốt bản chất mong manh, tạm bợ, vô thường, không thật của Năm Uẩn, để từ đó xa rời mọi kiến chấp, thủ chấp, sân hận, đố kỵ, tham luyến, nhằm đạt đến cảnh giới thanh tịnh, an lạc. Hai câu thi kệ cuối trong bài “Thân Như” nầy giống như lời cảnh báo, thức tỉnh: Hãy quay về chân tâm của chính bản thân mình mà tự thực nghiệm, thực chứng để thấu triệt, liễu ngộ Ngũ Uẩn Giai Không thì mới mong kiến tánh, giải thoát.

“Kệ Vân” là bài thi kệ nằm ở phần cuối cùng, kết thúc cho bài Phú bằng chữ Nôm của Phật hoàng Trần Nhân Tông: “Cư Trần Lạc Đạo Phú” (Bài Phú Sống Với Đời Vui Với Đạo). Đây là một bài phú tuyệt hảo, tuệ giác thâm diệu,tóm thâu tinh túy cô đọng nhất tư tưởng “Cư Trần Lạc Đạo” của Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Bài phú gồm có 10 hội, kết thúc bằng bài “Kệ Vân” (trích nguyên văn dưới đây), đã trở thành tư tưởng cốt yếu, là kim chỉ nam tu tập hành trì của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử cho đến tận ngày nay. Đối với Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Phật pháp đã, đang và mãi mãi hiện diện trong cuộc đời nầy. Cuộc đời rất Thật mà cũng rất Ảo. Vì vậy, không có sự cách ly phân biệt giữa Đạo và Đời. Phật pháp nằm chính ngay trong lòng cuộc đời. Người tu tập hành trì Phật pháp phải thấu triệt tư tưởng đó, ung dung tự tại, để đạt đến “vô tâm đối cảnh,” giác ngộ chân tánh:

“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.”

(Ở đời vui đạo, cứ tùy duyên,
Đói phải ăn thôi, mệt ngủ liền.
Của quí trong nhà, tìm đâu nữa,
Vô tâm đối cảnh, hỏi chi thiền?)       

Bài thi kệ “Thị Tịch”, cũng là bài thi kệcuối cùng của Trần Nhân Tông. Trong sách Trần Nhân Tông Toàn Tập của giáo sư Lê Mạnh Thát có ghi, đại ý:Ngày mồng một tháng 11.1308, vào lúc nửa đêm, sao mai sáng rực, Thượng hoàng hỏi Bảo Sát: “Lúc này mấy giờ rồi?”. Bảo Sát trả lời: “Giờ Tý”. Thượng Hoàng dùng tay mở cánh cửa sổ ra nhìn rồi nói: “Đây là giờ ta đi”. Bảo Sát hỏi: “Tôn đức đi đâu?”. Thượng hoàng nói bài thi kệ sau đây:

“Nhất thiết pháp bất sinh,
Nhất thiết pháp bất diệt.
Nhược năng như thị giải,
Chư Phật thường hiện tiền,
Hà khứ lai chi hữu.”

(Hết thảy pháp không sinh,
Hết thảy pháp không diệt.
Nếu thấu suốt như vậy,
Chư Phật luôn hiện tiền,
Chốn nào đi đến nữa?!)”

“Không sinh không diệt, không đến không đi”. Đó cũng chính là Chân Không Diệu Hữu của vạn pháp. Trong khoảng không-thời-gian vô thỉ vô chung, mọi sự vật, về thực chất, là sự vận hành do Lý Duyên Khởi tác động, chuyển đổi, chuyển hóa từ một thể dạng nầy sang một thể dạng khác. Do chấp thủ, định kiến nên chúng ta không thấy ra dòng chảy bất tận của vạn pháp, rồi cho rằng cái nầy sinh, cái kia diệt, cái kia đến, cái nầy đi. Nếu thấy được “Nhất thiết pháp bất sinh / Nhất thiết pháp bất diệt” thì “Chư Phật thường hiện tiền”“Chư Phật” cũng là Chân Như, Chân Tánh. Đây cũng chính là bài kệ đắc pháp thâm diệu của vị Phật hoàng vậy.

Lời Kết

Thơ Trần Nhân Tông, bắt nguồn từ Phước Duyên rất lớn và cũng là kết quả của nỗ lực bản thân hành trì tu tập của thiền-sư-thi-sĩ.

Trải qua quá trình Văn-Tư-Tu, thâm nhập Giới-Định-Tuệ một cách kiên trì, kham nhẫn ngay từ lúc còn rất trẻ cho đến cuối cuộc đời, ngài Điều Ngự Giác Hoàng đã liễu ngộ đươc lẽ Có-Không, Sinh-Tử, cảm nhận thấu đáo Ngũ Uẩn Giai Không nhờ cái thấy xuyên suốt Thực-Tại-Hiện-Tiền. Vì vậy, thơ Trần Nhân Tông không chỉ dừng lại ở giá trị nghệ thuật thi ca đơn thuần, mà đáng kể hơn là tầng sâu rộng hoằng viễn, uyên áo về tư tưởng của Phật pháp. Đặc biệt nhất là tư tưởng Cư Trần Lạc Đạo, cũng là linh hồn của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, mà Điều Ngự Giác Hoàng là vị tổ sáng lập, dung hợp mật thiết giữa Đời và Đạo, vừa nhập thế tận hiến cho Nước cho Dân, vừa kiên trì kham nhẫn tu tập hành trì, liễu ngộ tâm Bát Nhã.

Đọc thơ Trần Nhân Tông, kẻ hậu bối nầy tự biết sức đọc, sức học, sức thấy, sức cảm thụ còn thô lậu nông cạn. Nhưng do lòng kính ngưỡng, quí trọng ngay từ thời trai trẻ đối với một vị minh quân đỡm lược hiếm có trong lịch sử dân tộc, một vị thiền-sư-thi-sĩ liễu ngộ thâm sâu hoằng viễn Phật pháp, nên bản thân đã tự nguyện dồn hết tâm lực tra cứu, nghiền ngẫm, lắng lòng vào thơ vào kệ, viết xuống những dòng cảm nhận chân thành nầy, kèm theo bài thơ cảm ứng dưới đây (viết từ tháng 07.2015) tạm gọi là bày tỏ lòng kính ngưỡng và tri ân sâu nặng đối với bậc tiền bối:

CẢM ỨNG THƠ TRẦN NHÂN TÔNG

1.

người lính già kể chuyện nguyên phong
rù rì theo sắc nắng thương mong
đầu bạc bên chiêu lăng lặng lẽ
tình quê nợ nước vẫn chưa xong

2.

một hơi thở một đời thế thôi
gió cuốn đi thực mộng quên rồi
chùa làng lưu lại câu tâm bút
thơ bay đi theo mây rong chơi

3.

núi bảo đài thơm ngát ánh trăng
đời đang trôi như thầm nhủ rằng
năm tháng xa gần nâng sáo ngọc
nửa bóng râm và nửa tuyết băng

4.

mây giăng ảo diệu trên yên tử
chuông chiều thở nhẹ quanh thiền tự
cánh hồng rụng nhớ cánh bướm bay
nệm cỏ sư ngồi tứ niệm xứ

5.

thị phi hoa rơi rụng buổi sáng
lợi danh lạnh theo mưa ban đêm
bật một que diêm trong im vắng
rít điếu thuốc tàn chẳng nghĩ thêm 

6.

xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
sơn hà thiên cổ điện kim âu
đời nay ngu ác đày dân khổ
trào đình hèn mạt sợ thằng tàu

7.

thơ là kệ hay kệ là thơ
hỏi làm chi xác chữ cứng đơ
thần hồn tạnh ráo sáng con mắt
pháp không sanh không diệt sang bờ

8.

tịch mịch rền câu có câu không
thuở anh niên đội nắng băng đồng
trời chẳng nói và đất chẳng nói
nắng đầu xuân gọi nắng đầu đông

9.

tịch mịch vui trăng non vừa nhú
tịch mịch sầu vớt lên tuyệt cú
sông thu vừa hớp ngụm sương mai
trời thu vừa nở thêm một nụ.

Calif., Westminster, hoàn tất bản thảo vào mùa Thu 2016,
hiệu đính cuối tháng 12.2016

Nguyễn Lương Vỵ

Ghi chú:

1. Phần trích thơ Trần Nhân Tông: Chỉ trích phần phiên âm nguyên tác chữ Hán và phần phỏng dịch thơ Việt của người viết. Riêng 2 cặp thơ lẻ (còn gọi là phiến) ngôn ngữ và ý nghĩa khá rõ ràng, người viết dựa theo các bản dịch thơ trước đây.

2. Duyên khởi (縁 起, Pali: Paṭiccasamuppāda), cũng được gọi là Nhân Duyên Sinh (因 縁 生), và vì bao gồm 12 thành phần nên cũng có tên khác là Thập Nhị Nhân Duyên (十 二 因 縁). Duyên Khởi là một trong những giáo lý trọng yếu nhất của Phật pháp. Thuyết này chỉ rõ là mọi hiện tượng tâm lý và vật lý tạo nên đời sống đều nằm trong một mối liên hệ với nhau, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là kết quả của một yếu tố khác, làm thành một vòng với mười hai yếu tố. Các yếu tố này làm các loài hữu hình cứ mãi vướng mắc trong Luân Hồi SinhTử. Theo kinh Duyên khởi, mười hai nhân duyên cụ thể như sau:

Vô minh (無 明), sự không thấu hiểu Tứ Diệu Đế, không hiểu Khổ là tính chất căn bản của đời sống.

. Vô minh sinh Hành (行), hành động tạo Nghiệp. Hành động này có thể tốt, xấu hay trung tính. Hành có thể ở trong ba dạng: thân, khẩu và ý.

. Hành sinh Thức (識), làm nền tảng cho một đời sống tới. Thức này đi vào bụng mẹ. Thức lựa chọn cha mẹ đúng như Hành tốt xấu quy định.

. Thức sinh Danh Sắc (名 色), là toàn bộ tâm lý và vật lý của bào thai mới, do Ngũ Uẩn tạo thành.

. Danh sắc sinh Lục Căn (六根), là các giác quan, sáu căn (năm giác quan và khả năng suy nghĩ là sáu). Lục Căn bắt đầu tiếp xúc với bên ngoài gọi là Xúc (觸).

. Xúc sinh Thọ (受), là cảm nhận của con người với thế giới bên ngoài.

. Thọ sinh Ái (愛), tham ái, lòng ham muốn xuất phát từ vô minh.

. Ái sinh Thủ (取), còn gọi là Thủ Chấp, là điều cá nhân muốn chiếm lấy cho mình.

. Thủ dẫn đến Hữu (有), là toàn bộ những gì ta gọi là tồn tại, sự sống, thế giới.

. Hữu dẫn đến Sinh (生), là cuộc sống hàng ngày, bao gồm dục là tham ái và lòng ham muốn.

. Sinh dẫn đến Lão Tử (老 死), vì có Sinh nên có Già Chết.

3.Tất Cả Pháp Lấy Tác Ý Làm Sanh Khởi”: Nguyên bản Pali của câu này là: “manasikārasambhavā sabbe dhammā”. Bản dịch tiếng Anh của Thanissaro Bhikkhu là “All phenomena come into play through attention”. Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch là : “Tất cả Pháp lấy Tác Ý làm sanh khởi”.

4. Thiền sư Huệ Năng (638-713), là vị Tổ thứ sáu của Thiền tông nước Tàu, môn đệ của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Ngài là tác giả của tác phẩm chữ Hán duy nhất được gọi là “Kinh” (một từ thường được dùng để chỉ những lời dạy của đức Phật Thích Ca), đó là “Pháp Bảo Đàn Kinh,” có ý nghĩa rất sâu xa về thiền. Bài kệ đắc pháp của ngài Huệ Năng như sau: “Bồ đề bổn vô thụ, / Minh kính diệc phi đài. / Bổn lai vô nhất vật, / Hà xứ nhạ trần ai.” (Bồ đề vốn chẳng là cây, / Gương sáng cũng chẳng phải là đài. / Xưa nay không một vật nào cả, / Nơi nào dính bụi trần?).

5. Thiền sư Từ Đạo Hạnh (1072-1116): Tục gọi là đức thánh Láng, là một thiền sư thời nhà Lý. Cuộc đời ông được ghi lại dưới nhiều màu sắc huyền thoại. Dân chúng lập đền thờ ông tại chùa Thiên Phúc (nay thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội), tục gọi là chùa Thầy và chùa Láng, chùa Nền ở Hà Nội. Hàng năm, lễ hội chùa Thầy được mở vào ngày 7 tháng 3 âm lịch, tương truyền là ngày ông viên tịch.

6. Thiền sư Huyền Quang (1254-1334): Tên thật là Lý Đạo Tái, người hương Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang. Nay là làng Vạn Tải, xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Ông học rất giỏi, đỗ cả thi Hương, thi Hội. Về sau, ông đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ (trạng nguyên) khoa thi khoảng năm 1272 hay 1274 và được bổ làm việc trong Viện Nội Hàn của triều đình nhà Trần, tiếp sứ Bắc triều, nổi tiếng văn thơ. Sau này, ông từ chức đi tu, theo Trần Nhân Tông lên Trúc Lâm. Là một Thiền sư Việt Nam, tổ thứ ba dòng Trúc Lâm Yên Tử. Ông là một nhà thơ lớn với nhiều bài thơ còn được lưu lại. Cùng với Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân Tông và Pháp Loa, ông được xem là một Đại thiền sư của Việt Nam.

7. William Shakespeare (1564-1616): Là nhà thơ, nhà viết kịch người Anh, được coi là nhà thơ vĩ đại nhất của Anh và là nhà viết kịch đi trước thời đại. Ông cũng được vinh danh là nhà thơ tiêu biểu của nước Anh và là “Nhà thơ của Avon” (Avon là quê của Shakespeare, viết tắt của Stratford-upon-Avon). Những tác phẩm của ông, bao gồm cả những tác phẩm hợp tác, bao gồm 38 vở kịch,154 bản sonnet, 2 bản thơ tường thuật dài, và vài bài thơ ngắn. Những vở kịch của ông đã được dịch ra thành rất nhiều ngôn ngữ và được trình diễn nhiều hơn bất kì nhà viết kịch nào.

8. Martin Heiderger (1889-1976): Triết gia người Đức. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông: “Hữu thể và Thời Gian,” đây là tác phẩm đã đưa ông trở thành nhà triết học có tầm vóc lớn trong thế kỷ 20 và có ảnh hưởng sâu rộng cho đến ngày nay, được xuất bản năm 1927; “Kant và vấn đề siêu hình học”; “Nhập môn siêu hình học” (1935); “Học thuyết Platon về chân lý” (1942);  “Bức thư về chủ nghĩa nhân bản” (1947); “Những con đường rừng” (1950); “Những bài thuyết trình và những bài viết” (1952); “Tư duy là gì” (1954); “Nietzsche” (1961) và một số tác phẩm chưa ấn hành.

Nguồn tham khảo chínhThơ Văn Lý Trần, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1989) – Lê Mạnh Thát, Trần Nhân Tông Toàn Tập, NXB TPHCM, 2000 – Nguyễn Huệ Chi, Văn Học Cổ Cận Đại Việt NamTừ Góc Nhìn Văn Hóa Đến Các Mã Nghệ Thuật, NXB Giáo Dục, 2013 – Các trang mạng wikipedia.org – thuvienhoasen.org – thivien.net.

III. Thơ Trần Nhân Tông (Thơ Thiền và Phật Giáo Đời Trần) – Thích Phước Tịnh 03

 

IV. Cư Trần Lạc Đạo Hồi 1 – Trần Nhân Tông – Thầy Thích Nhất Hạnh

 

V. Danh sách các bài thơ Trần Nhân Tông thivien.net

Trần Nhân Tông 陳仁宗 (1258-1308) tên thật là Trần Khâm 陳昑, là con của vua Trần Thánh Tông 陳聖宗 và là vị vua thứ 3 của nhà Trần, sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (7-12-1258), lên làm vua từ năm Kỷ Mão (1279), niên hiệu là Thiệu Bảo và Trùng Hưng (1285-1293). Lúc trẻ có nhiều tên gọi: Khâm, Phật Kim và Nhật Tôn. Sau khi mất thuỵ hiệu là Nhân Tông.

Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một trong những ông vua yêu nước và anh hùng. Lên nối ngôi vua giữa tình thế đất nước đang đứng trước một cuộc xâm lăng không tránh khỏi của đế quốc Nguyên Mông, ông đã cùng vua cha lãnh đạo triều đình và dân chúng khẩn trương chuẩn bị về mọi mặt, nâng sức chiến đấu của quân và dân lên vượt bậc và nhờ đó đã giành thắng lợi rực rỡ trong hai lần đọ sức với 50 vạn quân giặc (1285 và 1288), l… 

  1. Đại Lãm Thần Quang tự8
  2. Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca
  3. Đăng Bảo Đài sơn11
  4. Đề Cổ Châu hương thôn tự8
  5. Đề Phổ Minh tự thuỷ tạ5
  6. Động Thiên hồ thượng6
  7. Hoạ Kiều Nguyên Lãng vận9
  8. Hữu cú vô cú6
  9. Khuê oán6
  10. Lạng Châu vãn cảnh14
  11. Mai6
  12. Nguyệt8
  13. Nhị nguyệt thập nhất nhật dạ5
  14. Quân tu ký2
  15. Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính6
  16. Sơn phòng mạn hứng kỳ 15
  17. Sơn phòng mạn hứng kỳ 29
  18. Sư đệ vấn đáp1
  19. Tán Tuệ Trung thượng sĩ6
  20. Tảo mai kỳ 15
  21. Tảo mai kỳ 26
  22. Tặng bắc sứ Lý Tư Diễn4
  23. Tây chinh đạo trung (tái chinh Ai Lao)6
  24. Thiên Trường phủ5
  25. Thiên Trường vãn vọng 21
  26. Tống bắc sứ Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai4
  27. Tống bắc sứ Ma Hợp, Kiều Nguyên Lãng5
  28. Trúc nô minh6
  29. Tức sự (I)1
  30. Tức sự (II)3
  31. Vũ Lâm thu vãn8
  32. Xuân cảnh10
  33. Xuân hiểu26
  34. Xuân nhật yết Chiêu Lăng5
  35. Xuân vãn14

Cư trần lạc đạo phú – 居塵樂道賦  

  1. Đệ nhất hội
  2. Đệ nhị hội
  3. Đệ tam hội
  4. Đệ tứ hội
  5. Đệ ngũ hội
  6. Đệ lục hội
  7. Đệ thất hội
  8. Đệ bát hội
  9. Đệ cửu hội
  10. Đệ thập hội
  11. Kệ vân9

Hits: 188

.

Đây là một bài viết chọn lọc. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trần Nhân Tông
陳仁宗
Hoàng đế Việt Nam

Hình ảnh Vua - Thái Thượng hoàng Trần Nhân Tông trong tác phẩm Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ.

Hoàng đế Đại Việt
Trị vì 8 tháng 11 năm 1278 –
16 tháng 4 năm 1293
(14 năm, 159 ngày)

Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông (1278-1290)
Tiền nhiệm Trần Thánh Tông
Kế nhiệm Trần Anh Tông
Thái thượng hoàng Đại Việt
Tại vị 16 tháng 4 năm 1293 – 16 tháng 12 năm 1308
(15 năm, 244 ngày)
Tiền nhiệm Trần Thánh Tông
Kế nhiệm Trần Anh Tông
Thông tin chung
Sinh 7 tháng 12 năm 1258
Thăng LongĐại Việt
Mất 16 tháng 12 năm 1308 (50 tuổi)
Am Ngọa Vânnúi Yên Tử
An táng Lăng Quy Đức, phủ Long Hưng, Đại Việt
Hậu phi
hiệnHậu phi
Hậu duệ
hiệnHậu duệ
Tên húy
Trần Khâm (陳昑)
Niên hiệu
Thụy hiệu
Pháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Huệ Thánh Văn Thần Võ Nguyên Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế
法天崇道應世化民隆慈顯惠聖文神武元明睿孝皇帝
Miếu hiệu
Nhân Tông
Tước vị
  • Hiếu Hoàng (孝皇 1278-93)
  • Pháp Thiên Ngự Cực Anh Liệt Vũ Thánh Minh Nhân Hoàng Đế (法天御極英烈武聖明仁皇帝 1278-93)
  • Hiến Nghiêu Quang Thánh Thái Thượng Hoàng Đế (憲堯光聖太上皇帝 1293-1308)
Hoàng tộc Hoàng triều Trần
Thân phụ Trần Thánh Tông
Thân mẫu Nguyên Thánh Hoàng hậu
Tôn giáo Phật giáo Đại thừa

Đức vua Phật hoàng Trần Nhân Tông (chữ Hán: 陳仁宗, 7 tháng 12 năm 1258 – 16 tháng 12 năm 1308) tên khai sinh là Trần Khâm (陳昑), tự là Thanh Phúc, là vị vua thứ ba của nhà Trần nước Đại Việt. Ông trị vì từ ngày 8 tháng 11 năm 1278 đến ngày 16 tháng 4 năm 1293, sau đó làm Thái thượng hoàng cho đến khi qua đời. Trần Nhân Tông được sử Việt đánh giá là một vị Hoàng đế anh minh, đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững của Đại Việt cuối thế kỷ XIII, cũng như việc bảo vệ nền độc lập và mở rộng lãnh thổ đất nước.[1][2] Ngoài ra, Trần Nhân Tông cũng là một thiền sư lớn của Phật giáo Việt Nam thời trung đại.[3] Ông là 1 trong 14 vị anh hùng dân tộc Việt Nam.

Là con trai trưởng của Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông đã được truyền ngôi vào tháng 11 năm 1278 – lúc ông chưa đầy 20 tuổi. Do nguy cơ trước sự lăm le của Nguyên Mông, sau khi lên ngôi Trần Nhân Tông đã triển khai nhiều biện pháp nhằm nâng cao sức mạnh kinh tế và ổn định chính trị – xã hội của Đại Việt, đồng thời xây dựng quan hệ tích cực với nước láng giềng phía nam là Chiêm Thành. Năm 1285, hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt đã huy động một lực lượng lớn (theo Đại Việt sử ký toàn thư là 50 vạn người) tấn công Đại Việt.[4][5] Quân dân Đại Việt ban đầu gặp nhiều tổn thất; nhưng dưới sự chỉ huy của vua Nhân Tông, thượng hoàng Trần Thánh Tông và Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo, người Việt đã dần dần xoay chuyển tình thế và đánh bật quân Nguyên ra khỏi đất nước. Sau đó, 2 vua Trần và Hưng Đạo vương tiếp tục lãnh đạo dân Việt đánh bại một cuộc xâm lược khác của Mông – Nguyên vào năm 1287.

Sau khi đẩy lùi các cuộc xâm lược của người Mông Cổ, Trần Nhân Tông đã khôi phục sự hưng thịnh của Đại Việt đồng thời thực thi phương sách ngoại giao vừa mềm dẻo, vừa cứng rắn với nhà Nguyên. Năm 1293, ông truyền ngôi cho Thái tử Trần Thuyên (tức vua Trần Anh Tông) và lên làm Thái thượng hoàng.[2][6] Sau đó Nhân Tông xuất gia tu hành theo đạo Phật và lấy hiệu Trúc Lâm Đại Sĩ (竹林大士); nhưng ông vẫn tham gia điều hành chính sự, đánh dẹp quân Ai Lao xâm phạm biên giới và mở rộng .[7] Trần Nhân Tông cũng chính là vị tổ sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền Phật giáo mang bản sắc văn hóa Việt Nam và tinh thần nhập thế.[8]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm (陳昑), Trần Nhật Tuấn/Trần Nhật Tôn (陳日燇)[9], sinh ngày 11 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ niên hiệu Thiệu Long năm thứ 1 (tức ngày 7 tháng 12 năm 1258). Ông là đích trưởng tử của Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng hậu Trần Thị Thiều. Theo Đại Việt sử ký toàn thư (bộ quốc sử Đại Việt biên soạn năm 1479 thời Lê Thánh Tông), Trần Khâm ngay từ khi sinh ra đã được tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng, nên vua cha và ông nội – Thái thượng hoàng Trần Thái Tông đã gọi ông là Kim Tiên đồng tử (金仙童子).[1] Các sách Tam Tổ thực lục và Thánh đăng ngữ lục (đều ra đời vào khoảng thế kỷ XIV) chép biệt hiệu này là Kim Phật (金佛).[10][11] Cả hai sách này và Đại Việt Sử ký Toàn thư đều kể rằng bên vai trái Trần Khâm có nốt ruồi đen lớn như hạt đậu; người xem tướng đoán rằng hoàng tử về sau sẽ làm được việc lớn.[5]

Năm 1274, ở tuổi 16, Trần Khâm được vua cha sách phong làm Hoàng thái tử. Trần Thánh Tông cũng lập trưởng nữ của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn (tức Khâm Từ Hoàng hậu sau này) làm Thái tử phi. Trần Thánh Tông còn vời các nho sĩ có tài đức trong cả nước về hầu cận thái tử. Tướng Lê Phụ Trần được phong chức Thiếu sư, kiêm Trừ cung Giáo thụ, đảm trách việc dạy học thái tử. Bản thân nhà vua cũng viết thơ và sách Di hậu lục (2 quyển) giáo huấn cho thái tử.[12] Các chú giải của Trần Quang Chỉ trong tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ cho biết Trần Khâm đã đạt được trình độ cao về các lĩnh vực như quân sự, âm nhạc, lịch số học và thiên văn học. Ông cũng học kỹ về tam giáo Phật-Lão-Nho và am hiểu tường tận giáo pháp nhà Phật.[5] Sách Thánh đăng ngữ lục cũng viết: "Bản chất Ngài rất thông minh và hiếu học, có nhiều tài năng, xem khắp hết các sách, thông suốt cả nội điển lẫn ngoại điển".[10]

Tuy ở ngôi thái tử và có hôn nhân hạnh phúc, Trần Khâm có chí hướng xuất gia theo Phật. Ông đã nhiều lần xin nhường ngôi Thái tử cho em là Tá Thiên vương Trần Đức Việp nhưng không được vua cha chấp thuận. Có lần, Trần Khâm nhân đêm khuya vượt thành đi vào núi Yên Tử ẩn tu, đến chùa Tháp ở núi Đông Cứu thì trời sáng, ông đã thấm mệt nên vào nghỉ trong tháp. Vị tu sĩ ở chùa thấy ông có dung mạo phi thường bèn mời cơm. Sau Trần Thánh Tông và hoàng hậu biết tin, sai quan quân đi tìm và thỉnh cầu ông về kinh đô; Trần Khâm bèn miễn cưỡng nhận ngôi thái tử.[10]

Hoàng đế Đại Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 22 tháng 10 âm lịch năm Mậu Dần (tức ngày 8 tháng 11 năm 1278) Trần Khâm được cha truyền ngôi, tức vua Trần Nhân Tông. Ông tự xưng làm Hiếu Hoàng (孝皇) và được bá quan dâng tôn hiệu là Pháp Thiên Ngự Cực Anh Liệt Vũ Thánh Minh Nhân Hoàng Đế (法天御極英烈武聖明仁皇帝). Thánh Tông lên làm Thái thượng hoàng và cùng trị vì với Nhân Tông cho đến khi mất năm 1290.[13][14] Mùa xuân năm 1279, nhà vua lấy niên hiệu là Thiệu Bảo (紹寶). Đến tháng 9 âm lịch năm 1285 ông đổi niên hiệu thành Trùng Hưng (重興) và dùng niên hiệu này tới khi nhường ngôi năm 1293.[15]

Trong thời kỳ làm vua, Trần Nhân Tông vẫn sống thanh tịnh trên tinh thần Phật giáo. Khi rảnh việc nước, ông thường mời các thiền giả đến hỏi về yếu chỉ Thiền tông. Đặc biệt, theo Thánh đăng ngữ lục, ông học đạo với Thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ (tức Hưng Ninh vương Trần Quốc Tung, anh của Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng hậu), "đạt sâu tới chỗ thiền tủy và thờ Thượng Sĩ làm thầy". Ngoài ra, ông từng ăn chay khổ hạnh đến mức thân hình gầy guộc, khiến Thượng hoàng phải ngăn lại. Sách Thánh đăng ngữ lục kể: "Thánh Tông khóc, bảo: Ta nay già rồi, trông cậy một mình con, nếu con làm như thế thì sự nghiệp của Tổ tông sẽ ra sao? Ngài [Nhân Tông] nghe vua cha nói vậy cũng rơi nước mắt".[5][10]

Buổi đầu trị nước[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Nhân Tông lên ngôi trong lúc nền độc lập Đại Việt bị đe dọa trầm trọng. Ở phương Bắc, Nguyên–Mông đã chinh phục hầu hết Nam Tống và bắt đầu dòm ngó Đại Việt. Ngay sau khi ông đăng quang, vua Nguyên là Hốt Tất Liệt cử Lễ bộ Thượng thư Sài Thung sang Đại Việt, lấy cớ Nhân Tông "không xin mệnh mà tự lập" (nghĩa là tự xưng làm vua mà không chịu xin phép "thiên triều" Nguyên) để ép vua Trần sang triều kiến.[1][5][16] Trần Nhân Tông đã đối đãi tử tế với Sài Thung, nhưng kiên quyết không sang chầu. Thung đành đi tay không về nước.[5][1][17] Nhân Tông lại sai Trịnh Đình Toản và Đỗ Quốc Kế sang cống nạp nhà Nguyên. Tháng 12 năm 1279, Hốt Tất Liệt giam cầm Đình Toản ở thành Đại Đô, rồi ép Quốc Kế đi cùng một phái bộ mới của Sài Thung sang dụ Đại Việt.[5][18][1] Nhân Tông vẫn không nhân nhượng, mặc dù Thung đã dọa nạt rằng nếu không sang chầu, "thì hãy sửa sang thành trì của ngươi, để đợi sự phán xét".[5]

Đứng trước hiểm họa xâm lược từ Mông Cổ, Hoàng đế đã có nhiều nỗ lực nhằm phát triển kinh tế, đảm bảo sự ổn định và đoàn kết trong nước.[5][19] Cụ thể, tháng 1 âm lịch năm 1280, ông ra lệnh hợp nhất hệ thống đo lường để thúc đẩy thương mại trên toàn quốc.[1][5][20] Ngoài ra, ông khuyến khích nông dân tăng cường sản xuất, và nhờ vậy, Đại Việt đã "được mùa to, lúa ruộng ở hương Trà Kiều thuộc Khoái Lộ một giò hai bông" (theo Đại Việt sử ký toàn thư) vào tháng 10 âm lịch năm 1280.[1][5][20] Mùa xuân năm 1284, Hoàng đế lại sai vét sông Tô Lịch nhằm biến sông này thành trục giao thông chính của kinh đô.[19][21]

Trên phương diện Chính trị – Xã hội, tháng 2 âm lịch năm 1280, Trần Nhân Tông cho điều tra và cập nhật dân số, đồng thời giải quyết nhanh các khiếu nại oan sai của người dân. Đại Việt sử ký toàn thư thuật lại, Chi hậu cục thủ Đỗ Khắc Chung có người em tên Đỗ Thiên Hư từng kiện cáo một người; dù Thiên Hư trái về cả tình lẫn lý nhưng viên quan xử án tỏ ra bênh vực. Người bị kiện thấy vua Trần Nhân Tông đang đi ngoài thành, bèn đón và kêu oan. Nhà vua phán: "Đó là do sợ mà né tránh Khắc Chung đấy", rồi cử ngay Chánh chưởng Nội thư hỏa là Trần Hùng Thao kiêm chức Kiểm pháp quan để điều tra lại, cuối cùng Thiên Hư phải nhận sai. Sử quan nhà Hậu Lê Ngô Sĩ Liên có nhận định về việc làm của vua Trần Nhân Tông:[1][5][20]

Người kiện có điều oan uổng mà được dễ dàng kêu bày, hình quan để chậm án, không thấy có lời trách hỏi, hoạn quan nội thần lạm cử làm pháp quan, vua làm việc này có ba lầm lỗi kèm theo, nhưng như vậy thì dân tình được thấu lên trên. Việc cai trị kẻ dưới thà sai để khoan thứ để cho án kiện đọng lại được xử ngay, cũng thấy được lòng trung hậu của vua.

— Ngô Sĩ Liên

Cũng trong năm 1280, thủ lĩnh người Ngưu Hống tại Đà Giang là Trịnh Giác Mật nổi dậy, Trần Nhân Tông sai Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đi thuyết phục phiến quân quy hàng. Trần Nhật Duật nhờ khéo ngoại giao và hiểu biết văn hóa dân bản địa nên đã thu phục được Giác Mật mà không phải giao chiến. Chiêu Văn vương đưa cả nhà Giác Mật vào chầu Trần Nhân Tông. Nhà vua hết mực khen ngợi Nhật Duật, sau này tha Giác Mật và gia đình về Đà Giang.[22] Từ đây, Ngưu Hống thần phục Đại Việt cho đến khi nổi dậy vào mùa đông năm 1329 thời Trần Hiến Tông.[23]

Về quan chế, vua Trần Nhân Tông đã đặt ra một số chức quan mới: Hàn lâm viện học sĩ phụng chỉ (1282), Tả hữu bộc xạ (1283).[24]

Về giáo dục, năm 1281, Trần Nhân Tông dựng nhà học ở phủ Thiên Trường (đất phát tích của hoàng triều, nay thuộc Nam Định). Tuy nhiên, nhà vua vẫn theo lệ cũ, cấm các chiến sĩ hiệu quân Thiên Thuộc được vào học.[25] Cũng từ đầu đời vua Nhân Tông, chữ Nôm bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong các tác phẩm thơ văn ở Đại Việt. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, dưới trướng Nhân Tông có Hình bộ Thượng thư Nguyễn Thuyên thạo thơ phú Quốc ngữ; năm 1282, khi có cá sấu tới sông Hồng, hoàng đế sai Nguyễn Thuyên làm văn tế cá sấu thả xuống sông. Sau này cá sấu bỏ đi, nhà vua cho là Nguyễn Thuyên có tài như Hàn Dũ, mới đổi gọi là Hàn Thuyên.[26]

Trong việc đối ngoại, Trần Nhân Tông ứng xử vừa khéo léo, vừa cứng rắn với nhà Nguyên. Sau khi tiếp đón Sài Thung lần 3 vào năm 1280, năm 1281 Nhân Tông phái Trần Di Ái cùng Lê Mục, Lê Tuân thay ông sang chầu vua Nguyên.[27][28] Hốt Tất Liệt vẫn quyết tâm xâm lược phương Nam; nhà Nguyên cử một số quan lại sang giám sát các châu huyện của Đại Việt, nhưng Nhân Tông đã trục xuất những người này về Trung Quốc. Không bỏ cuộc, khoảng năm 1281–1282, vua Nguyên lập Trần Di Ái làm "An Nam Quốc vương", Lê Mục làm "Hàn lâm học sĩ" và Lê Tuân làm "Thượng thư", rồi lại sai Sài Thung đem 1 nghìn quân hộ tống nhóm Di Ái về bản quốc. Vua Nhân Tông đã huy động lực lượng chặn đánh ở ải Nam Quan và bắt giữ nhóm Di Ái, song vẫn nghênh đón Sài Thung về Thăng Long.[18][29] Thất bại của việc lập Di Ái làm vua bù nhìn Đại Việt đã khiến Sài Thung tức giận đến mức khi "vua sai Quang Khải đến sứ quán khoản tiếp. Xuân [cách gọi khác của Sài Thung] nằm khểnh không ra, Quang Khải vào hẳn trong phòng, hắn cũng không dậy tiếp."[19][5] Phải đến khi Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đóng giả làm một tăng sĩ Trung Hoa đi vào sứ quán, Thung mới chịu tiếp.[19][5]

Khoảng tháng 9 – 11 năm 1282nhà Nguyên một mặt cử tướng Toa Đô từ Quảng Châu tấn công Chiêm Thành, mặt khác sai Trấn Nam vương Thoát Hoan tập trung 50 vạn quân chuẩn bị "mượn đường đánh Chiêm" (mà thực chất là xâm lược Đại Việt).[5][28][19] Vào tháng 11, Nhân Tông mở Hội nghị Bình Than để thảo luận với bá quan về phương án tổ chức kháng chiến. Viết về hội nghị này, sử sách có đề cập việc phục chức Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, một tướng có tài, trước đã được Trần Thánh Tông phong làm Thiên tử nghĩa nam, sau bị đoạt hết quan tước, tịch biên tài sản vì tội thông dâm với Công chúa Thiên Thụy. Khi thuyền Nhân Tông đỗ trên bến Bình Than, nhà vua nhìn thấy một chiếc thuyền lớn chở than củi, người lái đội nón lá, mặc áo ngắn. Ông nhận ra ngay là Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư. Nhà vua sai nội thị chèo thuyền đuổi theo, dẫn Trần Khánh Dư đến yết kiến. Vua Nhân Tông xuống chiếu tha tội Khánh Dư, phục chức Phó Đô tướng quân. Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Vua ban cho áo ngự, cho ngồi các hàng dưới các vương, trên các công hầu, cùng bàn việc nước, nhiều điều hợp ý vua". Sau, Hưng Đạo vương giao cho Khánh Dư trấn giữ Vân Đồn, lập công lớn đánh bại đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ.[19]

Cũng tại hội nghị này, sử cũ ghi lại việc Nhân Tông thấy Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản còn nhỏ, không cho dự việc nước. Quốc Toản phẫn kích, bóp nát quả cam trong tay, rồi lui về huy động hàng nghìn thân quyến và gia nô, sửa sang khí giới, thuyền chiến và dựng lá cờ thêu 6 chữ: "Phá cường địch, báo hoàng ân" (Phá giặc mạnh, báo ơn vua). Trong cuộc chiến chống Nguyên năm 1285, Quốc Toản chiến đấu rất hăng, luôn đi đầu trận tuyến đánh quân Nguyên.[19] Theo An Nam truyện của Nguyên sử, Quốc Toản tử trận ở sông Như Nguyệt trên đường truy kích bại binh Nguyên vào tháng 5 âm lịch năm 1285.[30][31] Sử Việt kể vua Nhân Tông đích thân viết văn tế, lại truy tặng tước vương.[19]

Tháng 10 âm lịch năm 1283, Trần Nhân Tông phong Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công Tiết chế thống lĩnh chư quân, đồng thời tuyển các quân hiệu có năng lực, chia nhau chỉ huy các đơn vị quân đội.[19] Cùng với Hưng Đạo vương, Nhân Tông đã trực tiếp chỉ đạo các hoạt động huấn luyện, diễn tập của lục quân và thủy quân. Tháng 10 năm 1284, triều đình chia quân trấn giữ các địa bàn quan trọng trong cả nước.[32][5] Bên cạnh đó, Nhân Tông vẫn cử một số sứ giả mang lễ vật đi xin Thoát Hoan "hoãn binh" trong nửa cuối năm 1284.[19][5]

Không những đương đầu với người Mông Cổ, Trần Nhân Tông đã xây dựng mối quan hệ tích cực với nước Chiêm Thành ở phía Nam.[5] Tháng 12 năm 1282, ông đã gửi 2 vạn quân cùng 500 chiến thuyền sang hỗ trợ người Chiêm chặn đánh cánh quân Nguyên của Toa Đô. Nhưng trong các văn thư gửi cho người Nguyên, Trần Nhân Tông một mực phủ nhận hành động này.[33][34]

Kháng chiến chống Nguyên (1285)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2

Tháng 1 năm 1285, Thoát Hoan đưa quân đến sát ải Nam Quan và viết thư đòi "mượn đường" tấn công Chiêm Thành. Nhân Tông sai sứ thuyết phục Thoát Hoan rằng: "Từ nước tôi đến Chiêm Thành, đường thủy, đường bộ đều không tiện cả"; và đồng thời, nhà vua ra lệnh cho Hưng Đạo vương thành lập tuyến phòng thủ trên biên giới.[35][30][36] Ngày 27 tháng 1, quân Nguyên vượt biên giới, đánh bại quân Đại Việt tại các cửa ải Vĩnh Châu, Nội Bàng, Thiết Lược và Chi Lăng. Hưng Đạo vương phải rút quân chạy về bến Vạn Kiếp (nay thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương).[37] Sau khi nhận tin này, Nhân Tông bỏ cả bữa ăn sáng để đi thuyền nhẹ xuống Hải Đông và hội kiến với Quốc Tuấn.[29] Trên đường đi, có người lính tên Trần Lai dâng cơm, dù gạo xấu nhưng hoàng đế ghi nhận lòng trung thành của Lai, cho Lai chức Thượng phẩm kiêm Tiểu tư xã xã Hữu Triều Môn ở Bạch Đằng. Tại Hải Đông, ông truyền cho Trần Quốc Tuấn gọi quân từ các lộ phía đông bắc như Vân Trà, Ba Điểm về tập kết tại Vạn Kiếp. Các vương hầu như Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiện, Hưng Trí vương Trần Quốc Nghiễn, Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng cũng mang 20 vạn quân đến giữ nơi này.[37] Để động viên tinh thần tướng sĩ, Nhân Tông đã đề ở cuối thuyền 2 câu thơ rằng:[30][37]

Cối Kê việc cũ người nên nhớ
Hoan Diễn kia còn chục vạn quân.

Ngày 11 tháng 2 năm 1285, Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi đem binh thuyền tấn công Vạn Kiếp. Quân Đại Việt do nhà vua và Trần Quốc Tuấn chỉ huy đánh trả quyết liệt, giết được tướng Nguyên là Nghê Nhuận.[38] Tuy nhiên, người Việt đã quyết định rút lui để tránh thế địch mạnh, thực hiện nghi binh khiến địch mệt mỏi rồi mới phản kích.[38][30] Đến ngày 14, Ô Mã Nhi tổ chức bao vây 10 vạn quân của Nhân Tông tại Bình Than. Một trận thủy chiến lớn diễn ra và quân Nguyên cuối cùng đã không cản được quân Việt rút lui.[30][38] Nhân Tông cùng Quốc Tuấn rút đại quân từ Vạn Kiếp, Phả Lại, Bình Than về đóng trên sông Hồng gần Thăng Long. Tại đây, vua Trần cho tập trung thủy quân và xây dựng các chiến lũy bằng gỗ trên bờ nam để cầm chân quân Nguyên, tạo thời gian cho việc sơ tán quân dân khỏi kinh thành theo kế vườn không nhà trống.[38] Ngày 17 tháng 2, quân Nguyên lập doanh trại trên bờ bắc sông Hồng. Vua Nhân Tông muốn tìm người sang thương thuyết, thực tế là thăm dò tình hình quân Nguyên. Chi hậu cục thủ Đỗ Khắc Chung xung phong đi, nhà vua cả mừng nói: "Ngờ đâu trong đám ngựa xe kéo xe muối lại có ngựa kỳ, ngựa ký như thế!". Khắc Chung đem thư giảng hòa sang trại Ô Mã Nhi. Theo sử sách, tài đối đáp của Khắc Chung đã khiến các tướng Nguyên phải nhận xét: "Nước nó còn có người giỏi, chưa dễ mưu tính được". Hôm sau, Khắc Chung về chỗ vua Trần đóng quân, ngay sau đó hai bên Nguyên-Việt đại chiến bên sông Hồng. Quân Nguyên giành được thế thượng phong, nhưng quân dân Đại Việt đã kịp thời di tản khỏi Thăng Long.[39][30][40] Thánh Tông, Nhân Tông dẫn đại quân triệt thoái theo đường sông Hồng về hướng phủ Thiên Trường (Nam Định). Thoát Hoan chia quân làm 2 đường thủy bộ ráo riết truy kích.[40][30] Hai vua và Trần Quốc Tuấn đã tổ chức một số trận đánh chặn tại bãi Đà Mạc và ải Hải Thị, nhưng bị thất bại. Sau trận Hải Thị, quân vua Trần lui hẳn về đóng quân tại Thiên Trường (Nam Định) và Trường Yên (Ninh Bình).[41][30]

Tháng 3 năm 1285, cánh quân Nguyên của Toa Đô từ Chiêm Thành đánh thốc vào mạn nam Đại Việt. Hưng Đạo vương xin Trần Nhân Tông sai Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải đón đánh Toa Đô ở Nghệ An.[42][43] Quân Nguyên nhanh chóng đánh bật quân Việt khỏi Nghệ An và Thanh Hóa, đẩy đại quân của Nhân Tông vào thế bị ép từ 2 mặt Bắc-Nam. Trần Quốc Tuấn đưa hai vua chạy về vùng bờ biển ở Quảng NinhHải Phòng ngày nay. Trong hành trình rút lui, hai vua bị quân Nguyên đuổi gấp. Khi thấy quân Toa Đô đã rời Thanh Hóa tiến lên đóng ở Trường Yên (Ninh Bình), ngày 7 tháng 4 năm 1285 Nhân Tông và Phụ hoàng lại vượt biển vào Thanh Hóa, thoát khỏi thế bị đối phương kìm kẹp.[43] Toa Đô đã đưa quân vào Thanh Hóa truy lùng nhà vua, nhưng không thể tìm ra ông.[44][45]

Trong thời gian này, nhiều tôn thất hoàng gia như Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, Thượng vị Chiêu Văn hầu Trần Lộng đầu hàng quân Nguyên.[46] Tuy nhiên, quân Nguyên cũng gặp nhiều khó khăn do thiếu hụt lương thực, không hạp khí hậu và liên tục bị dân binh Việt đánh phá sau lưng.[47][48]

Tại Thanh Hóa, vua Trần đã chỉnh đốn, tổ chức lại lực lượng. Khoảng tháng 3 – 4 âm lịch, Nhân Tông đã nhận định trong một cuộc họp với các quan:[46][47][30]

Bọn giặc nhiều năm phải đi xa, lương thảo chuyên chở hàng vạn dặm, thế tất mỏi mệt. Lấy nhàn chống mệt, trước hết hãy làm chúng nhụt chí, thì ắt là đánh bại được chúng.

— Trần Nhân Tông

Trên tinh thần đó, hai vua và Trần Quốc Tuấn chia đại quân thành nhiều mũi thực hiện tổng phản công.[47][44][30] Dưới sự thống lĩnh của Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Tung, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải, Nguyễn Khoái và một số tướng khác, các cánh quân Đại Việt đã liên tiếp đánh thắng quân Nguyên tại đồn A Lỗ (nơi gần điểm hợp lưu của sông Luộc với sông Hồng), cửa Hàm Tử (nay thuộc Khoái ChâuHưng Yên), Chương Dương Độ (nay thuộc Thường TínHà Nội) và giải phóng Thăng Long trong hai tháng 5, 6.[46][47][44] Quyển 209 của Nguyên sử có nhận định:[49]

Người Giao chống cự quan quân [Nguyên-Mông], tuy nhiều lần bị bại tan, nhưng binh lực chuyển thành nhiều thêm. Quan quân khốn khổ, thiếu thốn, chết và bị thương cũng nhiểu. Quân và ngựa Mông Cổ cũng không thi thố được tài năng nên bỏ kinh thành của họ, qua bờ sông phía Bắc.

— An Nam truyện – Nguyên sử

Ngày 7 tháng 6 năm 1285, Hoàng đế Trần Nhân Tông rước Thượng hoàng ra bắc, đích thân đánh bại một lực lượng Nguyên trong trận Trường Yên ngày 7 tháng 6 năm 1285. Quân Nguyên chết hại "nhiều không kể xiết".[50][51][52]

Ngày 24 tháng 6, hai vua tấn công quân chủ lực của Toa Đô tại Tây Kết (Khoái Châu). Quân hai vua thắng to, chém chết Nguyên soái Toa Đô, bắt được hơn 5 vạn quân Nguyên, tịch thu một lượng lớn khí giới. Tổng quản quân Nguyên là Trương Hiển đầu hàng. Đến nửa đêm, Ô Mã Nhi trốn qua cửa sông Thanh Hóa, hai vua thúc quân truy kích nhưng không bắt được, Ô Mã Nhi dùng thuyền vượt biển thoát thân.[46][47][53] Theo Toàn thư, Nhân Tông khi thấy thủ cấp của Toa Đô đã nhận xét "người làm tôi phải nên như thế này", rồi cởi áo ngự phủ lên và sai người khâm liệm tử tế.[54] Cùng lúc đó, hai anh em Trần Quốc Tuấn, Quốc Tung mở nhiều cuộc tấn công lớn trên bờ bắc sông Hồng và quét sạch cánh quân Thoát Hoan khỏi Đại Việt.[47][55][30] Ngày 9 tháng 7 năm 1285, hai vua ca khúc khải hoàn trở về Thăng Long.[54] Sách Việt sử tiêu án có ghi lại lời bàn của sử thần về cách lãnh đạo của Trần Nhân Tông:[56]

Mỗi lần có tin báo quân Nguyên sang cướp, thì tất là Vua thân hành ra ngoài trông coi quân, khi đi đông, đi tây, không đi nhất định đường nào, khi ở trên bộ, khi ở thủy không đóng nhất định ở đâu, đó không phải là rát, là vì Vua ở bên ngoài, thì dễ hiệu triệu thiên hạ. Cổ lệ lòng hăng hái của quân sĩ, chư tướng thì tiện việc tâu xin mệnh lệnh, tam quân thì vui lòng xông pha, lính tráng đều là quân của nước, của nhà giàu là của nước, có cơ hội nào thì cổ động quân sĩ xông vào trước, gặp tình thế không may thì tùy tiện mà chống giữ; khi tiến quân thì nhanh như chớp nhoáng, khi lui về thì như rồng rắn ẩn thân, giặc không biết đâu mà lường đạc được, nếu chỉ nấp giữ ở trong thành, thì địch coi đó là sào huyệt, chúng sẽ chặn đường không cho vận lương đến, và giữ viện binh không vào được, đến nỗi lương hết, lực cùng, chả nguy lắm sao. Có tin giặc đến mà Vua lập tức đi ra ngoài, đó là kỳ kế, liệu sức giặc và tính cách đánh của nhà Trần.

— Việt sử tiêu án

Kháng chiến chống Nguyên (1287-1288)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 3

Sau khi đánh bại cuộc tấn công của Nguyên – Mông, tháng 7 năm 1285, vua Nhân Tông đã phóng thích các tù binh người Chiêm Thành (họ bị quân Nguyên bắt tòng quân khi Toa Đô xâm lược Chiêm Thành năm 1283) về nước. Tù binh quân chính quy Nguyên-Mông cũng được trở về quê hương vào mùa xuân năm 1286.[57] Về nội trị, tháng 9 năm 1285, ông đã tiến hành phong thưởng các quan, tướng có công và trừng phạt những người từng đầu hàng địch. Đến tháng 11, ông ra lệnh xét duyệt hộ khẩu trong cả nước. Có bầy tôi ngăn cản vua, cho là dân vừa trải qua nhiều vất vả, nên việc duyệt hộ khẩu lúc này là không cần thiết. Vua Nhân Tông quả quyết: "Chỉ có thể định hộ khẩu vào lúc này, chẳng nên qua đó mà xem xét [tình trạng] hao hụt, điêu tàn của dân ta hay sao?"; các quan bèn nghe theo. Sử gia Ngô Thì Sĩ có phê phán quyết định của vua Nhân Tông:[58][56]

Lúc ấy quân giặc mới rút lui, dân bị thương đau chưa khỏi, dân lưu tán chưa kéo về, thôn xóm đồng ruộng điêu tàn xơ xác, chiêu tập vỗ về dân còn chưa xong, mà đã vội vàng làm sổ đinh; trong việc làm ấy thì phải quan chức tra xét, dân chúng hội họp, phí tổn về ăn uống; con gà, đùi lợn tránh sao khỏi phí, sổ mới, lệ cũ so sánh khó đều, sau khi binh lửa, mà phải bỏ nghề nghiệp đi hầu tra cứu nhiễu dân quá lắm; quần thần biết nói phải để chữa lỗi lầm, Vua trên lại trái lời can mà đặt điều để che lỗi; thế mà quần thần không cố can gián, mà lại khen phục, có phải gần như xiểm nịnh không?

— Ngô Thì Sĩ

Cuối năm 1286, Hốt Tất Liệt huy động 30 vạn quân và 500 thuyền chiến chuẩn bị xâm lược Đại Việt lần hai.[59][60] Nhận được tin này từ các quan biên giới, vua Nhân Tông hỏi Hưng Đạo vương: ""Năm nay thế giặc ra sao?" và được trả lời: "Nước ta thái bình lâu ngày, dân không hiểu việc binh, cho nên năm trước quân Nguyên vào cướp, còn có kẻ ra hàng hay trốn tránh. Nhờ uy linh tổ tôn, ta đã quét sạch bụi Hồ. Nếu giặc lại đến, quân ta đánh đã quen, quân nó ngại đi xa. Ý thần xem ra tất phá được giặc".[61] Sau đó, hai vua đôn đốc vương hầu chiêu mộ, huấn luyện binh sĩ, đồng thời chế tạo binh khí và tàu thuyền để chuẩn bị kháng chiến.[62][59][56]

Tháng 12 năm 1287, quân thủy bộ nhà Nguyên chia làm 3 đạo tiến vào Đại Việt. Khác với cuộc chiến năm 1285, quân Việt chỉ đánh có tính kìm chân rồi chủ động lui khỏi biên giới. Thoát Hoan lại tung 2 vạn quân thủy bộ tấn công và chiếm Vạn Kiếp làm căn cứ, sau đó tiến về Thăng Long.[31][63][64] Ngày 2 tháng 2 năm 1288, quân Nguyên mở màn đánh phá Thăng Long. Quân Đại Việt bỏ thành rút lui.[64][31] Cũng ngày này, hải quân Đại Việt do Trần Khánh Dư chỉ huy đã tập kích và tiêu diệt hoàn toàn đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ tại Vân Đồn (Quảng Ninh). Các đoàn thuyền lương khác của quân Nguyên cũng không vào được Đại Việt vì bị bão biển, hoặc vì đi lạc tới Chiêm Thành.[65]

Sau khi Thăng Long thất thủ, Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi truy đuổi cha con vua Trần. Nhưng Thánh Tông và Nhân Tông đã lui xuống hạ lưu sông Hồng rồi eo cửa Giao Thủy đi ra biển vòng lên Tháp Sơn (Đồ Sơn).[66][64] Thoát Hoan đành thu quân về Thăng Long, sau đó cử Ô Mã Nhi đi tìm đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ. Lúc này hai vua và Trần Quốc Tuấn đã tập trung quân thủy bộ ở Tháp Sơn. Khi quân Ô Mã Nhi qua đây, Nhân Tông tổ chức tập kích ở cửa Văn Úc (ngày 10 tháng 2 năm 1288), và trên biển gần Tháp Sơn, gây nhiều thiệt hại cho quân Nguyên. Ô Mã Nhi bèn dẫn quân trở lại Vạn Kiếp.[31][67]

Ở Thăng Long mà không có lương thực, Thoát Hoan lúng túng. Không những thế, quân Đại Việt đã phản công mạnh mẽ và kiểm soát vùng Hải Dương và Hải Phòng đẩy Thoát Hoan vào nguy cơ bị cắt đường về Vạn Kiếp. Tình huống này buộc Thoát Hoan rút quân khỏi Thăng Long quay về Vạn Kiếp.[67] Hai vua Trần một mặt sai Hưng Ninh vương Quốc Tung đến giả vờ hẹn ngày đầu hàng để làm quân Nguyên mất cảnh giác, mặt khác cứ đến đêm lại tung quân đột kích vào Vạn Kiếp.[31] Cuối tháng 3 năm 1288, Thoát Hoan quyết định lui quân khỏi Đại Việt; Ô Mã Nhi được lệnh dẫn một cánh quân thủy rút về trước.[68][69] Ngày 9 tháng 4, cánh quân này tiến đến sông Bạch Đằng và lọt vào trận địa mai phục của đại quân Việt.[70] Dưới sự chỉ huy trực tiếp của hai vua và Trần Quốc Tuấn, quân Đại Việt đã tiêu diệt toàn bộ cánh thủy quân Nguyên, bắt sống nhiều tướng lĩnh (trong đó có Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ) và tịch thu 400 thuyền chiến.[71][69]

Ngày 18 tháng 4, hai vua Trần về phủ Long Hưng (Thái Bình) và đưa các bại tướng của trận Bạch Đằng bị bắt đến trình diện trước lăng Trần Thái Tông. Tương truyền khi đó chân của các tượng ngựa đá trong lăng đều lấm bùn, như thể những vật này cũng vừa mới tham gia chiến đấu. Nhân Tông tức cảnh ngâm hai câu thơ rằng:[72][73][74]

Xã tắc hai phen bon ngựa đá,
Non sông ngàn thuở vững âu vàng.

Một ngày trước trận Bạch Đằng, đại quân Nguyên bắt đầu rút từ Vạn Kiếp lên biên giới. Hữu thừa Nguyên là Trình Bằng Phi chọn những binh sĩ thiện chiến yểm hộ cho Thoát Hoan chạy về nước. Quân Nguyên về tới ải Nội Bàng (thị trấn Chũ và xã Bình Nội của Bắc Giang ngày nay) thì bị quân Đại Việt phục kích dữ dội, Vạn hộ Nguyên là Trương Quân phải đem 3000 quân liều chết chiến đấu mới thoát khỏi cửa ải. Qua được Nội Bàng, Thoát Hoan lại nhận tin trinh sát rằng phía trước có 30 vạn quân Đại Việt trải dọc suốt 100 dặm mai phục, đành đổi hướng đi qua Đơn Kỷ (khoảng huyện Đình Lập tỉnh Lạng Sơn ngày nay) về Lộc Châu. Tuy nhiên qua đường này, quân Nguyên vẫn bị quân Đại Việt tập kích. Quân Đại Việt từ trên cao bắn tên độc, giết các tướng Trương Ngọc và Abaci. Theo Nguyên sử, quân Nguyên lúc đó đã "thiếu ăn lại mệt vì chiến đấu, tướng tá nhìn nhau thất sắc" nhưng vẫn phải "cố xông vào mà đánh" và "buộc vết thương lại mà đánh".[75][76] Đến ngày 19 tháng 4 năm 1288, quân Nguyên đã bị quét sạch hoàn toàn khỏi Đại Việt.[31]

Trong bộ Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục biên soạn thời vua Nguyễn Dực Tông (cai trị 1847 – 1883), sử quan Đại Nam có nhận xét về vai trò của vua Trần Nhân Tông và các tướng lĩnh tài ba trong hai lần đánh bại quân Nguyên:[57]

Lúc bấy giờ nhà Nguyên mới nổi lên, khí thế rất ngang ngược; nhà Trần cũng may gặp lúc mới nổi lên, được các vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và tướng văn tướng võ phần nhiều người tài, mới có thể đánh bại được giặc, giữ được nước, chứ nếu gặp người khác thì chưa biết thế nào.

— Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục

Những năm cuối trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Đối nội[sửa | sửa mã nguồn]

Sau hai cuộc kháng chiến chống Nguyên thắng lợi, Hoàng đế Trần Nhân Tông đã bắt tay vào việc tái thiết kinh tế, xã hội Đại Việt. Khoảng tháng 5 năm 1288, ông xuống chiếu đại xá thiên hạ và cắt giảm thế má, sưu dịch cho dân chúng. Đặc biệt, các vùng bị chiến tranh tàn phá đều được miễn thuế và sưu dịch hoàn toàn.[73][2] Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, trong thời gian này Trần Nhân Tông đã hòa giải thành công sự bất hòa của một số quan viên trong triều:[77]

"Lệ cũ, mỗi khi tuyên đọc lời vua, thì viện Hàn lâm lĩnh đưa bản thảo tờ chiếu cho Hành khiển để giảng tập trước. Đến khi tuyên đọc, thì giảng cả âm nghĩa cho dân thường dễ hiểu, vì chức Hành khiển để dùng hoạn quan thôi. Bấy giờ, Lê Tòng Giáo làm tả phụ, vốn bất hòa với Hàn lâm phụng chỉ Đinh Củng Viên. Ngày tuyên đọc lời vua đã đến rồi mà Củng Viên vẫn cố ý không đưa bản thảo. Tòng Giáo đòi nhiều lần vẫn không được.
Hôm ấy, xa giá sắp ra ngoài cung, Củng Viên mới đưa bản thảo. Tòng Giáo tuyên đọc tờ chiếu đại xá, không hiểu âm nghĩa, phải im lặng. Vua gọi Củng Viên đứng đằng sau, nhắc bảo âm nghĩa. Tòng Giáo rất thẹn. Tiếng nhắc của Củng Viên to dần, mà tiếng đọc của Tòng Giáo lại nhỏ đi, trong triều chỉ còn nghe thấy tiếng của Củng Viên thôi. Vua về trong cung, gọi Tòng Giáo dụ bảo:
"Củng Viên là sĩ nhân, ngươi là trung quan sao lại bất hòa đến thế? Ngươi là lưu thủ Thiên Trường, dùng con rươi quả quýt đi lại, đưa tặng lẫn nhau thì có việc gì?"
Từ đó, Tòng Giáo và Củng Viên giao hảo với nhau càng gắn bó."

Sử gia Ngô Sĩ Liên ca ngợi: "Vua bảo bề tôi giao hảo với nhau là để cùng nhau làm tốt việc của nhà vua. Nhà Trần trung hậu như thế [qua việc này] có thể thấy được'', nhưng phê phán vua Nhân Tông vì lấy một hoạn quan không biết chữ như Lê Tòng Giáo làm Hành khiển.[77]

Đền Trần Nhân Tông tại Huế.

Tháng 4 âm lịch năm 1289, cùng với Thượng hoàng Trần Thánh Tông, Hoàng đế Trần Nhân Tông xét công lao các tướng lĩnh trong cuộc chiến với Nguyên – Mông. Hưng Đạo vương Quốc Tuấn được thăng lên Đại vương, Hưng Vũ vương Quốc Nghiễn được phong Khai quốc công, Hưng Nhượng vương Quốc Tảng nhận chức Tiết độ sứ; Nguyễn Khoái được phong tước Liệt hầu và được cấp hẳn một hương làm thực ấp. Hai vua cũng phong quan tước cho các tù trưởng người dân tộc có công như Lương Uất và Hà Tất Năng.[78] Bên cạnh đó, Nội Minh tự Đỗ Hành là người đã bắt Ô Mã Nhi trong trận Bạch Đằng, nhưng chỉ được phong Quan nội hầu vì không đem Ô Mã Nhi nộp cho Hoàng đế mà lại nộp Thượng hoàng. Hưng Trí vương Quốc Nghiễn cũng không được thăng chức vì cố chặn đánh tàn quân Nguyên ở biên giới dù nhà vua có lệnh không truy kích.[2][78] Đối với những người từng đầu hàng quân Nguyên, quan lại thì bị xử tử hoặc bắt đi đày, còn quân dân thì được tha chết nhưng phải chịu các loại hình phạt khổ sai như "chở gỗ đá, xây cung điện để chuộc tội", hoặc phải làm lính hầu, nô tỳ cho vương hầu và tể tướng.[78]

Tháng 2 âm lịch năm 1290, Nhân Tông cử quan văn đi trấn nhậm các lộ trong cả nước, để cơ cấu lại bộ máy hành chính vốn đã bị quân sự hóa trong chiến tranh.[78][2] Ông cũng quan tâm theo dõi công việc của quan lại địa phương. Khi nghe tin An phủ sứ Diễn Châu là Phí Mạnh hay nhũng nhiễu dân, Nhân Tông đã triệu Phí Mạnh về kinh đô và phạt đánh bằng trượng. Sau lần đó, Phí Mạnh trở nên đức độ đến mức người dân truyền tụng rằng quan An phủ Diễn Châu trong sạch như nước.[79][2][80][81] Nhà vua còn cất nhắc những văn thần có công trong thời chiến như Phùng Sĩ Chu làm Hành khiển (1289), Trần Thì Kiến làm An phủ sứ lộ Yên Khang (1292). Bên cạnh đó, hai vua Thánh Tông, Nhân Tông đã chủ trương hạn chế tối đa số viên chức nhà nước. Sau này khi Nhân Tông làm Thái thượng hoàng, có lần ông đã phàn nàn với Trần Anh Tông vì vua này bổ nhiệm quá nhiều quan chức: "Sao lại có một nước bé bằng bàn tay mà phong quan tước nhiều như thế".[2][82]

Tháng 5 âm lịch năm 1290, Thượng hoàng Thánh Tông qua đời ở cung Nhân Thọ. Sau 3 tháng để tang, tháng 9 âm lịch, Ngự sử đại phu Đỗ Quốc Kế khuyên vua Nhân Tông: "Phàm để tang không nên làm thương tổn người sống. Nay thiên tử đều dùng kiệu khiêng, thế là người sống bị tổn thương, xin hãy cưỡi ngựa". Lời tâu này được nhà vua chấp thuận.[83] Ngày 15 tháng 12 âm lịch năm 1290, Nhân Tông mai táng thượng hoàng ở Dụ Lăng, tôn miếu hiệu là Thánh Tông, thụy hiệu Tuyên Hiếu Hoàng đế. Từ đây đến năm 1293, Nhân Tông là vị hoàng đế duy nhất cai trị nước Việt.[79]

Khoảng năm 1289–1290, sản xuất nông nghiệp bị đình trệ do sự chuyển biến thất thường của thời tiết.[84][2] Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, năm 1289 có tình trạng "hạn từ tháng 6 mùa hạ đến tháng 10 mùa đông", sau đó "mùa hạ, tháng 4 [năm 1290], sông Tô Lịch chảy ngược (sông này hễ có mưa to thì nước rút, tràn và chảy ngược)" và đến tháng 9 âm lịch năm 1290, nạn đói xảy ra khiến nhiều người phải bán ruộng đất và bán cả con mình làm nô tỳ cho người khác. Trước tình hình này, Nhân Tông chỉ thị phát chẩn thóc cho người dân và bãi bỏ thuế nhân đinh[84][2]. Chính sách trị dân của ông đã giúp Đại Việt dần dần phục hồi sau những năm chiến tranh và đói kém. Năm 1293, khi sứ nhà Nguyên là Lương Tăng và Trần Phu sang Đại Việt, họ đã chứng kiến một Đại Việt phồn vinh với những hình ảnh như "lúa mỗi năm gặt bốn lần, tuy vào mùa đông rét, mạ vẫn phơi phới", hay "thôn xóm đều có chợ, mỗi hai ngày họp một lần, trăm món tạp hóa đều dồi dào" và "thuyền bè các nước mọi ngoài biển đều đến rất đông, buôn bán trên thuyền rất rộn rịp" (theo An nam tức sự của Trần Phu). Công nghiệp và thủ công nghiệp của Đại Việt cũng lớn mạnh tạo điều kiện cho triều đình Nhân Tông tu bổ, xây mới toàn bộ những cầu, đường và cung điện đã bị đốt phá trong chiến tranh.[2]

Đối ngoại[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối thời Nhân Tông, quân Ai Lao thường hay quấy nhiễu biên giới phía tây Đại Việt, bởi vậy năm 1290 nhà vua quyết định thân chinh đánh Ai Lao.[85] Các quan ngăn cản, lập luận rằng: "Giặc Hồ mới lui, vết thương của dân chưa lành, sao lại đã hưng binh". Vua Nhân Tông đáp lại: "Chỉ nên xuất binh vào lúc này; lân bang sẽ bảo ta có bao nhiêu voi ngựa mất hết, sắp có sự khinh rẻ ta, nên phải đại cử để thị oai"; đình thần không còn ý kiến.[86]

Đối với nhà Nguyên, ông tiếp tục thực thiện chính sách đối ngoại mềm dẻo.[87][2] Từ tháng 4 đến tháng 11 năm 1288, Nhân Tông đã ba lần cử sứ giả sang Nguyên để triều cống và "tạ tội".[78][2] Đồng thời, ông gửi vua Nguyên một bức thư biện hộ cho hai cuộc kháng chiến năm 1285 và 1287-1288, trong đó có đoạn: "Năm Chí Nguyên thứ 23 (1286), bình chương A Lý Hải Nha tham công ngoài biên giới, làm trái Thánh chỉ... Mùa đông năm Chí Nguyên thứ 24 (1287) lại thấy đại quân thủy bộ đều tiến sang, thiêu đốt chùa chiền khắp nước, đào bới mồ mả tổ tiên, bắt giết người dân già trẻ, đập phá sản nghiệp trăm họ...". Đến tháng 12 năm 1288, Hốt Tất Liệt sai Lý Tư Diễn và Vạn Nô đi đòi Nhân Tông sang chầu và thả tù binh Nguyên về nước. Vua Trần đã thiết đãi nồng hậu và biếu vàng bạc cho sứ Nguyên, nhưng dứt khoát không chịu sang chầu.[88][2] Đầu năm 1289, Nhân Tông truyền lệnh đưa hết tù binh Nguyên về nước. Riêng đối với Ô Mã Nhi, Nhân Tông và Hưng Đạo Đại vương quyết định ám sát để trừ hậu họa. Nhà vua sai Nội thư Hoàng Tá Thốn cấp thuyền cho Ô Mã Nhi về, rồi chọn người lặn giỏi làm phu thuyền và nhân lúc đêm tối dùi thuyền thủng cho đắm. Vua Trần đã giải thích với Hốt Tất Liệt rằng Ô Mã Nhi chết đuối do thuyền bị rỉ nước.[2][87][78] Người Nguyên không thể tra cứu việc này nên đành lờ đi, không trách cứ.[89] Trong Đại Việt Sử ký Toàn thư, sử thần đời Lê sơ Ngô Sĩ Liên chỉ trích mạnh mẽ hành động của Nhân Tông là "thất tín":[78]

Chữ tín là vật báu của nước, mà làm cho người khác phục mình sâu sắc thì đó là gốc của vương chính. Hưng Đạo Vương dùng bá thuật, muốn được thành công trong một thời mà không biết làm như thế là đã thất tín với muôn đời. Đã nói là đưa về nước lại dùng mưu kế để giết đi, thì thực quỷ quyệt quá lắm. Thái Tổ Cao Hoàng Đế nước Đại Việt ta đang khi dẹp loạn, định tha người Minh về nước. Bọn ngụy quan có kẻ viện dẫn cho người Minh nghe câu chuyện dùi thuyền của Hưng Đạo Vương khi trước nhằm ngăn cản ý muốn về nước của họ. Nhưng lòng tín thực của Thái Tổ thấu đến cả muông thú, nên rốt cuộc người Minh tin theo không ngờ vực. Thế mới là làm cho người khác phục mình sâu sắc và là cội gốc của vương chính. Đâu có thể nói [chữ tín] chỉ là chuyện nhỏ nhặt.

— Ngô Sĩ Liên

Sau thất bại trong cuộc chiến năm 1288, nhà Nguyên vẫn chưa bỏ mộng xâm lược Đại Việt.[87] Mặc dù Nhân Tông đã sai Nghiêm Trọng Duy và Trần Tử Trường sang Nguyên dâng lễ vật và "tạ tội không vào chầu" vào tháng 9 âm lịch năm 1291, Hốt Tất Liệt lại cử Trương Lập Đạo và Thiếp Mộc Nhĩ sang dụ Nhân Tông đến chầu vào cuối năm 1291 – đầu năm 1292. Theo tư liệu Trương Thượng thư Hành lục chép trong An Nam chí lược của Lê Tắc, vua Nhân Tông đãi Lập Đạo thịt rượu rất thịnh soạn và còn đề thơ tặng sứ giả, nhưng tiếp tục lấy cớ tang cha, từ chối sang chầu. Sau khi Lập Đạo về nước, Nhân Tông sai Nguyễn Đại Phạp và Hà Duy Nghiêm sang cống nhà Nguyên.[2][18] Năm 1293, sau khi Nhân Tông truyền ngôi cho con là Trần Anh Tông, Hốt Tất Liệt lại sai sứ sang bắt vua Trần vào chầu. Anh Tông cáo bệnh không đi và sai Đào Tử Kỳ sang cống nạp.[90] Nhà Nguyên giam Tử Kỳ ở Giang Lăng và sửa soạn tấn công Đại Việt. Nhưng việc chuẩn bị chưa hoàn tất thì Hốt Tất Liệt chết; tân hoàng đế Nguyên Thành Tông đã hủy bỏ kế hoạch xâm chiếm Đại Việt, đồng thời thả Tử Kỳ về nước.[2][91][17]

Thái thượng hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ miêu tả cảnh Thượng hoàng Trần Nhân Tông, lúc này đã xuất gia, từ động Vũ Lâm xuất du.

Ngày 9 tháng 3 âm lịch năm Quý Tỵ (tức ngày 16 tháng 4 năm 1293) Trần Nhân Tông truyền ngôi cho Thái tử Trần Thuyên – tức Hoàng đế Trần Anh Tông – rồi lên làm Thái thượng hoàng. Anh Tông tặng vua cha tôn hiệu là Hiến Nghiêu Quang Thánh Thái Thượng Hoàng Đế (憲堯光聖太上皇帝).[92] Năm sau (1294), Thượng hoàng xuất gia tu Phật tại hành cung Vũ Lâm (Ninh Bình). Dựa trên dữ liệu từ Thánh đăng ngữ lục, tiến sĩ Lê Mạnh Thát phỏng đoán rằng Nhân Tông đã nhận được tâm ấn từ Tuệ Trung Thượng sĩ.[7] Bên cạnh đó, Nhân Tông vẫn tham gia cùng Anh Tông trị nước. Tháng 8 âm lịch năm 1294, quân Ai Lao xâm lấn Đại Việt lần hai và Thượng hoàng lại thân chinh đánh dẹp. Quân Việt do Nhân Tông chỉ huy đã đánh tan quân Ai Lao, đồng thời thu được nhiều tù binh và chiến lợi phẩm.[93][7] Nhân Tông cũng chủ trì tiếp phái bộ Lý Trọng Tân - Tiêu Phương Nhai của nhà Nguyên vào năm 1295 (trong dịp này Nhân Tông đã sáng tác bài Tiến sứ Bắc Lý Trọng Tân, Tiêu Phương Nhai – một trong hơn 30 bài thơ hiện còn lưu hành của ông).[94][7] Sau đó, tháng 2 âm lịch năm 1295 Thượng hoàng sai Nội viên ngoại lang Trần Khắc Dụng và Phạm Thảo qua Nguyên để thỉnh Đại tạng kinh. Thỉnh cầu này được Nguyên Thành Tông chấp thuận. Các bộ kinh do sứ bộ đem về được cất ở phủ Thiên Trường, ngoài ra Thượng hoàng sai in bản phó để lưu hành trong nước.[7][95][17]

Sơ tổ Trúc Lâm[sửa | sửa mã nguồn]

Thiền sư
Giác Hoàng Điều Ngự
覺皇調御

Tượng Giác Hoàng Trần Nhân Tông đặt trong tháp Huệ Quang.

Tôn giáo Phật giáo
Trường phái Đại thừa
Tông phái Thiền tông
Thiền phái Thiền phái Trúc Lâm
Tên khác Hương Vân Đại Đầu đà (香雲大頭陀)
Trúc Lâm Đại Đầu đà (竹林大頭陀)
Trúc Lâm Đại sĩ (竹林大士)
Cá nhân
Quốc tịch Đại Việt
Sinh Trần Khâm
(陳昑)
1258
Mất 1308
An nghỉ Lăng Quy Đức (phủ Long Hưng);
Bảo tháp Huệ Quang (chùa Hoa Yên – Yên Tử);
Chùa Phổ Minh (Thiên Trường)
Sự nghiệp tôn giáo
Xuất gia Hành cung Vũ LâmNinh Bình
Thầy Tuệ Trung Thượng Sĩ
Môn đồ Pháp Loa, Bảo Sát và nhiều người khác
Tác phẩm Xem mục Tác phẩm
Tấn phong Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật (大聖陳朝竹林頭陀靜慧覺皇調御祖佛)
Chức vụ Tổ thứ 1 Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Một phần của loạt bài về
Thiền sư Việt Nam
Ensō

Sơ khai[hiện]

Thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi[hiện]

Thiền phái Vô Ngôn Thông[hiện]

Thiền phái Thảo Đường[hiện]

Thiền phái Trúc Lâm[hiện]

Lâm Tế tông[hiện]

Tào Động tông[hiện]

 Cổng thông tin Phật giáo
Hình ảnh đại sĩ Trần Nhân Tông xuất du trong tác phẩm Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ
Tháp Huệ Quang, nơi chứa một phần xá lợi của Trần Nhân Tông.

Tháng 10 (âm lịch) năm 1299, Nhân Tông rời đến Yên Tử (Quảng Ninh), lấy pháp danh Hương Vân Đại Đầu đà (香雲大頭陀) và tu hành theo thập nhị đầu đà (mười hai điều khổ hạnh).[10] Ông còn có đạo hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu đà (竹林大頭陀) hay Trúc Lâm Đại sĩ (竹林大士) và Giác hoàng Điều ngự (覺皇調御).[96][97] Tại Yên Tử, Điều ngự đã mở tịnh xá, thuyết giảng độ tăng, thâu nhận được khá nhiều đệ tử.[11] Vào thế kỷ XI – XIII, Phật giáo Đại Việt tồn tại chủ yếu dựa trên 3 dòng thiền Tì-ni-đa-lưu-chiThảo Đường và Vô Ngôn Thông. Điều ngự đã hợp nhất các tông phái này vào dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, còn gọi là Thiền phái Trúc Lâm.[98] Đây được xem là giáo hội thống nhất đầu tiên của đạo Phật tại Việt Nam.[99] Thiền phái Trúc Lâm vừa tiếp thu nền tảng Phật giáo Nam Á và thiền Đông Độ, vừa sử dụng các giá trị văn hóa Việt Nam và khuyến khích Phật tử cống hiến cho xã hội trên nền tảng Từ bi – Trí tuệ của Phật pháp.[8][98] Bản thân Điều ngự không chỉ an cư tại Yên Tử, mà đi thuyết pháp nhiều lần ở các chùa như Phổ Minh (Thiên Trường), Sùng Nghiêm (Chí Linh), Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng) và Báo Ân – Siêu Loại (nay thuộc Gia LâmHà Nội).[100] Ông cũng xây dựng nhiều tự viện và đi giáo hóa trong cả nước, kể cả ở thôn quê lẫn thành thị. Trên cương vị là thượng hoàng-thiền sư, ông đã dạy dân bài trừ các tập tục mê tín, dị đoan và tu dưỡng đức hạnh theo giáo pháp Thập thiện (mười điều thiện).[7][101][17][11] Ông vẫn góp ý cho một số vấn đề chính sự, đồng thời khuyên bảo Anh Tông từ bỏ rượu chè và cúng dường cho tăng chúng.[102][103][7][104]

Tháng 3 âm lịch năm 1301, Giác hoàng Điều ngự du hóa đến châu Bố Chính – một vùng đất địa đầu phía nam của Đại Việt – và dựng lên am Trì Kiến[11]. Từ Bố Chính, ông sang Chiêm Thành và ở lại đây gần một năm. Bài dẫn của Trần Quang Chỉ trong tranh Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ đã mô tả về chuyến đi này rằng: Có lúc ngài viễn du hóa độ cho các nước lân bang, phía nam đến tận Chiêm Thành, đã từng khất thực ở trong thành. Vua nước Chiêm Thành biết được điều đó, hết sức kính trọng thỉnh mời, dâng cúng trai lễ, sắp sẵn thuyền bè nghi trượng, thân hành tiễn ngài về nước..."[7] Cũng chính trong lần này, Điều ngự đã hứa gả con là công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân; để đáp lễ, Chế Mân xin nhượng hai châu Ô, Lý cho Đại Việt.[102][7] Hôn lễ giữa Huyền Trân với vua Chiêm được cử hành vào năm 1306. Vua Anh Tông sáp nhập hai châu Ô vào Đại Việt và đổi tên châu Ô thành châu Thuận, châu Lý thành châu Hóa.[105]

Sau cuộc vân du ở Chiêm Thành, Điều ngự về phủ Thiên Trường vào tháng 1 âm lịch năm 1303 để "mở hội Vô lượng pháp ở chùa Phổ Minh, bố thí vàng bạc tiền lụa để chẩn cấp dân nghèo trong nước và giảng kinh Giới thí" (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư).[102] Năm 1304, Điều ngự đến kinh đô Thăng Long trong sự đón tiếp long trọng của Anh Tông cùng vương hầu, quan lại. Tất cả họ đều được trao tâm giới Bồ-tát tại gia.[10][11] Năm 1304, khi đang hoằng hóa tại huyện Nam Sách (Hải Dương), Điều ngự đã gặp và thu nhận Pháp Loa (Đồng Kiên Cương; 1284 – 1330) và làm đệ tử xuất gia. Sau đó ông đào tạo cho Pháp Loa trở thành người kế thừa thiền phái của mình.[106] Ngày 1 tháng 1 âm lịch năm 1308, Điều ngự chính thức công nhận Pháp Loa làm người nối pháp.[101] Lễ truyền đăng cho Pháp Loa được cử hành tại chùa Báo Ân-Siêu Loại và được tường thuật qua sách Tam Tổ thực lục (tờ 18b3-19a8) như sau:[3][11][106]

Ngày mồng một tháng 1 năm Mậu Thân Hưng Long thứ 16 (1308),  vâng lệnh làm trụ trì nối dòng pháp ở Cam Lộ đường chùa Siêu Loại. Để khai đường và làm lễ trao truyền, vua cho đặt bài vị của liệt tổ, tấu Đại nhạc, đốt hương thơm. Điều Ngự dẫn sư lên lễ tổ đường xong. Sau khi ăn cháo, sai tấu nhạc, đánh trống pháp, tập hợp đại chúng lên pháp đường. Bấy giờ Anh Tông xa giá đến chùa. Sau khi đặt ngôi chủ khách xong, vua Anh Tông vì là đại thí chủ của Phật pháp đứng vào ngôi khách ở pháp đường, thượng tể đem bá quan đứng ở dưới sân. Điều Ngự lên tòa thuyết pháp. Giảng xong, bèn đi xuống, đỡ sư lên tòa. Điều Ngự đứng đối diện chắp tay hỏi han. Sư đáp lễ xong, nhận pháp y mặc vào. Điều Ngự bèn bước sang một bên, ngồi trên giường khúc lục, nghe sư thuyết pháp. Đem chùa Siêu Loại của sơn môn Yên Tử sai sư kế thế trụ trì làm đời thứ hai của dòng Trúc Lâm. Lại đem ngoại thư kinh sử 100 hộp và Đại Tạng 20 hộp nhỏ chép bằng máu chích ra, để mở rộng việc học nội và ngoại điển.

— Tam Tổ thực lục

Trong cuốn Lịch sử Phật giáo Đàng Ngoài (xuất bản năm 1995), tác giả Nguyễn Hiền Đức nhận định buổi lễ này đã cho thấy " Trúc Lâm muốn rằng vua Anh Tông và các đại thần trong triều đình phải chánh thức tôn kính Pháp Loa như "bậc thầy" giống như tôn kính Trúc Lâm. Ngoài ra, Trúc Lâm cũng muốn cho biết rằng: Từ vua, triều thần cho đến tất cả chư Tăng Ni, Phật tử cả nước phải công nhận Pháp Loa là vị Tổ thứ hai, thay thế Trúc Lâm lãnh đạo Giáo hội Phật giáo thống nhất từ thời Trần, tức lãnh đạo phái thiền Trúc Lâm do Trúc Lâm Đầu Đà khai sáng.".[101] Sách Trần Nhân Tông toàn tập (xuất bản năm 2006) của tiến sĩ Lê Mạnh Thát còn có nhận xét rằng việc ban tặng "ngoại thư kinh sử" cho Pháp Loa chứng tỏ Điều ngự yêu cầu đệ tử phải biết kết hợp lý tưởng Bồ-tát của Phật pháp với lý tưởng trượng phu của thế gian.[3]

Tháng 11 âm lịch (tháng 12 dương lịch) năm 1308, Điều ngự Trần Nhân Tông viên tịch trên đỉnh Ngọa Vân (Yên Tử). Về ngày mất của Điều ngự, sách Đại Việt sử ký toàn thư chép là ngày 3 tháng 11 âm lịch năm Mậu Thân (tức ngày 16 tháng 12 năm 1308) trong khi Tam Tổ thực lục và Thánh đăng ngữ lục viết là ngày 1 tháng 11 âm lịch (tức ngày 14 tháng 12). Thánh đăng ngữ lục đã tường thuật về cuộc đối thoại cuối cùng giữa Điều ngự với thị giả Bảo Sát:[10][11]

Ngày mùng một tháng mười một, nửa đêm sao trời sáng tỏ, Điều Ngự hỏi: Hiện giờ là giờ gì? Bảo Sát thưa: Giờ Tý.

Điều Ngự đưa tay mở cánh cửa sổ nhìn ra bảo: Chính là giờ ta đi! Bảo Sát hỏi: Tôn Đức đi đâu? Điều Ngự đáp:

Tất cả pháp chẳng sanh,
Tất cả pháp chẳng diệt,
Nếu hay hiểu như thế,
Chư Phật thường hiện tiền.
Nào có đến đi gì?

Bảo Sát thưa:

– Chỉ như khi chẳng sanh chẳng diệt thì thế nào?

Điều Ngự liền vả ngay miệng Bảo Sát, bảo:

– Chớ nói mớ!

Nói xong, Ngài nằm theo thế sư tử lặng lẽ mà tịch. Qua đêm thứ hai, Bảo Sát vâng theo lời di chúc, làm lễ hỏa táng ngay nơi am Ngài ở, có mùi hương lạ xông lên thoảng ra xa, nhạc trời trên không, mây năm sắc che trên giàn hỏa.

Ngày thứ tư Tôn giả Phổ Tuệ (Pháp Loa) từ núi Yên Tử vội vã đến, dùng nước thơm rưới lên giàn hỏa làm lễ. Xong, Pháp Loa thu lấy ngọc cốt, được xá lợi năm màu hơn năm trăm hạt lớn, còn hạt nhỏ cỡ hột lúa hột cải thì nhiều vô kể. Vua Anh Tông, Quốc phụ Thượng Tể cùng đình thần đem thuyền rồng đến lễ bái dưới chân núi, gào khóc vang trời, sau đó đón ngọc cốt và xá lợi xuống thuyền rồng đưa về kinh. Từ triều đình cho đến thôn quê đều rất mực thương tiếc.

— Thánh đăng ngữ lục

Sách Đại Việt sử ký toàn thư cũng cung cấp một số chi tiết khác về sự qua đời của Trúc Lâm đại sĩ:[96]

Bấy giờ Thượng hoàng xuất gia, tu ở ngọn Tử Tiêu núi Yên Tử, tự hiệu là Trúc Lâm đại sĩ. Bà chị là Thiên Thụy ốm nặng, Thượng hoàng xuống núi, tới thăm và bảo:

"Nếu chị đã đến ngày đến giờ thì cứ đi, thấy âm phủ có hỏi thì trả lời rằng: Xin đợi một chút, em tôi là Trúc Lâm đại sĩ sẽ tới ngay".

Nói xong, Thượng hoàng trở về núi, dặn dò người hầu là Pháp Loa các việc về sau, rồi bỗng nhiên ngồi mà hóa. Thiên Thụy cũng mất vào hôm đó. Pháp Loa thiêu được hơn ba ngàn hạt xá lỵ mang về chùa Tư Phúc ở kinh sư.

— Đại Việt Sử ký Toàn thư

Theo thiên Tổ linh định mệnh (Linh hồn của Tổ định ngôi) trong sách Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng – quan nhà Minh gốc Việt đầu thế kỷ XV, khi Trần Anh Tông cùng các vương tử nhận bọc xá-lợi của Điều ngự, một số hạt xá-lợi bay vào tay áo Hoàng tử Trần Mạnh, rồi tỏa ra ánh sáng. Khi được lấy ra, xá-lợi lại bay vào. Theo Hồ Nguyên Trừng, Anh Tông bấy giờ chưa có con với vợ đích, chỉ có Hoàng tử Mạnh là con người vợ thứ. Nhà vua định chờ sinh con đích rồi chọn người nối ngôi. Cho nên việc xá-lợi bay vào ống tay áo Mạnh có nghĩa anh linh Điều Ngự nhắc Anh Tông phải truyền ngôi cho Mạnh. Sau khi vua Anh Tông khấn rằng: "Đâu dám không phụng mệnh", xá-lợi mới không bay nữa. Anh Tông lập Trần Mạnh làm Hoàng thái tử, tức vua Trần Minh Tông sau này.[107][96]

Theo Thánh đăng ngữ lục và Tam tổ thực lục, xá lợi của Điều ngự được Anh Tông chia làm ba phần, tôn trí vào ba nơi: lăng Quy Đức (phủ Long Hưng), bảo tháp Huệ Quang tại chùa Hoa Yên (Yên Tử) và chùa Phổ Minh (Thiên Trường).[10][101] Đại Việt Sử ký Toàn thư còn kể, trước khi đưa về lăng Quy Đức, di hài Nhân Tông Điều ngự được quàn tạm ở điện Diên Hiền. Các quan và nhân dân đổ về cung điện rất đông, cho nên đến gần giờ rước, đoàn linh cữu vẫn chưa đi được. Vua Anh Tông sai Chi hậu thánh chưởng Trịnh Trọng Tử, chỉ huy các quân Hải khẩu và Hổ dực, tìm cách khiến đoàn người giãn ra. Trọng Tử bèn sai quân Hải khẩu, Hổ dực đến trước thềm Thiên Trì, ngồi theo hàng lối rồi hát khúc Long ngâm. Nhiều người nghe thấy, chạy đến xem, từ đấy đoàn linh cữu mới đi được về lăng Quy Đức. Tại đây, Điều ngự được hợp táng với vợ đầu là Khâm Từ Bảo Thánh Thái hoàng thái hậu.[108] Triều đình dâng ông miếu hiệu là Nhân Tông và thụy hiệu Pháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Hiệu Thánh Văn Thần Võ Nguyên Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế (法天崇道應世化民隆慈顯惠聖文神武元明睿孝皇帝).[108] Anh Tông còn dâng pháp hiệu Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật (大聖陳朝竹林頭陀靜慧覺皇調御祖佛), lại sai đắp hai pho tượng vàng thờ ông ở chùa Vân Yên (Yên Tử) và chùa Báo Ân (Siêu Loại).[10][101]

Sách Tam Tổ thực lục khi chép về thời kỳ Trần Minh Tông làm Thái thượng hoàng, có ghi nhận một phần xá-lợi của Nhân Tông đã được đưa vào bảo tháp Đại Thắng Tư Thiên (tháp trong khuôn viên chùa Báo Thiên, xây năm 1057 từ thời Lý Thánh Tông, nay không còn nữa). Từ phần xá-lợi này, tháng 11 âm lịch năm 1329, thiền sư Pháp Loa đem một số xá lợi về an trí trong tháp đá của viện Quỳnh Lâm (nay thuộc thị xã Đông TriềuQuảng Ninh).[104]

Trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí, phần Văn tịch chí, danh sĩ thời Nguyễn Phan Huy Chú có nhận xét về nhà vua-tu sĩ Trần Nhân Tông:[109]

Tính vua nhân từ, có trí lược, thương dân, ơn huệ cố kết lòng dân. Đời vua, quân Nguyên hai lần xâm phạm. Vua chọn tướng, rèn quân rồi bình được giặc lớn. Cái công trùng hưng rực rỡ hơn trước. Sau khi nhường ngôi, vua lưu tâm kinh điển nhà Phật, xây am Thiên Kiến, đúc đỉnh Phổ Minh, thờ Phật rất chăm. Về sau đi tu ở núi Yên Tử rồi mất ở am Ngọa Vân.

— Lịch triều hiến chương loại chí

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng thờ Trần Nhân Tông ở Huế, do người đời sau tạc.

Trần Nhân Tông được xem là một nhà thơ, nhà văn hóa tiêu biểu của Đại Việt thời trung đại.[97] Tác phẩm của ông bao gồm:

  • Thiền lâm thiết chủy ngữ lục (Ngữ lục về trùng độc thiết chủy trong rừng Thiền).
  • Tăng già toái sự (Chuyện vụn vặt của sư tăng).
  • Thạch thất mỵ ngữ (Lời nói mê trong nhà đá), được vua Trần Anh Tông cho chép vào Đại Tạng kinh để lưu hành.[11]
  • Đại hương hải ấn thi tập (Tập thơ ấn chứng của biển lớn nước thơm).
  • Trần Nhân Tông thi tập (Tập thơ Trần Nhân Tông).
  • Trung Hưng thực lục (2 quyển): chép việc bình quân Nguyên xâm lược.

Các tác phẩm trên đều đã thất lạc, chỉ còn lại 32 bài thơ, kệ chép trong Thánh đăng ngữ lụcThiền tông bản hạnhAn Nam chí lượcNam Ông mộng lụcViệt âm thi tập và Toàn Việt thi lục, cộng thêm 3 đoạn phiến trong Đại Việt Sử ký Toàn thư và An Nam chí lược.[110][111] Theo đánh giá trong sách Thơ văn Lý Trần (tập 2, quyển thượng) do Nguyễn Huệ ChiTrần Thị Băng Thanh, Đỗ Văn Hỷ và Trần Tú Châu biên soạn, thơ Trần Nhân Tông mang tính chất "kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm quan triết học và cảm quan thế sự, có tinh thần lạc quan, yêu đời, tấm lòng vị tha của một nhân cách cỡ lớn và sự rung động tinh tế, lòng yêu tự do thích thảng của một nhà nghệ sĩ".[97]

Một số bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Xuân Đình
 
Thụy khởi khải song phi
Bất tri xuân dĩ quy
Nhất song bạch hồ điệp
Phách phách sấn hoa phi
Buổi sớm mùa xuân
Ngủ dậy ngỏ song mây,
Xuân về vẫn chửa hay,
Song song đôi bướm trắng,
Phất phới sấn hoa bay.
(Bản dịch của Ngô Tất Tố)[112]
Thiên Trường vãn vọng
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên
Bán vô bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lí ngưu quy tận
Bạch lộ song song phi hạ điền
Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra
Trước xóm sau thôn tựa khói hồng
Bóng chiều man mác có dường không
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng
(Ngô Tất Tố dịch)
Thiên Trường Phủ
Lục ám hồng hi bội tịch liêu,
Tễ vân thôn vũ thổ hoa tiêu.
Trai đường giảng hậu tăng quy viện,
Giang quán canh sơ nguyệt thượng kiều.
Tam thập tiên cung hoành dạ tháp,
Bát thiên hương sát động xuân triều.
Phổ Minh phong cảnh hồn như tạc,
Phảng phất canh tường nhập mộng nghiêu.
Phủ Thiên Trường
Lục rậm, hồng thưa cảnh quạnh hiu,
Mây quang, mưa tạnh đất tan rêu.
Phòng trai giản đoạn, sư về viện,
Cầu bến canh đầu, bóng nguyệt treo.
Ba chục cung tiên, giường ngủ đặt,
Tám nghìn bóng tháp, nước triều reo.
Phổ Minh phong cảnh, chùa như cũ,
Trong giấc mơ màng Thuấn thấy Nghiêu.
(Bản dịch của Ngô Tất Tố)[113]
Cư trần lạc đạo phú
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Bản dịch:
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,
Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền.
Có báu trong nhà thôi tìm kiếm,
Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền.
(người dịch: Lê Mạnh Thát)[114]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Lăng vua Trần Nhân Tông (Trần Khâm) (1258 - 1308) ở Long Hưng, Thái Bình
  1. Khâm Từ Hoàng hậu Trần Thị Trinh (欽慈皇后; ? – 1293), con gái trưởng của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn.
  2. Tuyên Từ Hoàng hậu họ Trần (宣慈皇后; ? – 1318), em gái của Khâm Từ Hoàng hậu, mẹ là thị thiếp của Hưng Đạo Đại vương.
  3. Đức phi Đặng Thị Loan, người con gái thôn quê vùng Kinh Bắc.
  • Con:
  1. Trần Thuyên (陳烇), sau trở thành Trần Anh Tông (陳英宗), con của Khâm Từ Hoàng hậu.
  2. Huệ Vũ Đại vương Trần Quốc Chẩn (惠武大王陳國瑱), không rõ mẹ, có thể là Tuyên Từ Hoàng hậu.
  3. Thượng Trân Công chúa (上珍公主), lấy Văn Huệ công Trần Quang Triều, cháu nội Trần Hưng Đạo.
  4. Thiên Trân Công chúa (天珍公主; ? – 1309), lấy Uy Túc công Trần Văn Bích, con Văn Túc vương Trần Đạo Tái, cháu nội Trần Quang Khải.
  5. Huyền Trân Công chúa (玄珍公主), lấy Chế Mân, Quốc vương Chiêm Thành.

Hình ảnh công cộng[sửa | sửa mã nguồn]

Tên của ông được đặt cho nhiều trường học ở Việt Nam, một số con đường của các thành phố, tỉnh. Trong khi đó, ở các tỉnh miền Trung và miền Nam lại viết là Trần Nhân Tôn.

Servers Status

Server Load 1

Server Load 2

Server Load 3

Live Statistics
43
Packages
65
Dropped
18
Invalid

File Transfers

  • TPSReport.docx
  • Latest_photos.zip
  • Annual Revenue.pdf
  • Analytics_GrowthReport.xls

Tasks in Progress

  • Wash the car
    Rejected
    Written by Bob
  • Task with hover dropdown menu
    By Johnny
    NEW
  • Badge on the right task
    This task has show on hover actions!
    Latest Task
  • Go grocery shopping
    A short description ...
  • Development Task
    Finish React ToDo List App
    69

Urgent Notifications

All Hands Meeting

Yet another one, at 15:00 PM

Build the production release
NEW

Something not important
+

This dot has an info state