Layout Options

  • Fixed Header
    Makes the header top fixed, always visible!
  • Fixed Sidebar
    Makes the sidebar left fixed, always visible!
  • Fixed Footer
    Makes the app footer bottom fixed, always visible!

Header Options

  • Choose Color Scheme

Sidebar Options

  • Choose Color Scheme

Main Content Options

  • Page Section Tabs
  • Light Color Schemes
Tìm kiếm nhanh

Xem Nhân vật

Bạn đang xem : Minh Sư Đạo

student dp

Minh Sư Đạo

ID:22

Class:4

Section:A

General Information

Roll : 125
Academic Year : 2020
Gender : Không xác định
Religion : Group
blood : B+

Other Information

Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư đạo (gọi tắt là Minh Sư đạo) là 1 giáo hội tôn giáo có giáo lý dựa trên Phật giáo Thiền Tông, Đạo giáo và Nho giáo tại Việt Nam và là nhánh chính trong năm nhánh của Ngũ chi Minh đạo. Phương châm tu của đạo là "Phổ độ chúng sinh - Chân tu giải thoát".[1] Giáo hội đã được công nhận tổ chức giáo hội từ năm 1920 và hiện có hệ thống tổ chức từ Trung ương tới cơ sở với hơn 300 chức sắc, 1262 chức việc, trên 11224 tu sĩ, tín đồ và gần 100 chùa hoạt động tại 18 tỉnh, thành phố. Chính quyền Việt Nam đã cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho giáo hội từ ngày 17 tháng 8 năm 2007 và công nhận hoạt động ngày 1 tháng 10 năm 2008.[2]

Nội dung chi tiết

Minh Sư Đạo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư đạo (gọi tắt là Minh Sư đạo) là 1 giáo hội tôn giáo có giáo lý dựa trên Phật giáo Thiền TôngĐạo giáo và Nho giáo tại Việt Nam và là nhánh chính trong năm nhánh của Ngũ chi Minh đạo. Phương châm tu của đạo là "Phổ độ chúng sinh - Chân tu giải thoát".[1]

Giáo hội đã được công nhận tổ chức giáo hội từ năm 1920 và hiện có hệ thống tổ chức từ Trung ương tới cơ sở với hơn 300 chức sắc, 1262 chức việc, trên 11224 tu sĩ, tín đồ và gần 100 chùa hoạt động tại 18 tỉnh, thành phố. Chính quyền Việt Nam đã cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho giáo hội từ ngày 17 tháng 8 năm 2007 và công nhận hoạt động ngày 1 tháng 10 năm 2008.[2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Minh Sư Đạo tự nhận là mình có nguồn gốc từ môn phái Phật Đường của Phật giáo Thiền tông tại Trung Quốc, mặc dù trong Lịch sử Thiền Tông Trung Quốc không có chi phái chính thống nào tên là Phật Đường và các giáo lý, quan điểm mà Minh Sư Đạo truyền bá không phải là Thiền Tông hay Phật Giáo Chính Thống, mà pha trộn giữa các tôn giáo ở Trung Quốc. Đến cuối nhà Minh, vào năm Thiên Khải thứ 3 (1623) môn phái Phật Đường tiếp tục được chấn hưng nhờ công của Hoàng Đức Huy. Tuy nhiên, nó chỉ hưng thịnh một thời gian ngắn rồi suy tàn khi người Mãn Châu diệt nhà Minh thành lập nhà Thanh. Những năm đầu triều Thanh, đạo Minh Sư hình thành mượn tư tưởng của Phật Đường. Minh Sư Đạo bộc lộ tư tưởng Phản Thanh Phục Minh, nhưng vẫn giải thích rằng Minh Sư là người thầy sáng suốt. Triều đình nhà Thanh do đó đã nhiều lần đàn áp khiến một bộ phận tín đồ theo dòng người Hoa ra hải ngoại trong đó có Việt Nam[2]

Cuối thế kỷ 19, Kim Tổ Sư - Lâm Y Bí (truyền thừa thứ 16) đã phân công cho Trưởng lão Đông Sơ Trương Đạo Dương sang Việt Nam năm 1863 [3]. Vị này đã lập tại Cầu Kho (Chợ Lớn) một Phật Đường gọi là Chiếu Minh Phật Đường. Sau đó trở về Trung Quốc rồi lại sang Thái Lan truyền đạo. Sau này khi 3 tỉnh miền Đông bị Pháp chiếm, ông có ghé qua Hà Tiên lập 1 ngôi Phật Đường nữa có tên là Quảng Tế Phật Đường.

Sau khi lập Quảng Tế Phật Đường, số bổn đạo Minh Sư phát triển ngày càng đông. Những ngôi chùa Minh Sư đầu tiên được xây dựng chủ yếu thu hút tín đồ trong cộng đồng người Hoa. Tuy nhiên tư tưởng cứu thế theo tinh thần Tam giáo và có những hình thức sinh hoạt tôn giáo gần gũi với người Việt Nam. khẩu hiệu Phục Minh bài Thanh sau đó cũng đã được đổi thành Phục Nam bài Pháp tại Việt Nam, nên trong thời gian ngắn Minh Sư đã có ảnh hưởng tới cộng đồng người Việt ở Nam Bộ. Cơ cấu tổ chức của giáo hội được hình thành từ năm 1962 [3]

Trong quá trình hình thành và phát triển ở Việt Nam, đạo Minh Sư đã góp phần phục vụ dân tộc, xây dựng hòa bình và có nhiều hoạt động gắn bó với xã hội trên tinh thần "nước có vinh thì đạo mới sáng" [1] Trong hai cuộc chiến tranh, nhiều Phật Đường của Minh Sư là cơ sở cách mạng, làm liên lạc, nuôi giấu cán bộ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tiêu biểu là Thái Lão sư Nguyễn Đạo Cơ (Nguyễn Giác Nguyên) trụ trì Nam Nhã Phật Đường đã được tặng Bằng khen của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn ĐồngNam Nhã Phật Đường cũng đã được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa Quốc gia.[2]

Giáo lý cơ bản[sửa | sửa mã nguồn]

Tư tưởng Minh Sư Đạo có nguồn gốc từ phái Phật Đường, theo tinh thần Tam giáo: thờ Phật nhưng mục đích hướng đến là tu Tiên và sinh hoạt theo tư tưởng Nho Giáo. Giáo lý có hai phần: phần đốn giáo với chủ trương phổ độ chúng sinh, phần tiệm giáo đề cao thuyết Di Lặc, tạo niềm tin, sự chờ đợi về một đấng cứu thế.[2]

Minh Sư đạo chia thế giới thành ba cõi: Hạ giới là cõi âm phủ, Trung giới là thế giới loài người, Thượng giới là cõi trời. Ngọc Hoàng Thượng đế là vị ngự trị ở cõi trời, nhưng quyền năng chưởng quản hai thế giới còn lại. Còn chư Phật và các vị Bồ Tát ở cõi Tây Phương, các vị Thần Tiên ở cõi Bồng Lai.

Giáo lý mang tính căn bản nhất là chia thời gian thành ba kỳ tức Tam nguyên; Thượng nguyên tức giai đoạn đầu có 12 Hội, Trung nguyên là giai đoạn giữa có 12 Hội, Hạ nguyên là giai đoạn cuối có 12 Hội; mỗi Hội thời gian là 10.800 năm. Thượng nguyên là lúc Diêu Trì Kim Mẫu bắt đầu tạo lập trời đất; lúc bấy giờ có 96 ức Linh căn xuống trần, đến nay đã trải qua đời Thượng nguyên, Trung nguyên và sắp hết đời Hạ nguyên mà chỉ có 4 ức Linh căn trở về với mẹ. Như vậy còn 92 ức Linh căn, số lượng quá nhiều, đang chìm trong biển trầm luân, đời mạt kiếp sắp tới, Bồ Tát Di Lặc sẽ xuống trần lập Hội Long Hoa, tế độ tất cả các Linh căn đó.

Chùa Minh Sư có hai chữ Phật Đường sau tên chùa, thờ Diêu Trì Kim Mẫu, Ngọc Hoàng Thượng đế, Tam giáo Thánh nhân (Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, Đức Khổng Tử Chí Thánh, Đức Thái Thượng Đạo Tổ) và chư Phật Thánh Tiên; trước điện thờ có treo vòng Vô Cực Huyền Đăng (vòng tròn bằng đồng, chính giữa là ngọn đèn dầu được thắp sáng liên tục), phía dưới là bình tịnh thủy. Tôn chỉ, mục đích là tự tu, tự độ, tự tha thuần túy tu hành, tu giải thoát, nhằm hiệp nhất tinh hoa của ba nền tôn giáo lớn Nho - Thích - Đạo để tìm lại cội gốc là Đạo (qui nguyên Tam giáo).[2]

Giáo luật[sửa | sửa mã nguồn]

Minh Sư đạo chia ra hai thành phần trong Giáo hội:

  • Thành phần giáo phẩm (xuất gia tu Phật, trường trai cấm giới) gồm Thiên ân, Chứng ân, Dẫn ân, Bảo ân, Đảnh hàng, Bổ thiệt, Thập địa, Thái Lão sư đã được Giáo hội tấn phong.
  • Thành phần đại chúng (tại gia tu Phật) gồm có thiện nam, tín nữ trọn đời vì đạo cầu sám hối, nhất bộ, nhị bộ, tam bộ được gọi là tu sỹ, những nam nữ cầu qui y hộ đạo, chưa được thọ giới luật của hàng tu sỹ gọi chung là tín đồ.

Cấp tu trong Minh Sư đạo gồm ba bậc:

  • Bậc Thượng thừa: Thái Lão sư, Thập Địa Lão sư, Bổ Thiệt Lão sư, Đảnh hàng Lão sư
  • Bậc Trung thừa: Bảo ân, Dẫn ân, Chứng ân, Thiên ân.
  • Bậc Hạ thừa: Tam bộ, Nhị bộ, Nhất bộ, Sám hối (ăn chay trường, giữ giới đạo), Quy y Hộ đạo (ăn chay theo kỳ).

Nữ phái chỉ được cầu đạo trong phạm vi hai bậc là Hạ thừa và Trung thừa (phẩm cao nhất là Bảo ân). Nữ phái ở phẩm Thiên ân, Chứng ân, Dẫn ân được gọi bằng Sư Cô; phẩm Bảo ân được gọi bằng Sư Thái.Giáo hội quy định người tu phải ăn chay trường, giữ giới luật Đạo pháp và trải qua các khóa sơ thừa của bậc Sám hối. Kinh sách tu học bao gồm: kinh Thiên Ngươn, Cảm ứng Thiên kinh, Liên Hoa Bửu Sám kinh, kinh Cứu Khổ, kinh Bắc Đẩu, kinh Thiện Môn Nhật Dụng, Ngọc Hoàng kinh, Địa Mẫu kinh, Minh Thánh kinh, Thanh Tịnh kinh, Khổng Tử Tâm kinh, kinh Di Đà, kinh Hồng Danh, kinh Phổ Môn, kinh Địa Tạng, Ba La Mật kinh, …[2]

Nghi lễ[sửa | sửa mã nguồn]

Hàng ngày tại các Phật Đường có cúng tứ thời: 5 giờ (sáng), 11 giờ (trưa), 17giờ (chiều), 23 giờ (tối). Hàng tháng thì cúng Sóc, Vọng, và hàng năm có các ngày lễ: mùng 9 tháng giêng âm lịch, Tết Nguyên Tiêu, rằm tháng 2 âm lịch (vía Thái Thượng Đạo Tổ), 19 tháng 2 âm lịch, 8 tháng 4 âm lịch (vía Thích Ca Văn Phật), 30 tháng 4 âm lịch (kỷ niệm thành đạo Tổ Sư Vương Đạo Thâm), ngày 18 tháng 10 âm lịch (vía Địa Mẫu Nguyên Quân), ngày 4 tháng 11 âm lịch (vía Khổng Tử Chí Thánh)... Lễ phẩm chỉ dùng đồ chay, hương đăng hoa quả phẩm, cơm nước, nghiêm cấm dùng rượu, các sản phẩm có nguồn gốc động vật, không dùng ngũ vị như hành, hẹ, nén, kiệu… [2]

Hệ thống tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống tổ chức hành chính Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư đạo gồm:

  • Cấp Trung ương gốm có Hội đồng Trưởng lão và Ban Trị sự Trung ương Giáo hội. Hội đồng Trưởng lão là cơ quan tối cao của giáo hội, gồm 10 vị Lão sư được Đại hội Đại biểu Minh Sư toàn đạo suy tôn và tại vị suốt đời, có nhiệm vụ chăm lo về Đạo pháp. Ban Trị sự Trung ương Giáo hội gồm 15 - 19 hội viên từ phẩm Thiên ân trở lên, có nhiệm kỳ 5 năm. Nhiệm vụ lãnh đạo, thay mặt cho giáo hội chịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước, trực tiếp quản lý, điều hành các hoạt động của giáo hội.
  • Cấp địa phương: Ban Trị sự (Ban Nghi lễ) Phật Đường gồm 3 - 5 vị, nhiệm kỳ 5 năm; có nhiệm vụ giúp vị Trụ trì điều hành các hoạt động của Phật Đường.[2]

Hiện nay, Minh Sư đạo có 53 Phật Đường hoạt động ở 18 tỉnh, thành phố (Thành phố Hồ Chí MinhHà NộiNinh BìnhĐà NẵngQuảng NamBình ĐịnhPhú YênKhánh HòaLâm ĐồngBà Rịa-Vũng TàuTiền GiangHậu GiangCần ThơBến TreKiên GiangĐồng ThápVĩnh Long và Long An) với 300 chức sắc, 1.262 chức việc và trên 11.224 tu sĩ, tín đồ. Tổ đình của Minh Sư đạo đặt tại Quang Nam Phật Đường, số 17 Trần Quang Khải, phường Tân Địnhquận 1Thành phố Hồ Chí Minh.[2]

Căn cứ theo Quyết định về việc công nhận tổ chức tôn giáo số 196/ QĐ-TCCP của Ban Tôn Giáo Chính phủ, người đứng đầu của đạo là Đại Trưởng Lão Trần Đạo Như (thế danh Trần Tích Định). Đại Trưởng Lão là chức sắc cao nhất trong hệ thống các chức sắc của Giáo hội Phật đường Nam Tông Minh Sư đạo. Đại Trưởng Lão Trần Đạo Như hiện là trụ trì của Tổ đình Quang Nam Phật Đường.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. a b Đại hội Minh Sư Đạo lần 1[liên kết hỏng]
  2. a b c d e f g h i Ban tôn giáo chính phủ
  3. a b Công nhận đạo Minh Sư[liên kết hỏng]

Thông tin thêm

Minh sư đạo

Khái quát về Minh sư đạo (Phật đường Nam Tông) tại Việt Nam

Minh Sư đạo tên đầy đủ là Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư đạo. Giáo hội đã được công nhận là tổ chức giáo tại Việt Nam vào năm 1920.

Lịch sử hình thành Minh sư đạo

Minh Sư đạo có danh hiệu đầy đủ là Giáo hội Phật đường Nam tông Minh Sư đạo, là tôn giáo tôn thờ Tam giáo Nho – Thích – Lão, với tôn chỉ hợp nhất tinh hoa của ba nền tôn giáo lớn (quy nguyên Tam giáo) để tìm lại cội gốc là Đạo, để từ đó tự độ độ tha, giáo hóa chúng sanh hồi đầu hướng thiện, tu chơn giải thoát.

Cùng nguồn gốc từ Phật giáo thiền tông do Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma truyền sang Trung Quốc, sau đời Lục Tổ Huệ Năng Phật giáo thiền tông bị đình đốn, đến cuối thế kỷ VIII mới được hai vị là Mã Công Đạo Nhất thiền sư và Bạch Ngọc cư sĩ chấn hưng với tên gọi “Phật đường”, thời kỳ này đã phát triển được trên 800 Phật đường ở vùng Giang Tây, Trung Quốc.

Tại Việt Nam thời vua Lý Công Uẩn, Tam giáo đã ảnh hưởng và rất phát triển, Ngài đã chắt lọc những điểm ưu việt nhất của ba tôn giáo Nho – Thích – Lão làm định hướng căn bản cho việc xây dựng xã hội: Xã hội Nho – Tâm linh Phật – Thiên nhiên Đạo. Sau này, khi phái Phật đường được truyền vào Việt Nam khoảng đời vua Tự Đức (năm 1863), hòa cùng Tam giáo đã ảnh hưởng sâu sắc trong văn hoá xã hội người Việt, Minh Sư Đạo đã được mở rộng ở nhiều nơi trên khắp đất nước, là gốc của Ngũ chi minh đạo (gồm Minh Sư, Minh Lý, Minh Đường, Minh Thiện, Minh Tân) và trực tiếp dẫn đến sự ra đời của đạo Cao Đài.

Theo Giáo lý của Minh Sư đạo, Thời gian được chia làm ba kỳ (Tam nguyên): Thượng nguyên (thời kỳ đầu), Trung nguyên (thời kỳ giữa), Hạ nguyên (thời kỳ cuối). Thế giới được chia thành ba cõi: Hạ giới, Trung giới và Thượng giới. Hạ giới là cõi âm, Trung giới là cõi người, Thượng giới là cõi trời. Ngọc Hoàng Thượng đế ngự trị ở cõi trời và chưởng quản hai thế giới còn lại. Các vị Phật, Bồ Tát ở cõi Tây phương, các vị Tiên ở cõi Bồng Lai.Thuở khai thiên lập địa, Đức Vô Cực Diêu Trì Kim Mẫu (bà mẹ cõi Tây phương) bắt đầu tạo lập trời đất, sự sống vạn vật. Đức Mẫu vốn là Vô Cực Linh căn chơn tánh đã đưa xuống trần 96 ức Linh căn chơn tánh và giao cho mỗi Linh căn một túi gọi là Vạn Bửu Nan (túi vạn thiện) đựng tám món báu là Hiếu, Đễ, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ và dặn chúng chơn linh phải thường đeo túi này bên mình và giữ cho trọn tám món báu trở về thời Mẫu cho đặng ngồi toà sen, nếu trái mệnh mất đi một món thời khó trở về. Cả túi và tám báu đều mất thì phải vĩnh đọa địa ngục. Nhưng chúng Linh căn xuống trần lại mải mê trong biển nghiệp, quên lời dặn, đánh mất dần tám báu và cả túi Vạn bửu. Vì vậy, Lão Mẫu bèn khởi lập “Tiên thiên Long hoa hội”, Đức Lão Quân lãnh mạng độ về hai ức Linh căn. Lão Mẫu lại lập “Trung thiên Long hoa hội”, Đức Nhiên Đăng Phật cũng độ về hai ức. Còn lại 92 ức chẳng chịu trở về, Lão Mẫu tiếp mở “Hậu thiên Long hoa hội” tập hợp Tam giáo Phật Thánh, cửu diệu chư linh, cộng nghị phổ độ thu viên. Đức Đi Lặc Phật lãnh mạng cùng chư Phật Tiên Thánh Thần và bốn ức Linh căn đã đắc đạo đều xuống trần tế độ để tất cả Linh căn đều được trở về.

Khái quát về Minh sư đạo (Phật đường Nam Tông) tại Việt Nam

Minh Sư đạo chọn triều đại Vua Huỳnh Đế (2697 – 2597 TTL) – thời Đức Nhiên Đăng tá thế độ đời làm niên biểu. Do vậy, trong sớ văn Minh Sư hiện nay (năm 2017) đã là năm đạo thứ 4715. Vị Tổ đầu tiên của đạo Minh Sư là đức Bồ Đề Đạt Ma (vị Tổ thiền tông Ấn Độ thứ 28, truyền giáo qua Trung Quốc năm 520) và ảnh hưởng sâu sắc nhất là từ Lục tổ Huệ Năng – vị Tổ đã khai sinh ra phái Nam Tông….

Năm 1863, Đông Sơ Tổ Sư (vị truyền thừa thứ 16) đã đến Việt Nam hoằng khai đạo pháp. Đầu tiên, Đông Sơ Tổ sư định ghé qua Chợ Lớn nhưng trước tình hình ba tỉnh miền Đông bị thực dân Pháp xâm chiếm, Ngài đã qua Hà Tiên Lập ngôi Quảng Tế Phật đường.

Từ khi lập Quảng Tế Phật đường ở Hà Tiên, Minh Sư đạo phát triển ngày càng đông. Năm 1900, Lão Sư Ngô Cẩm Tuyền xây dựng chùa Ngọc Hoàng tại số 73 Mai Thị Lựu, phường Đa Kao, quận 1, Sài Gòn. Năm 1920, chùa Ngọc Hoàng chuyển qua cho người khác quản lý nên Lão sư Ngô Cẩm Tuyền đã lập một Phật đường khác tại số 17 Trần Quang Khải, quận 1, Sài Gòn lấy tên là Quang Nam Phật đường. Kể từ đây, Minh Sư đạo phát triển mạnh và thành lập được hơn 50 Phật đường từ Bắc đến Nam, gồm 3 tông phái:

– Tông Đức Tế: có Tổ đình Quang Nam Phật đường ở 17 Trần Quang Khải, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh và các chùa Nam Nhã Phật đường ở Cần Thơ, Vạn Bửu Phật đường ở Tiền Giang, – Hoà Nam Phật đường ở Đà Nẵng, Diệu Nam Phật đường ở Hà Nội ….

– Tông Phổ Tế: có Tổ đình Linh Quang Phật đường ở Hóc Môn, Phổ Hoà Phật đường ở Mỹ Tho….

– Tông Hoằng Tế: có Tổ đình Long Hoa Phật đường ở Cai Lậy, Tiền Giang và chùa Quan Âm Phật đường, Trọng Văn Phật đường ở Long An….

 

Ba tông phái thuộc Minh Sư đạo có giáo lý, giáo luật và hành đạo đều giống nhau, cùng có truyền thống gắn bó, đoàn kết, đùm bọc dân tộc, cùng chung tay hoạt động từ thiện.

Năm 1920, Minh Sư đạo thành lập tổ chức Giáo hội với tên gọi “Giáo hội Cư sĩ Phật đường Nam tông”, có giáo lý, giáo luật, hệ thống tổ chức là Ban Trị sự Trung ương, các tỉnh, thành phố có Tỉnh hội và ở cơ sở là các Phật đường với hàng vạn tu sỹ, tín đồ. Giáo lý của Minh Sư đạo thường được giảng dạy bằng văn thơ hợp lẽ Đời, lời Đạo nên nhanh chóng được phát triển và lan rộng trên khắp đất nước, nhất là ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Chùa Minh Sư có hai chữ Phật đường sau tên chùa, thờ đức Diêu Trì Kim Mẫu, đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Tam giáo có đức Thái Thượng Lão Quân, đức Khổng Tử, đức Thích Ca Mâu Ni và chư Phật. Trước điện thờ có vòng Vô Cực và ngọn đèn Nhiên Đăng ở tâm vòng tròn, phía dưới là bình tịnh thuỷ. Kinh sách dùng tụng niệm là Ngọc Hoàng kinh, Địa Mẫu chân kinh, Bắc Đẩu chân kinh, Thanh tịnh kinh, Nhật tụng kinh…. Pháp tu Minh Sư rất nghiêm, tín đồ khi nhập môn vào đạo đều ăn trường trai, tuyệt dục, tuân thủ giới luật.

Cấp tu trong Minh Sư đạo có ba bậc: Thượng Thừa, Trung Thừa và Hạ Thừa.

Tôn chỉ, mục đích của Minh Sư đạo là tự tu, tự độ, độ tha, thuần tuý tu hành, tu chơn giải thoát, nhằm hiệp nhất tinh hoa của ba nền tôn giáo lớn ở Phương Đông: Nho – Thích – Đạo để tìm lại cội gốc là Đạo (quy nguyên Tam giáo). Đạo phục của Minh Sư đạo là áo dài đen, quần trắng, chít khăn đóng hoặc mũ màu đen.

Quá trình phát triển Minh Sư đạo

Trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, nhiều vị Lão sư của Minh Sư đạo đã tích cực vận động tu sỹ, tín đồ ủng hộ phong trào yêu nước giải phóng dân tộc khỏi áp bức, xâm lăng. Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, khi các phong trào Cần Vương, Đông du…của các sỹ phu yêu nước diễn ra sôi nổi thì chùa Nam Nhã Phật đường ở Bình Thuỷ, Cần Thơ là nơi tập trung họp bàn quốc sự. Đại Lão sư Nguyễn Giác Nguyên trụ trì Nam Nhã Phật đường đã bị giặc Pháp bắt cầm tù ở khàm lớn Mỹ Tho năm 1913 và 1915. Đặc uỷ An Nam Cộng sản đảng Hậu Giang thành lập đã lấy chùa Nam Nhã làm địa điểm liên lạc với các cơ sở trong vùng. Các vị Ngô Gia Tự, Ung Văn Khiêm, Trương Văn Mộc… đã từng đến chùa Nam Nhã vận động khởi nghĩa năm 1945.

Ngày 16/1/1987, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã tặng bằng khen có công với đất nước cho Lão Sư Nguyễn Giác Nguyên đã nêu cao tinh thần yêu nước, tích cực giúp đỡ và bảo vệ Cách mạng, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám và ngày 25 tháng 1 năm 1991, Bộ Văn hoá – Thông tin đã ra quyết định công nhận chùa Nam Nhã là di tích lịch sử cách mạng. Sở Văn hoá Thông tin và Bảo tàng tỉnh Cần Thơ đã dựng bia di tích trước sân chùa; Chùa Đông Nam Phật đường ở Gò Công, Tiền Giang thường dịch và ấn tống kinh sách và thường qua lại quan hệ với cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy (thân phụ Chủ tịch Hồ Chí Minh), Lão Sư Lê Nghiêm Kỉnh trụ trì Đông Nam Phật đường có mời cụ về chùa ở ba tháng; Chùa Vạn Bửu Phật đường ở Gò Công, Tiền Giang trở thành trụ sở của tổ chức Thanh Niên Cách mạng tỉnh Gò Công (Tiền Giang), Lão sư Đinh Đạo Ninh trụ trì chùa bị giặc Pháp bắt đày đi Côn Đảo. Các tín đồ của chùa Vạn Bửu Phật đường như Đặng Vương Tá, Nguyền Văn Côn đều trở thành đảng viên Đảng Cộng Sản. Sau này, Nguyễn Văn Côn người cộng sản đầu tiên của tỉnh Gò Công đã trở thành Bí thư tỉnh ủy; Chùa Quang Nam Phật đường trước năm 1975 là cơ sở cách mạng tại nội thành Sài Gòn và nhiều những Phật đường khác có những đóng góp tích cực trong hai cuộc kháng chiến cứu nước.

Khái quát về Minh sư đạo (Phật đường Nam Tông) tại Việt Nam

Trong thời kỳ xảy ra hai cuộc chiến tranh, hệ thống tổ chức Giáo hội của Minh Sư đạo không còn duy trì được như trước nữa, các Phật đường cơ sở vẫn hoạt động bình thường, ổn định tại địa phương nhưng vẫn duy trì liên hệ trong toàn đạo, tích cực tham gia các phong trào xã hội nhất là các hoạt động từ thiện.

Để Giáo hội được trở lại hoạt động có tổ chức, hệ thống chặt chẽ. Năm 2007, thực hiện quy định của pháp luật, ba phái Đức Tế, Phổ Tế, Hoằng Tế hợp nhất lại thành một Giáo hội với danh xưng: Giáo hội Phật đường Nam tông Minh Sư đạo và đã được Nhà nước công nhận về tổ chức tôn giáo tại Quyết định số 196/QĐ-TGCP, ngày 01/10/2008.

Hiện nay, Minh Sư đạo có 53 Phật đường hoạt động ở 19 tỉnh thành phố (Hà Nội, Ninh Bình, Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bà Rịa Vũng Tàu, thành phó Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Kiên Giang, Bạc Liêu) với hơn 500 vị chức sắc từ bậc trung thừa và hơn một vạn tu sỹ, tín đồ. Tổ đình tại Quang Nam Phật đường, số 17 Trần Quang Khải, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Văn phòng trị sự Trung ương tại Trọng Văn Phật đường, số C15/7, ấp 3, xã Tân Quý Tây, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

 

Thông tin thêm

Servers Status

Server Load 1

Server Load 2

Server Load 3

Live Statistics
43
Packages
65
Dropped
18
Invalid

File Transfers

  • TPSReport.docx
  • Latest_photos.zip
  • Annual Revenue.pdf
  • Analytics_GrowthReport.xls

Tasks in Progress

  • Wash the car
    Rejected
    Written by Bob
  • Task with hover dropdown menu
    By Johnny
    NEW
  • Badge on the right task
    This task has show on hover actions!
    Latest Task
  • Go grocery shopping
    A short description ...
  • Development Task
    Finish React ToDo List App
    69

Urgent Notifications

All Hands Meeting

Yet another one, at 15:00 PM

Build the production release
NEW

Something not important
+

This dot has an info state