Đức Phật có biết mọi thứ không? – Trí tuệ Phật và những cách hiểu sai
Báo lỗi nội dung
Đức Phật có biết mọi thứ không? – Trí tuệ Phật và những cách hiểu sai
Đức Phật có biết mọi thứ không? – Trí tuệ Phật và những cách hiểu sai
Trả lời ngắn
Nếu “biết mọi thứ” được hiểu là:
Trong từng khoảnh khắc, Đức Phật đồng thời biết mọi sự kiện trong toàn vũ trụ – từng hạt bụi, từng ý nghĩ của mọi chúng sinh, từng việc đang xảy ra – dù Ngài có hướng tâm đến chúng hay không,
thì:
KHÔNG NÊN GÁN CÁCH HIỂU NÀY MỘT CÁCH ĐƠN GIẢN CHO KINH ĐIỂN PHẬT GIÁO SỚM.
Một bài kinh còn trực tiếp phê bình kiểu tuyên bố:
tri kiến về tất cả mọi thứ luôn luôn hiện diện, dù đang đi, đứng, ngủ hay thức.
Nhưng nếu vì vậy kết luận:
“Đức Phật chỉ là người thông minh hơn bình thường một chút”
thì cũng hoàn toàn không phản ánh cách kinh điển mô tả Ngài.
Đức Phật được trình bày là người có:
trí tuệ giác ngộ đặc biệt,
thấy rõ Khổ và con đường chấm dứt Khổ,
biết nghiệp và những điều kiện dẫn tới các kết quả khác nhau,
biết những đời sống quá khứ,
biết sự sinh tử của chúng sinh theo nghiệp,
biết tâm và căn cơ của người khác trong những phạm vi được mô tả,
có Mười lực của Như Lai,
Bốn vô sở úy,
và quan trọng nhất:
BIẾT CON ĐƯỜNG ĐƯA TỚI GIẢI THOÁT MỘT CÁCH VIÊN MÃN.
Các truyền thống Phật giáo về sau phát triển khái niệm:
NHẤT THIẾT TRÍ
TOÀN TRI
SABBAÑÑUTĀ
theo nhiều cách khác nhau.
Vì vậy câu hỏi:
“Đức Phật có biết mọi thứ không?”
không nên chỉ trả lời:
CÓ
hoặc:
KHÔNG.
Cần hỏi tiếp:
“BIẾT MỌI THỨ” ĐANG ĐƯỢC HIỂU THEO NGHĨA NÀO?
1. Một hình dung phổ biến về “Phật toàn tri”
Có người hình dung Đức Phật giống như:
một hệ thống giám sát toàn vũ trụ.
Ngay lúc này Ngài đồng thời biết:
một người đang nghĩ gì ở Việt Nam,
một con kiến đang đi đâu ở Ấn Độ,
một ngôi sao đang hình thành ở thiên hà xa xôi,
bao nhiêu giọt nước đang rơi,
tất cả những gì đã xảy ra,
tất cả những gì đang xảy ra,
tất cả những gì sẽ xảy ra.
Và:
toàn bộ những dữ liệu ấy luôn hiện diện đồng thời trong tâm Ngài.
Đây là:
MỘT ĐỊNH NGHĨA RẤT MẠNH VỀ TOÀN TRI.
Nhưng chính ở đây cần trở lại kinh điển.
2. Một đoạn kinh rất quan trọng
Trong MN 76 – Sandaka Sutta, một loại đạo sư bị phê bình là người tuyên bố:
mình biết tất cả, thấy tất cả, không có ngoại lệ,
và:
tri kiến luôn luôn hiện diện khi đi, đứng, ngủ và thức.
Nhưng rồi vị ấy:
đi vào một ngôi nhà trống,
không nhận được thức ăn,
bị chó cắn,
gặp thú nguy hiểm,
phải hỏi tên một người,
phải hỏi đường tới một làng.
Sau đó lại giải thích:
“Điều đó vốn phải xảy ra như vậy.”
Bản kinh xem đây là một dạng đời sống tâm linh không đáng tin cậy.
Điều này rất quan trọng.
Kinh điển sớm:
KHÔNG ĐƠN GIẢN CHẤP NHẬN
MỌI TUYÊN BỐ “TÔI BIẾT TẤT CẢ”.
3. Đức Phật không tự trình bày mình như một màn hình biết mọi dữ liệu đồng thời
Cần phân biệt:
NĂNG LỰC BIẾT
với:
MỌI ĐỐI TƯỢNG ĐỀU ĐỒNG THỜI HIỆN TRONG TÂM.
Hai điều:
không nhất thiết giống nhau.
Một người có thể:
có khả năng nhớ một dữ kiện
mà dữ kiện ấy:
không phải đang hiện diện trong ý thức của họ từng giây.
Truyền thống Theravāda về sau dùng chính sự phân biệt này để giải thích:
Nhất thiết trí của Đức Phật.
4. Milindapañha đặt đúng câu hỏi này
Trong Milindapañha, vua Milinda hỏi Nāgasena:
“Đức Phật có phải là bậc toàn tri không?”
Nāgasena trả lời:
Có.
Nhưng ngay sau đó giải thích:
tri kiến của Đức Phật không phải luôn luôn và liên tục hiện diện.
Thay vào đó:
Nhất thiết trí tùy thuộc vào sự hướng tâm; khi hướng tâm, Ngài biết điều mình muốn biết.
Đây là một phân biệt cực kỳ quan trọng.
5. Hai mô hình hoàn toàn khác nhau
Mô hình A
Đức Phật đồng thời biết:
A + B + C + D + E + F + …
tất cả mọi thứ:
trong mọi khoảnh khắc.
Mô hình B
Không có đối tượng khả tri nào nằm ngoài:
khả năng tri kiến của Phật khi Ngài hướng tâm tới nó.
Nhưng:
không phải toàn bộ mọi đối tượng đồng thời chen vào một sát-na tâm.
Milindapañha đi theo:
MÔ HÌNH B.
6. Nhưng Milindapañha không phải kinh Nikāya
Điều này phải nói rõ.
Milindapañha:
là một tác phẩm hậu kinh điển quan trọng của truyền thống Theravāda.
Không nên lấy lời Nāgasena rồi nói:
“Đây chính là lời Đức Phật nói trong Nikāya.”
Đó là:
cách giải thích được hệ thống hóa về sau.
Nó rất quan trọng để hiểu:
TRUYỀN THỐNG THERAVĀDA GIẢI THÍCH TOÀN TRI NHƯ THẾ NÀO,
nhưng cần phân biệt với:
TẦNG KINH ĐIỂN SỚM.
7. Vậy kinh điển sớm nhấn mạnh điều gì?
Thay vì dành phần lớn thời gian chứng minh:
Đức Phật biết mọi dữ kiện có thể tưởng tượng,
kinh điển sớm thường tập trung vào:
NHỮNG TRI KIẾN LIÊN QUAN ĐẾN GIÁC NGỘ.
Đây mới là:
trung tâm của hình ảnh Đức Phật.
8. Ba minh thường được nhắc tới
Trong các trình thuật về giác ngộ, Đức Phật được mô tả đạt những tri kiến đặc biệt.
Một cấu trúc quen thuộc là:
Túc mạng minh
Biết:
những đời sống quá khứ.
Thiên nhãn minh
Thấy:
chúng sinh chết và tái sinh
theo:
nghiệp của họ.
Lậu tận minh
Biết trực tiếp:
các lậu hoặc,
nguồn gốc,
sự đoạn tận,
con đường đưa tới đoạn tận
và:
CÁC LẬU HOẶC ĐÃ ĐƯỢC ĐOẠN TẬN.
Trong ba điều này:
Lậu tận minh trực tiếp liên hệ tới giải thoát.
9. Điều làm một người thành Phật không phải biết nhiều dữ kiện nhất
Giả sử một người biết:
mọi ngôn ngữ,
mọi công thức toán,
mọi ngôi sao,
mọi lịch sử,
mọi loài sinh vật,
nhưng:
tham chưa đoạn,
sân chưa đoạn,
si chưa đoạn.
Người ấy:
CHƯA VÌ THẾ MÀ THÀNH PHẬT.
Ngược lại, điểm trung tâm của giác ngộ là:
THẤY KHỔ.
THẤY NGUYÊN NHÂN CỦA KHỔ.
THẤY SỰ CHẤM DỨT KHỔ.
THẤY CON ĐƯỜNG CHẤM DỨT KHỔ.
10. Trí tuệ Phật trước hết là trí tuệ giải thoát
Đây là điều rất dễ bị bỏ quên khi tranh luận về:
“Phật có toàn tri không?”
Câu hỏi quan trọng hơn đối với Phật giáo là:
ĐỨC PHẬT BIẾT ĐIỀU GÌ KHIẾN CON NGƯỜI KHỔ
VÀ ĐIỀU GÌ LÀM KHỔ CHẤM DỨT?
Đó chính là:
trọng tâm của giáo pháp.
11. Mười lực của Như Lai
Kinh điển còn mô tả Đức Phật có:
MƯỜI LỰC – DASABALA.
Các bản kinh trình bày Mười lực trong những ngữ cảnh khác nhau; chúng liên quan tới những năng lực tri kiến đặc thù của Như Lai, chẳng hạn:
biết điều có thể và không thể,
biết kết quả của nghiệp,
biết những con đường dẫn tới các đích đến khác nhau,
biết thế giới với nhiều yếu tố,
biết khuynh hướng khác nhau của chúng sinh,
biết căn cơ của chúng sinh,
biết các trạng thái thiền định và giải thoát,
nhớ các đời quá khứ,
thấy sự chết và tái sinh,
biết sự đoạn tận các lậu hoặc.
Kinh điển gắn Mười lực này với:
“tiếng rống sư tử” của Như Lai và năng lực giảng dạy không sợ hãi.
12. Đây không phải danh sách “mọi dữ kiện trong vũ trụ”
Điều đáng chú ý là:
Mười lực không phải một danh mục kiểu bách khoa toàn thư.
Không phải:
biết số lượng hạt cát,
biết mọi công thức hóa học,
biết tất cả ngôn ngữ tương lai,
biết mọi chi tiết kỹ thuật.
Chúng tập trung rất mạnh vào:
NGHIỆP.
TÂM.
CON ĐƯỜNG.
THIỀN ĐỊNH.
TÁI SINH.
GIẢI THOÁT.
Tức là:
NHỮNG TRI KIẾN CỦA MỘT BẬC ĐẠO SƯ GIẢI THOÁT.
13. Đức Phật có đọc được tâm người khác không?
Kinh điển có mô tả:
tha tâm thông – khả năng biết tâm người khác.
Nhưng cũng cần tránh hình dung:
Đức Phật luôn luôn nghe toàn bộ suy nghĩ của mọi chúng sinh trong vũ trụ cùng một lúc.
Đó là:
một bước diễn giải vượt xa điều cần thiết để hiểu những đoạn kinh nói về tha tâm tri.
Có năng lực:
BIẾT TÂM
không tự động có nghĩa:
TẤT CẢ MỌI TÂM LUÔN HIỆN ĐỒNG THỜI.
14. Đức Phật có biết tương lai không?
Kinh điển có những trường hợp Đức Phật:
nói về kết quả tương lai,
dự báo nơi tái sinh,
biết hậu quả của những con đường hành động nhất định.
Nhưng từ đó không nên lập tức xây mô hình:
mọi chi tiết tương lai đã tồn tại cố định như một cuốn phim và Đức Phật luôn xem toàn bộ cuốn phim ấy.
Điều này còn liên quan tới:
NGHIỆP
DUYÊN KHỞI
VÀ TÍNH ĐIỀU KIỆN.
15. Biết nhân quả không nhất thiết là định mệnh luận
Ví dụ:
nếu điều kiện A, B, C tiếp tục,
một kết quả:
có thể xảy ra theo cấu trúc nhân duyên ấy.
Nhưng Phật giáo không vì vậy phải trở thành:
“mọi việc đã được định sẵn và không gì thay đổi được.”
Nếu mọi thứ hoàn toàn cố định:
tu tập cũng không thể thay đổi tương lai.
Trong khi toàn bộ con đường Phật giáo dựa trên khả năng:
THAY ĐỔI ĐIỀU KIỆN
ĐỂ THAY ĐỔI KẾT QUẢ.
16. Một câu hỏi khó: nếu Phật biết tất cả, tại sao Ngài vẫn hỏi?
Trong kinh:
Đức Phật đôi khi hỏi các Tỳ-kheo hoặc người khác về một sự việc.
Nếu dùng mô hình:
“Phật luôn đồng thời biết tất cả mọi thông tin”
thì câu hỏi xuất hiện:
Tại sao Ngài cần hỏi?
Có nhiều cách giải thích truyền thống.
Một cách là:
Ngài hỏi vì mục đích giáo hóa, không phải vì thiếu tri kiến.
Điều này có thể phù hợp với nhiều trường hợp.
Nhưng không nên biến nó thành:
một đáp án tự động cho mọi đoạn kinh trước khi khảo sát văn bản.
17. Nếu Phật biết mọi thứ, tại sao có lúc sự việc xảy ra rồi Ngài mới chế giới?
Đây là câu hỏi thường gặp.
Trong Luật tạng:
nhiều giới luật được thiết lập sau khi một sự việc cụ thể xảy ra.
Có người hỏi:
“Nếu Đức Phật biết trước, sao không ban hành toàn bộ giới ngay ngày đầu?”
Một cách hiểu quan trọng là:
GIỚI LUẬT ĐƯỢC THIẾT LẬP TRONG BỐI CẢNH CỤ THỂ CỦA TĂNG ĐOÀN.
Giới:
không chỉ là danh sách thông tin cần biết trước.
Nó còn là:
phương tiện huấn luyện được đặt ra khi điều kiện xã hội và Tăng đoàn thích hợp.
Do đó:
thời điểm chế giới
không tự động chứng minh:
Đức Phật biết hoặc không biết một dữ kiện nào đó.
18. Không nên giải thích mọi hành động của Phật bằng “Ngài đã biết hết”
Đây là một cạm bẫy khác.
Ví dụ:
một sự việc xảy ra.
Ta nói:
“Phật đã biết trước.”
Một người hỏi Ngài.
Ta nói:
“Phật đã biết họ sẽ hỏi.”
Một tai nạn xảy ra.
Ta nói:
“Phật cố ý để nó xảy ra.”
Nếu cứ giải thích như vậy:
mọi dữ kiện đều trở thành bằng chứng cho cùng một kết luận.
Đó là:
LẬP LUẬN KHÔNG THỂ KIỂM CHỨNG.
Phật học nghiêm túc nên:
phân biệt điều văn bản thực sự nói với điều chúng ta suy thêm.
19. “Phật không nói” không có nghĩa “Phật không biết”
Điều ngược lại cũng cần tránh.
Đức Phật:
không dạy tất cả những gì Ngài biết.
Trong hình ảnh nổi tiếng về:
nắm lá trong tay và lá trong rừng,
Ngài giải thích rằng:
những gì Ngài trực tiếp biết nhiều hơn những gì Ngài giảng dạy.
Lý do:
không phải mọi tri thức đều dẫn tới ly tham, đoạn tận, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.
Điều này cho thấy:
GIÁO PHÁP LÀ CÓ CHỌN LỌC.
20. Đức Phật không mở một trường bách khoa toàn thư
Mục tiêu của Ngài không phải:
dạy toàn bộ thiên văn học,
toàn bộ sinh học,
toàn bộ vật lý,
toàn bộ lịch sử,
toàn bộ kỹ thuật.
Mục tiêu là:
KHỔ VÀ SỰ CHẤM DỨT KHỔ.
Do đó việc một vấn đề:
không xuất hiện trong kinh
không tự động chứng minh:
Đức Phật không biết.
Nhưng cũng không chứng minh:
Đức Phật chắc chắn biết.
Cách trung thực nhất là:
VĂN BẢN KHÔNG CHO TA CƠ SỞ ĐỂ KẾT LUẬN.
21. Đây là nguyên tắc cực kỳ quan trọng khi nghiên cứu kinh
Ba câu sau hoàn toàn khác nhau:
1. Kinh nói Đức Phật biết X.
Ta có:
cơ sở văn bản.
2. Kinh không nói Đức Phật biết X.
Ta chỉ biết:
văn bản không đề cập.
3. Vì kinh không nói nên Đức Phật không biết X.
Đây là:
một suy luận bổ sung.
Không nên trộn ba tầng này.
22. Tương tự, không nên biến khoa học hiện đại thành bài kiểm tra Phật quả
Ví dụ người ta hỏi:
“Đức Phật có biết DNA không?”
“Có biết hố đen không?”
“Có biết thuyết tương đối không?”
“Có biết vi khuẩn không?”
Câu trả lời thận trọng là:
KINH ĐIỂN KHÔNG CUNG CẤP CƠ SỞ ĐỂ KHẲNG ĐỊNH NHỮNG ĐIỀU NÀY THEO NGHĨA KHOA HỌC HIỆN ĐẠI.
Không cần:
gán kiến thức hiện đại cho Đức Phật
để chứng minh Ngài giác ngộ.
23. “Phật đã biết khoa học hiện đại từ 2.500 năm trước” là một kiểu hộ giáo nguy hiểm
Đôi khi người ta cố tìm:
một câu kinh
rồi tuyên bố:
“Đức Phật đã phát hiện vật lý lượng tử.”
Hoặc:
“Đức Phật đã biết nguyên tử.”
Hoặc:
“Duyên khởi chính là thuyết tương đối.”
Những so sánh:
có thể hữu ích như phép gợi ý
nếu được dùng rất thận trọng.
Nhưng:
PHẬT HỌC
KHÔNG PHẢI VẬT LÝ.
DUYÊN KHỞI
KHÔNG PHẢI TÊN CỔ CỦA CƠ HỌC LƯỢNG TỬ.
Không cần biến Đức Phật thành:
một nhà khoa học hiện đại đi trước thời đại
để tôn trọng trí tuệ của Ngài.
24. Trí tuệ giải thoát và kiến thức thế gian là hai chuyện khác nhau
Một người có thể:
không biết sửa máy tính
nhưng:
thấy sâu bản chất của tham ái.
Một kỹ sư có thể:
biết chế tạo vệ tinh
nhưng:
không biết cách đối diện cơn sân của chính mình.
Hai loại tri thức:
không nằm trên cùng một thang đo đơn giản.
Trong Phật giáo:
TRÍ TUỆ GIẢI THOÁT
KHÔNG ĐƯỢC ĐO BẰNG SỐ LƯỢNG DỮ KIỆN THẾ GIAN.
25. Đức Phật biết điều gì quan trọng nhất?
Nếu tóm theo cấu trúc Tứ Thánh Đế:
ĐÂY LÀ KHỔ.
ĐÂY LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA KHỔ.
ĐÂY LÀ SỰ CHẤM DỨT KHỔ.
ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG ĐƯA TỚI CHẤM DỨT KHỔ.
Đây không phải:
kiến thức bách khoa.
Đây là:
TRI KIẾN GIẢI THOÁT.
26. Biết Khổ không chỉ là biết định nghĩa
Một học giả có thể thuộc:
“sinh là khổ, già là khổ…”
Nhưng Đức Phật được trình bày là:
trực tiếp thấu triệt Khổ.
Khác biệt nằm giữa:
BIẾT VỀ KHỔ
và:
THẤY KHỔ ĐÚNG NHƯ THẬT.
27. Biết Duyên khởi cũng không chỉ là thuộc 12 chi
Ta có thể thuộc:
vô minh → hành → thức → danh-sắc → sáu xứ → xúc → thọ → ái → thủ → hữu → sinh → già-chết.
Nhưng:
thuộc chuỗi
không đồng nghĩa:
thấy cơ chế sinh khởi và chấm dứt của Khổ.
Trí tuệ Phật:
không phải trí nhớ về một sơ đồ.
Nó là:
THẤY CƠ CHẾ CỦA KHỔ
ĐẾN MỨC KHÔNG CÒN BỊ NÓ TRÓI BUỘC.
28. Đây là lý do trí tuệ và giải thoát gắn với nhau
Nếu Đức Phật chỉ:
biết rất nhiều
nhưng:
tham vẫn còn,
sân vẫn còn,
si vẫn còn,
thì:
đó không phải giác ngộ theo nghĩa Phật giáo.
Điều quyết định là:
VÔ MINH BỊ ĐOẠN.
Và cùng với nó:
tham ái, chấp thủ và các lậu hoặc không còn khả năng tạo nên sự trói buộc như trước.
29. Đức Phật và A-la-hán giống nhau ở đâu?
Trong Phật giáo sớm và Theravāda:
Đức Phật và các A-la-hán đệ tử đều đạt giải thoát khỏi các lậu hoặc và vòng tái sinh.
Không nên nói:
A-la-hán chỉ giải thoát một phần còn Đức Phật mới giải thoát hoàn toàn.
Khác biệt quan trọng nằm ở:
vai trò và phẩm chất của một Sammāsambuddha.
30. Đức Phật khác A-la-hán đệ tử ở đâu?
Đức Phật:
tự mình khám phá lại con đường khi giáo pháp đã không còn hiện hữu,
tuyên bố con đường ấy,
thiết lập giáo pháp và Tăng đoàn,
có những năng lực tri kiến và giáo hóa đặc biệt được kinh điển mô tả.
A-la-hán đệ tử:
đi theo con đường do Đức Phật khai mở.
Vì vậy:
CÙNG GIẢI THOÁT
không có nghĩa:
MỌI PHẨM TÍNH VÀ TRI KIẾN HOÀN TOÀN GIỐNG NHAU.
31. Đây là nơi Mười lực trở nên quan trọng
Các A-la-hán:
có trí tuệ giải thoát.
Nhưng Mười lực của Như Lai được dùng để mô tả:
những phẩm tính đặc biệt của một Đức Phật.
Nhờ đó Ngài có thể:
hiểu căn cơ,
hiểu con đường,
hiểu kết quả,
và giáo hóa chúng sinh với phạm vi đặc biệt.
Do đó:
không cần biến sự khác biệt giữa Phật và A-la-hán thành “một người giải thoát 100%, một người 80%”.
32. Theravāda về sau nói gì về Nhất thiết trí?
Trong truyền thống Theravāda hậu kinh điển:
Nhất thiết trí của Đức Phật được khẳng định mạnh hơn.
Milindapañha đưa ra cách giải thích đặc biệt:
Đức Phật là toàn tri nhưng tri kiến không phải luôn luôn đồng thời hiện diện.
Khi:
hướng tâm đến điều muốn biết,
Ngài:
biết điều ấy.
Các truyền thống chú giải Theravāda về sau tiếp tục phát triển cách hiểu này.
33. Đây là giải pháp cho một nghịch lý
Nếu nói:
“Phật biết tất cả.”
người ta hỏi:
“Vậy tất cả có đồng thời hiện trong tâm không?”
Nếu nói:
“Không.”
người ta lại hỏi:
“Vậy sao gọi toàn tri?”
Cách giải thích hậu kỳ là:
TOÀN TRI KHÔNG NHẤT THIẾT =
ĐỒNG THỜI Ý THỨC VỀ TOÀN BỘ MỌI THỨ.
Mà:
KHÔNG CÓ ĐỐI TƯỢNG KHẢ TRI NÀO
NẰM NGOÀI KHẢ NĂNG TRI KIẾN KHI HƯỚNG TÂM.
Đây là cách giải thích truyền thống, không nên trình bày như định nghĩa duy nhất của mọi Phật giáo.
34. Đại thừa phát triển vấn đề này xa hơn
Trong nhiều hệ thống Đại thừa:
trí tuệ của Phật được mô tả với phạm vi rộng lớn hơn nữa.
Các khái niệm như:
sarvajñatā – nhất thiết trí,
sarvākārajñatā – nhất thiết chủng trí
được phát triển trong các hệ thống Bát-nhã và luận giải Đại thừa.
Phật quả:
không chỉ là đoạn trừ phiền não
mà còn được mô tả như:
sự viên mãn trí tuệ biết các pháp và các phương diện cần thiết cho việc giác ngộ, giáo hóa chúng sinh.
Nhưng:
cách giải thích cụ thể khác nhau giữa các hệ thống.
35. Đại thừa không chỉ thêm “nhiều dữ liệu hơn”
Nếu hiểu:
Phật toàn tri = một bộ não có cơ sở dữ liệu vô hạn
thì vẫn quá thô.
Trong nhiều hệ thống Đại thừa:
trí Phật gắn với việc trực nhận tính Không, pháp giới, hai sự thật, các pháp và căn cơ chúng sinh.
Nó là:
TRÍ GIÁC NGỘ,
không chỉ:
KHO DỮ LIỆU VÔ HẠN.
36. Pháp thân cũng không phải “máy chủ toàn tri của vũ trụ”
Khi Đại thừa nói:
Dharmakāya – Pháp thân,
không nên hình dung:
một siêu máy tính vô hình đang lưu tất cả thông tin.
Pháp thân liên hệ tới:
chiều kích tối hậu của Phật quả
trong các hệ thống Đại thừa.
Nếu biến nó thành:
một linh hồn vũ trụ biết tất cả
thì:
rất dễ quay lại một mô hình Đại Ngã mà giáo lý Vô ngã và Tánh Không đặt vấn đề.
37. Kim Cương thừa thì sao?
Kim Cương thừa:
kế thừa Phật học Đại thừa
và phát triển các mô hình rất phong phú về:
trí Phật,
Pháp thân,
Báo thân,
Hóa thân,
ngũ trí,
tâm quang minh
và:
hoạt dụng giác ngộ.
Nhưng cũng không nên giản lược thành:
“Phật là một vị thần biết tất cả và điều khiển mọi thứ.”
38. Biết tất cả không đồng nghĩa điều khiển tất cả
Đây là một phân biệt rất quan trọng.
Ngay nếu một truyền thống khẳng định:
PHẬT TOÀN TRI,
điều đó không tự động có nghĩa:
PHẬT TOÀN NĂNG.
Hai khái niệm:
khác nhau.
Biết:
một sự việc
không đồng nghĩa:
là nguyên nhân tạo ra sự việc ấy.
39. Phật không phải Thượng đế sáng tạo trong mô hình Phật giáo
Đức Phật không được trình bày trong Phật giáo như:
Đấng sáng tạo toàn vũ trụ,
người quyết định mọi sự kiện,
người ban thưởng và trừng phạt tùy ý.
Do đó:
“Nếu Phật biết tai họa sẽ xảy ra sao không ngăn hết?”
không thể mặc nhiên dùng cùng mô hình thần học:
Đấng toàn tri + toàn năng + sáng tạo
rồi áp vào Phật giáo.
40. Trí Phật không xóa luật nhân duyên
Đức Phật:
chỉ ra con đường.
Nhưng người khác:
phải thực hành.
Ngài biết:
tham gây khổ.
Nhưng không thể đơn giản:
rút tham khỏi tâm một người đang cố bám lấy nó
như lấy một vật ra khỏi túi.
Ngài có thể:
dạy.
Người học phải:
thấy.
41. Nếu Phật biết căn cơ, sao không làm mọi người giác ngộ?
Bởi:
BIẾT ĐƯỜNG
≠
ĐI THAY NGƯỜI KHÁC.
Một bác sĩ có thể:
biết phương pháp chữa bệnh.
Nhưng bệnh nhân:
không uống thuốc
thì kiến thức của bác sĩ:
không tự động biến thành sức khỏe của bệnh nhân.
Đây chỉ là một ẩn dụ, nhưng giúp thấy:
tri kiến của Phật không đồng nghĩa cưỡng chế tâm người khác giác ngộ.
42. Tại sao Đức Phật không trả lời mọi câu hỏi?
Đây cũng không phải bằng chứng đơn giản rằng:
Ngài không biết.
Trong kinh có những câu hỏi:
Đức Phật không xác nhận theo các lựa chọn được đưa ra.
Ví dụ:
Như Lai tồn tại sau khi chết?
không tồn tại?
vừa tồn tại vừa không?
không cả hai?
Sự im lặng hoặc không xác nhận:
có thể liên quan đến cấu trúc sai của câu hỏi và mục tiêu giải thoát, chứ không đơn giản là thiếu thông tin.
43. Biết câu trả lời và thấy câu hỏi sai là hai chuyện khác nhau
Ví dụ ai hỏi:
“Màu của số 7 là gì?”
Không trả lời:
“đỏ”
hay:
“xanh”
không có nghĩa:
không biết.
Có thể:
câu hỏi đã đặt sai phạm trù.
Tương tự:
một số câu hỏi siêu hình trong kinh
không nên mặc nhiên được xem như:
bài kiểm tra kiến thức mà Đức Phật không vượt qua.
44. Nhưng cũng không nên dùng “Phật biết nhưng không nói” cho mọi thứ
Đây là phía ngược lại.
Nếu hỏi:
“Đức Phật có biết cấu trúc DNA không?”
ta không nên trả lời chắc chắn:
“Có, nhưng Ngài thấy không cần nói.”
Bởi:
không có cơ sở văn bản để biết điều đó.
Câu trả lời trung thực hơn:
CHÚNG TA KHÔNG CÓ DỮ LIỆU KINH ĐIỂN ĐỂ KHẲNG ĐỊNH.
45. Đây chính là bài học “người mù sờ voi”
Ta có:
một số đoạn kinh nói về tri kiến đặc biệt của Phật.
Nếu từ đó kết luận:
“Phật biết từng dữ kiện trong mọi khoa học hiện đại”
ta có thể:
đang biến một phần thành toàn thể.
Ngược lại, thấy:
Đức Phật hỏi đường hoặc hỏi một sự việc
rồi kết luận:
“Phật chẳng có tri kiến đặc biệt gì”
cũng có thể:
lấy một phần làm toàn thể.
Cần:
ĐỌC TOÀN BỘ HỆ THỐNG VĂN BẢN.
46. Những hiểu lầm thường gặp
“Phật toàn tri nghĩa là mọi thông tin luôn chạy trong đầu Ngài.”
Không nhất thiết.
Kinh điển sớm còn phê bình kiểu tuyên bố tri kiến về tất cả luôn hiện diện khi đi, đứng, ngủ và thức.
“Vậy Phật không phải toàn tri.”
Cần xác định:
“toàn tri” theo định nghĩa nào.
Truyền thống Theravāda hậu kỳ vẫn gọi Phật là toàn tri nhưng giải thích:
tri kiến tùy sự hướng tâm.
“Phật biết vật lý lượng tử.”
Không có cơ sở kinh điển để khẳng định như vậy.
Có thể so sánh một số ý tưởng:
nhưng so sánh không phải đồng nhất.
“Phật không nói về X nên Ngài không biết X.”
Không thể suy ra như vậy.
Không đề cập:
không chứng minh không biết.
“Phật không nói về X nên chắc chắn Ngài biết nhưng cố tình không nói.”
Cũng không thể suy ra.
Không đề cập:
cũng không chứng minh biết.
“Nếu Phật toàn tri thì mọi thứ đã được định sẵn.”
Không nhất thiết.
Tri kiến và định mệnh luận:
là hai vấn đề khác nhau.
“Nếu Phật biết mọi thứ thì Phật phải toàn năng.”
Không.
Toàn tri:
liên quan tới biết.
Toàn năng:
liên quan tới quyền năng gây ra hoặc thay đổi mọi thứ.
Không nên đồng nhất.
“A-la-hán không biết gì đặc biệt, chỉ Phật mới có tuệ.”
Không.
A-la-hán:
cũng có trí tuệ giải thoát.
Nhưng Đức Phật có:
những phẩm tính và năng lực đặc thù của Sammāsambuddha.
47. Bảng đối chiếu
| Cách hiểu | Đánh giá |
|---|---|
| Phật biết đồng thời mọi dữ kiện trong từng sát-na | Không nên gán đơn giản cho kinh điển sớm |
| Phật có tri kiến giác ngộ vượt xa người thường | Có nền tảng mạnh trong kinh điển |
| Phật biết Khổ, nguyên nhân, sự chấm dứt và con đường | Cốt lõi |
| Phật có Mười lực | Được kinh điển xác nhận |
| Phật có những tri kiến đặc biệt về tâm, nghiệp, tái sinh | Có trong kinh điển |
| Phật biết toàn bộ khoa học hiện đại | Không có cơ sở để khẳng định |
| Phật toàn tri nên Phật toàn năng | Sai suy luận |
| Theravāda hậu kỳ khẳng định Nhất thiết trí | Có |
| Nhất thiết trí Theravāda hậu kỳ luôn hiện đồng thời | Không; Milindapañha giải thích tùy hướng tâm |
| Đại thừa phát triển học thuyết về Nhất thiết trí | Có |
| Trí Phật chỉ là kho dữ liệu vô hạn | Quá đơn giản |
48. Vậy chữ “toàn tri” có nên dùng không?
Có thể dùng:
nếu định nghĩa rõ.
Nếu không:
rất dễ gây hiểu lầm.
Khi nói:
“ĐỨC PHẬT LÀ BẬC TOÀN TRI”
nên hỏi:
Theo kinh nào?
Theo truyền thống nào?
“Toàn tri” được định nghĩa ra sao?
Đồng thời biết mọi thứ?
Hay:
có khả năng biết bất kỳ đối tượng khả tri nào khi hướng tâm?
Hay:
trí Phật viên mãn đối với tất cả pháp cần biết trên con đường giác ngộ?
Các câu này:
không hoàn toàn giống nhau.
49. Phật giáo sơ kỳ
Nếu đứng gần các Nikāya–Āgama:
nên thận trọng với định nghĩa tuyệt đối rằng tất cả dữ liệu luôn hiện diện đồng thời trong tâm Phật.
Trọng tâm rõ hơn là:
GIÁC NGỘ.
MƯỜI LỰC.
BỐN VÔ SỞ ÚY.
NHỮNG TRI KIẾN ĐẶC BIỆT.
ĐOẠN TẬN LẬU HOẶC.
KHẢ NĂNG CHỈ DẠY CON ĐƯỜNG.
50. Theravāda
Theravāda về sau:
phát triển mạnh học thuyết Nhất thiết trí của Phật.
Một cách giải thích nổi bật:
PHẬT CÓ KHẢ NĂNG BIẾT ĐIỀU MUỐN BIẾT KHI HƯỚNG TÂM,
nhưng:
KHÔNG PHẢI TẤT CẢ ĐỐI TƯỢNG LUÔN ĐỒNG THỜI HIỆN DIỆN TRONG TRI KIẾN.
Milindapañha trình bày rõ cách giải thích này.
51. Đại thừa
Đại thừa:
đẩy lý tưởng Phật quả và trí Phật đến những hệ thống rất phát triển.
Nhất thiết trí:
trở thành một phẩm tính quan trọng của Phật quả.
Đặc biệt:
con đường Bồ-tát hướng tới trí tuệ viên mãn của một Đức Phật
chứ không chỉ:
giải thoát cá nhân khỏi phiền não.
Tuy nhiên:
các trường phái Đại thừa không nhất thiết giải thích chi tiết giống hệt nhau.
52. Kim Cương thừa
Kim Cương thừa kế thừa:
quan niệm Đại thừa về Phật quả viên mãn
và phát triển thêm:
các mô hình về trí giác ngộ, ngũ trí, Tam thân và hoạt dụng của Phật.
Nhưng:
trí Phật vẫn không nên bị giản lược thành hình ảnh một vị thần sáng tạo đang quản lý mọi sự kiện của vũ trụ.
53. Câu hỏi thực tế hơn
Thay vì chỉ hỏi:
“PHẬT CÓ BIẾT MỌI THỨ KHÔNG?”
có thể hỏi:
“ĐỨC PHẬT BIẾT ĐIỀU GÌ KHIẾN NGÀI TRỞ THÀNH PHẬT?”
Câu trả lời gần trung tâm giáo pháp hơn:
Ngài biết Khổ đúng như thật.
Biết nguyên nhân của Khổ đúng như thật.
Biết sự chấm dứt Khổ đúng như thật.
Biết con đường dẫn tới chấm dứt Khổ đúng như thật.
Và:
Ngài đã hoàn thành điều cần làm đối với những chân lý ấy.
54. Người học Phật cần trí tuệ nào?
Ta có thể dành nhiều năm tranh luận:
Đức Phật có biết chính xác bao nhiêu ngôi sao hay không.
Nhưng câu hỏi ấy:
chưa chắc làm tham của ta giảm đi.
Trong khi:
“Tại sao khi bị chê tôi nổi sân?”
“Ái sinh từ thọ thế nào?”
“Tôi đang chấp điều gì?”
“Cái Tôi được dựng lên ở đâu?”
có thể:
đi thẳng vào vấn đề mà Đức Phật muốn giải quyết.
55. Đây không phải hạ thấp trí Phật
Ngược lại.
Nếu chỉ ca ngợi Đức Phật vì:
biết nhiều dữ kiện nhất vũ trụ,
ta có thể vô tình biến Ngài thành:
MỘT SIÊU BÁCH KHOA TOÀN THƯ.
Nhưng điểm đặc biệt của một Đức Phật là:
THẤY ĐƯỢC CƠ CHẾ CỦA KHỔ
VÀ CON ĐƯỜNG ĐƯA TỚI SỰ CHẤM DỨT KHỔ.
Đó là:
tri kiến có sức giải thoát.
56. Một người biết một triệu điều vẫn có thể khổ
Ta có thể:
biết lịch sử,
biết khoa học,
biết triết học,
biết kinh điển,
biết ngôn ngữ,
biết máy tính,
nhưng khi:
một người xúc phạm mình
thì:
sân bùng lên.
Khi mất thứ mình yêu:
chấp thủ kéo tâm đi.
Khi đối diện cái chết:
sợ hãi.
Kiến thức:
không tự động thành giải thoát.
57. Đây là khác biệt giữa “biết nhiều” và “thấy Pháp”
Biết nhiều:
tăng dữ liệu.
Thấy Pháp:
thay đổi cách tâm liên hệ với kinh nghiệm.
Biết:
“mọi thứ vô thường”
không bằng:
thấy vô thường đến mức bớt nắm giữ.
Biết:
“không có tự ngã thường hằng”
không bằng:
thấy quá trình dựng Tôi và của Tôi ngay khi nó đang xảy ra.
Biết:
“ái sinh khổ”
không bằng:
thấy thọ → ái → thủ ngay trong tâm mình.
58. Vì vậy giá trị lớn nhất của trí Phật không nằm ở việc thỏa mãn tò mò
Đức Phật không chỉ trả lời:
“Vũ trụ có bao nhiêu thứ?”
Ngài đặt một câu hỏi cấp thiết hơn:
“TẠI SAO CHÚNG SINH ĐANG KHỔ?”
Và tiếp:
“KHỔ CÓ THỂ CHẤM DỨT KHÔNG?”
Câu trả lời của con đường Phật giáo là:
CÓ.
Đó mới là:
ý nghĩa giải thoát của trí tuệ Phật.
59. Một bản đồ để tránh hai cực đoan
Cực đoan thứ nhất
“Phật biết đồng thời từng chi tiết của mọi thứ; bất cứ điều gì xảy ra Ngài đều đang theo dõi.”
→ Có nguy cơ biến Phật thành:
Thượng đế toàn tri theo một mô hình ngoại lai.
Cực đoan thứ hai
“Phật chỉ là một triết gia thông minh, không có bất kỳ tri kiến đặc biệt nào.”
→ Không phù hợp với:
cách kinh điển Phật giáo tự mô tả Đức Phật.
Cách đọc thận trọng
ĐỨC PHẬT ĐƯỢC KINH ĐIỂN MÔ TẢ
CÓ NHỮNG TRI KIẾN GIÁC NGỘ VÀ NĂNG LỰC ĐẶC BIỆT VƯỢT XA NGƯỜI THƯỜNG.
Nhưng:
KHÁI NIỆM “TOÀN TRI”
ĐÃ ĐƯỢC HỆ THỐNG HÓA VÀ GIẢI THÍCH KHÁC NHAU
TRONG CÁC GIAI ĐOẠN VÀ TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO.
60. Những điều nên giữ riêng
Đừng trộn:
KINH ĐIỂN SỚM
với:
CHÚ GIẢI THERAVĀDA.
Đừng trộn:
THERAVĀDA
với:
CÁC HỆ THỐNG NHẤT THIẾT TRÍ ĐẠI THỪA.
Đừng trộn:
TRÍ TUỆ PHẬT GIÁO
với:
KHÁI NIỆM THƯỢNG ĐẾ TOÀN TRI – TOÀN NĂNG.
Và đừng trộn:
TRÍ TUỆ GIẢI THOÁT
với:
BIẾT TẤT CẢ DỮ KIỆN THẾ GIAN.
Phân biệt được những tầng này:
rất nhiều mâu thuẫn giả sẽ tự biến mất.
Kết luận
Câu hỏi:
“ĐỨC PHẬT CÓ BIẾT MỌI THỨ KHÔNG?”
không thể trả lời chính xác chỉ bằng:
“Có.”
Cũng không nên trả lời đơn giản:
“Không.”
Bởi chữ:
“MỌI THỨ”
đang che giấu nhiều định nghĩa khác nhau.
Nếu nó có nghĩa:
mọi dữ kiện trong toàn vũ trụ luôn đồng thời hiện diện trong ý thức Đức Phật khi đi, đứng, ngủ và thức,
thì:
đây không phải cách diễn đạt nên gán đơn giản cho tầng kinh điển sớm.
MN 76 còn trực tiếp phê bình một kiểu tuyên bố tri kiến thường trực như vậy.
Nhưng kinh điển đồng thời mô tả Đức Phật với:
những tri kiến đặc biệt,
Mười lực,
Bốn vô sở úy,
tri kiến về nghiệp,
tâm,
các con đường,
tái sinh,
và trên hết là sự đoạn tận các lậu hoặc.
Theravāda hậu kỳ tiến thêm một bước:
khẳng định Nhất thiết trí
nhưng giải thích rằng:
TRI KIẾN ẤY KHÔNG PHẢI TẤT CẢ LUÔN HIỆN ĐỒNG THỜI.
Theo Milindapañha:
khi Đức Phật hướng tâm, Ngài có thể biết điều muốn biết.
Các truyền thống Đại thừa và Kim Cương thừa:
tiếp tục phát triển những học thuyết rộng hơn về trí Phật và Phật quả.
Vì vậy cách diễn đạt thận trọng nhất là:
ĐỨC PHẬT KHÔNG NÊN ĐƯỢC HIỂU ĐƠN GIẢN
NHƯ MỘT “SIÊU MÁY TÍNH”
ĐANG ĐỒNG THỜI XỬ LÝ MỌI DỮ KIỆN TRONG VŨ TRỤ.
Trí tuệ khiến Ngài trở thành Phật trước hết là:
TRÍ TUỆ GIẢI THOÁT.
Ngài biết:
KHỔ.
KHỔ SINH KHỞI THẾ NÀO.
KHỔ CHẤM DỨT THẾ NÀO.
VÀ CON ĐƯỜNG ĐƯA TỚI SỰ CHẤM DỨT ẤY.
Một người có thể:
biết hàng triệu điều về thế giới
mà:
vẫn không biết tại sao mình đang khổ.
Một Đức Phật:
thấy tận gốc vô minh, ái và chấp thủ
và:
không còn bị chúng trói buộc.
Vì vậy, nếu phải cô đọng giá trị của trí Phật vào một câu, có thể nói:
ĐIỀU VĨ ĐẠI NHẤT KHÔNG PHẢI
“PHẬT BIẾT BAO NHIÊU THỨ”,
mà là:
“PHẬT ĐÃ BIẾT ĐIỀU CẦN BIẾT
ĐỂ KHỔ CÓ THỂ CHẤM DỨT.”
Và đối với người học Phật, câu hỏi thực tế cuối cùng cũng quay trở lại chính mình:
TA CÓ THỂ BIẾT RẤT NHIỀU.
Nhưng:
CÁI BIẾT ẤY ĐÃ LÀM
THAM BỚT CHƯA?
SÂN BỚT CHƯA?
SI BỚT CHƯA?
CHẤP THỦ BỚT CHƯA?
Nếu chưa:
kiến thức vẫn còn phải đi thêm một đoạn rất dài
để trở thành: