Tham ≠ Nhu cầu
Báo lỗi nội dung
Tham ≠ Nhu cầu
Tham ≠ Nhu cầu – Không phải mọi mong muốn đều là tham ái
Một cách hiểu khá phổ biến về Phật giáo là:
“Muốn bất cứ thứ gì cũng là tham.”
Nếu vậy:
đói muốn ăn là tham.
khát muốn uống là tham.
bệnh muốn chữa là tham.
nghèo muốn cải thiện cuộc sống là tham.
muốn học là tham.
muốn tu là tham.
muốn giúp người khác cũng là tham.
Đi xa hơn nữa, người ta có thể kết luận:
MUỐN HẾT THAM
THÌ PHẢI HẾT MỌI NHU CẦU.
Nhưng đây không phải cách phân biệt đủ chính xác của Phật học.
Phật giáo không đồng nhất:
NHU CẦU
với:
THAM.
Cũng không đồng nhất:
MỌI MONG MUỐN
với:
ÁI.
Muốn hiểu rõ vấn đề cần phân biệt ít nhất:
NHU CẦU
CẢM THỌ
CHANDA – Ý MUỐN / DỤC
TAṆHĀ – ÁI
LOBHA – THAM
UPĀDĀNA – CHẤP THỦ.
1. Trước tiên: cơ thể có nhu cầu
Một cơ thể sống cần:
THỨC ĂN.
NƯỚC.
KHÔNG KHÍ.
NGỦ.
NƠI TRÚ.
BẢO VỆ KHỎI THỜI TIẾT.
CHĂM SÓC KHI BỆNH.
Những điều này tồn tại vì:
CƠ THỂ LÀ MỘT HỆ THỐNG HỮU VI.
Nó cần điều kiện để tồn tại.
Một vị A-la-hán:
vẫn phải ăn.
Vẫn:
uống nước.
Vẫn:
ngủ.
Có thể:
dùng thuốc khi bệnh.
Do đó:
CÓ NHU CẦU SINH HỌC
KHÔNG ĐỒNG NGHĨA
CÓ THAM.
Nếu hai thứ là một, một vị A-la-hán còn sống sẽ không thể hết tham.
2. Đức Phật và các vị xuất gia vẫn ăn
Đây là ví dụ rất đơn giản nhưng đủ để phá một hiểu lầm lớn.
Đời sống xuất gia có:
KHẤT THỰC.
Tại sao?
Bởi:
cơ thể cần dinh dưỡng.
Đức Phật không dạy:
“Muốn hết tham thì đừng ăn.”
Ngược lại, Ngài từ bỏ:
KHỔ HẠNH CỰC ĐOAN
và đi theo:
TRUNG ĐẠO.
Vấn đề không phải:
ĂN HAY KHÔNG ĂN.
Mà là:
TÂM QUAN HỆ VỚI VIỆC ĂN NHƯ THẾ NÀO.
3. Cùng ăn nhưng tâm có thể hoàn toàn khác
Trường hợp 1
Cơ thể:
đói.
Ta ăn:
vừa đủ.
Sau đó:
dừng.
Đây trước hết có thể chỉ là:
ĐÁP ỨNG NHU CẦU.
Trường hợp 2
Cơ thể:
đã đủ.
Nhưng món ăn ngon.
Tâm:
“THÊM NỮA.”
↓
“THÊM NỮA.”
↓
“TÔI PHẢI ĂN MÓN NÀY.”
Ở đây:
nhu cầu sinh học
đã có thể pha với:
THAM ÁI.
4. Vì vậy nhu cầu và tham có thể gặp nhau nhưng không đồng nhất
Đói:
KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ THAM.
Nhưng từ đó có thể sinh:
THAM ĂN.
Cần nơi ở:
KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ THAM.
Nhưng từ đó có thể phát triển:
CHẤP TÀI SẢN.
Cần tiền để sống:
KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ THAM.
Nhưng từ đó có thể phát triển:
THAM CỦA CẢI.
Cần được an toàn:
KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ THAM.
Nhưng nó có thể phát triển thành:
ÁM ẢNH KIỂM SOÁT.
Do đó:
NHU CẦU
CÓ THỂ TRỞ THÀNH ĐIỂM MÀ THAM BÁM VÀO,
nhưng:
NHU CẦU KHÔNG PHẢI CHÍNH THAM.
5. “Tham” trong Phật học là gì?
Một thuật ngữ quan trọng là:
LOBHA.
Thường dịch:
THAM.
Nó thuộc bộ ba:
THAM – SÂN – SI.
Pāli:
LOBHA – DOSA – MOHA.
Đây là:
BA GỐC BẤT THIỆN.
Tham ở đây không đơn giản là:
cơ thể cần một thứ gì.
Nó là:
TÂM BÁM LẤY,
MUỐN CHIẾM,
MUỐN GIỮ,
MUỐN THỎA MÃN CHÍNH MÌNH QUA ĐỐI TƯỢNG.
6. Một thuật ngữ khác là taṇhā
TAṆHĀ
thường dịch:
ÁI
hoặc:
THAM ÁI.
Trong Tứ Thánh Đế:
TAṆHĀ
được đặt ở vị trí đặc biệt quan trọng trong:
KHỔ TẬP.
Ba dạng nổi tiếng là:
KĀMA-TAṆHĀ
ái đối với dục lạc.
BHAVA-TAṆHĀ
ái đối với hữu / trở thành.
VIBHAVA-TAṆHĀ
ái đối với phi hữu / không trở thành.
Như vậy taṇhā:
rộng và tinh tế hơn chuyện đơn giản “muốn một món đồ.”
7. “Muốn không có” cũng có thể là ái
Đây là điểm rất thú vị.
Nếu tham chỉ là:
muốn có,
thì:
muốn tiêu diệt
sẽ không phải tham ái.
Nhưng Phật giáo còn nói đến:
VIBHAVA-TAṆHĀ.
Do đó tâm có thể:
MUỐN CÓ.
hoặc:
MUỐN TRỞ THÀNH.
hoặc:
MUỐN KHÔNG CÒN / MUỐN LOẠI BỎ.
Tất cả đều có thể trở thành:
TAṆHĀ.
Vì vậy vấn đề sâu hơn:
không phải chỉ là số lượng tài sản.
Mà là:
CƠ CHẾ KHÁT ÁI CỦA TÂM.
8. Một người có rất ít đồ vẫn có thể rất tham
Giả sử một người chỉ có:
một chiếc bát.
Nhưng nghĩ:
“ĐÂY LÀ BÁT CỦA TÔI!”
Ai chạm vào:
nổi giận.
Ai có bát đẹp hơn:
ganh tị.
Ngày nào cũng:
lo mất.
Người ấy:
ít tài sản.
Nhưng tâm:
CHẤP RẤT MẠNH.
Do đó:
ÍT SỞ HỮU
≠
ÍT THAM MỘT CÁCH TỰ ĐỘNG.
9. Ngược lại, có tài sản không tự động chứng minh tham
Một cư sĩ có thể:
có nhà;
có xe;
có tiền;
có doanh nghiệp.
Chỉ từ đó:
không thể kết luận mức độ tham trong tâm.
Câu hỏi Phật học sâu hơn là:
TÀI SẢN ĐƯỢC TẠO RA BẰNG CÁCH NÀO?
ĐƯỢC SỬ DỤNG THẾ NÀO?
TÂM BÁM VÀO NÓ ĐẾN ĐÂU?
CÓ SẴN SÀNG LÀM HẠI NGƯỜI KHÁC VÌ NÓ KHÔNG?
MẤT NÓ THÌ TOÀN BỘ BẢN NGÃ CÓ SỤP ĐỔ KHÔNG?
10. Đây là lý do đời sống cư sĩ vẫn có kinh tế
Kinh điển không giả định mọi cư sĩ phải:
bỏ hết tài sản.
Đời sống cư sĩ bao gồm:
lao động;
gia đình;
thu nhập;
sử dụng tài sản;
bố thí;
trách nhiệm xã hội.
Điều được đặt vào khuôn khổ đạo đức là:
CHÁNH MẠNG.
Tức:
cách kiếm sống cũng nằm trong con đường tu tập.
Nếu:
CÓ TIỀN = THAM,
thì:
CHÁNH MẠNG
sẽ gần như không có ý nghĩa đối với cư sĩ.
11. Nhưng đừng đi sang cực đoan ngược lại
Nói:
“CÓ TIỀN KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ THAM”
không có nghĩa:
cách kiếm tiền nào cũng được.
Nếu vì lợi nhuận mà:
lừa đảo;
bóc lột;
gây hại;
giết hại;
gian dối;
thì:
vấn đề đạo đức vẫn rất rõ.
Phật giáo không đo tham chỉ bằng:
SỐ TIỀN.
Nhưng cũng không tách:
TÂM
khỏi:
HÀNH VI.
12. Một thuật ngữ cực kỳ quan trọng: chanda
Đây là điểm giúp giải quyết câu hỏi:
“NẾU MỌI MONG MUỐN ĐỀU LÀ ÁI,
TẠI SAO NGƯỜI TA CÓ THỂ MUỐN TU?”
Pāli có từ:
CHANDA.
Tùy ngữ cảnh có thể mang nghĩa:
mong muốn;
ý muốn;
sự hứng thú;
ý hướng;
ý chí muốn làm.
Chanda:
KHÔNG TỰ ĐỘNG LÀ BẤT THIỆN.
Nó có thể tham gia:
TU TẬP.
13. Tứ Chánh Cần cho thấy điều đó
Trong Chánh tinh tấn, hành giả phải phát sinh ý muốn:
ngăn bất thiện chưa sinh;
đoạn bất thiện đã sinh;
làm sinh thiện chưa sinh;
duy trì và phát triển thiện đã sinh.
Nếu:
MỌI MUỐN ĐỀU LÀ THAM,
thì câu:
“MUỐN PHÁT TRIỂN THIỆN”
cũng phải là bất thiện.
Điều này:
không hợp lý.
Do đó cần phân biệt:
TAṆHĀ
với:
CHANDA.
14. Muốn giác ngộ có phải tham không?
Không thể trả lời đơn giản:
“CÓ.”
Một người có thể có:
THIỆN DỤC
hướng đến:
học pháp,
hành thiền,
giữ giới,
phát triển trí tuệ,
giải thoát.
Nếu tất cả những điều ấy bị gọi là:
THAM,
thì con đường tu tập tự mâu thuẫn.
Tuy nhiên:
mong muốn tu tập
cũng có thể bị bản ngã chiếm lấy.
15. “Tôi phải giác ngộ hơn người khác”
Ban đầu:
muốn tu.
Sau đó:
“TÔI PHẢI CHỨNG.”
↓
“TÔI PHẢI ĐẠT NHANH.”
↓
“TÔI PHẢI HƠN NGƯỜI KIA.”
↓
“TÔI LÀ NGƯỜI TU CAO.”
Ở đây:
một ý hướng thiện
đã bị:
THAM
và:
NGÃ MẠN
xâm nhập.
Do đó không chỉ hỏi:
“Tôi muốn gì?”
Mà phải hỏi:
“TÂM ĐANG MUỐN THEO CÁCH NÀO?”
16. Đây là phân biệt cực kỳ quan trọng
Chanda có thể nói:
“VIỆC NÀY ĐÁNG LÀM.”
Taṇhā thường có sắc thái:
“TÔI PHẢI CÓ CÁI NÀY ĐỂ THỎA MÃN.”
Hai thứ:
đôi khi xuất hiện gần nhau,
nhưng:
KHÔNG ĐỒNG NHẤT.
17. Ví dụ học tập
Một người học vì:
muốn hiểu.
muốn phát triển năng lực.
muốn làm việc tốt hơn.
Đó có thể là:
CHANDA.
Nhưng học cũng có thể trở thành:
“TÔI PHẢI GIỎI HƠN TẤT CẢ.”
“TÔI PHẢI ĐƯỢC CÔNG NHẬN.”
“NẾU KHÔNG ĐỨNG ĐẦU, TÔI VÔ GIÁ TRỊ.”
Cùng một hành vi:
HỌC.
Nhưng cấu trúc tâm:
khác hoàn toàn.
18. Ví dụ làm việc
Một người muốn:
làm tốt công việc.
Đó không tự động là:
THAM.
Có thể là:
trách nhiệm;
thiện chí;
chuyên nghiệp;
nuôi gia đình;
đóng góp xã hội.
Nhưng:
công việc
có thể trở thành nơi tham bám:
“TÔI PHẢI CÓ QUYỀN LỰC.”
“TÔI PHẢI CÓ NHIỀU HƠN.”
“KHÔNG BAO GIỜ ĐỦ.”
Đây mới là vùng cần quan sát.
19. “Không bao giờ đủ” là một dấu hiệu đáng chú ý
Nhu cầu thường có khả năng:
ĐƯỢC ĐÁP ỨNG TẠM THỜI.
Đói:
ăn đủ.
Khát:
uống đủ.
Mệt:
ngủ.
Nhưng tham thường có khuynh hướng:
KHÓ BIẾT ĐỦ.
Có một:
muốn hai.
Có hai:
muốn mười.
Có mười:
sợ mất.
Thấy người khác có hơn:
muốn vượt.
Do đó một dấu hiệu thực hành rất hữu ích là:
KHẢ NĂNG BIẾT ĐỦ.
20. Nhưng “biết đủ” không có nghĩa cấm phát triển
Một người đang:
nghèo.
Muốn:
có việc tốt hơn.
Không nên nói:
“PHẢI BIẾT ĐỦ, ĐỪNG THAM.”
Điều đó có thể biến giáo lý thành:
CÔNG CỤ DUY TRÌ KHÓ KHĂN.
Biết đủ không có nghĩa:
không được cải thiện điều kiện sống.
Nó có nghĩa:
KHÔNG ĐỂ VIỆC CẢI THIỆN TRỞ THÀNH MỘT CƠ CHẾ KHÁT KHÔNG ĐÁY.
21. Muốn thoát nghèo không tự động là tham
Nếu một người:
cần thức ăn;
cần nhà ở;
cần giáo dục;
cần chăm sóc y tế;
muốn gia đình sống an toàn hơn;
thì không thể chỉ vì:
họ muốn nhiều nguồn lực hơn
mà kết luận:
“HỌ THAM.”
Đó là một phán đoán:
quá đơn giản.
Phật học cần xét:
TÁC Ý.
PHƯƠNG PHÁP.
MỨC ĐỘ CHẤP THỦ.
HẬU QUẢ.
22. Muốn giàu thì sao?
Cũng không thể chỉ dùng một từ:
“THAM”
để giải quyết toàn bộ câu hỏi.
Cần hỏi:
Vì sao muốn giàu?
Kiếm bằng cách nào?
Dùng vào việc gì?
Có bao giờ đủ không?
Có làm hại người khác không?
Tài sản có trở thành bản sắc không?
Mất nó có khiến mọi giá trị sống sụp đổ không?
Những câu hỏi ấy:
gần với phân tích Phật học hơn.
23. Nhu cầu tình cảm cũng cần phân biệt
Con người có thể muốn:
được kết nối;
được lắng nghe;
có tình bạn;
có gia đình;
được yêu thương.
Không nên đơn giản hóa:
“MUỐN ĐƯỢC YÊU = THAM.”
Nhưng nhu cầu quan hệ có thể bị biến thành:
CHẤP ÁI.
24. Từ nhu cầu đến chiếm hữu
Ban đầu:
“Tôi muốn có một mối quan hệ.”
Sau đó:
“NGƯỜI NÀY PHẢI YÊU TÔI.”
↓
“HỌ PHẢI LÀM THEO Ý TÔI.”
↓
“HỌ KHÔNG ĐƯỢC RỜI ĐI.”
↓
“HỌ THUỘC VỀ TÔI.”
Ở đây:
NHU CẦU KẾT NỐI
đã chuyển thành:
ÁI + THỦ.
Đây chính là chỗ cần tuệ giác.
25. Xả không yêu cầu xóa nhu cầu
Ở bài trước ta đã thấy:
XẢ ≠ LẠNH LÙNG.
Tương tự:
HẾT THAM ≠ HẾT NHU CẦU SINH HỌC.
Một vị giải thoát vẫn:
ăn khi cần.
Nhưng không nhất thiết:
THAM ĂN.
Vẫn:
mặc y.
Nhưng không nhất thiết:
CHẤP Y.
Vẫn:
dùng thuốc.
Nhưng không nhất thiết:
BÁM VÀO THÂN NHƯ MỘT TỰ NGÃ BẤT TỬ.
Đây là khác biệt giữa:
SỬ DỤNG
và:
CHẤP THỦ.
26. Tứ vật dụng là ví dụ rất hay
Đời sống xuất gia truyền thống sử dụng:
Y PHỤC.
THỨC ĂN.
CHỖ Ở.
THUỐC MEN.
Điều này tự nó đã cho thấy:
PHẬT GIÁO KHÔNG PHỦ NHẬN NHU CẦU VẬT CHẤT.
Điều được huấn luyện là:
cách sử dụng chúng.
Không phải:
“TÔI KHÔNG ĐƯỢC CẦN GÌ.”
Mà:
“TÔI DÙNG ĐIỀU CẦN THIẾT MÀ KHÔNG BIẾN NÓ THÀNH ĐỐI TƯỢNG CHẤP THỦ.”
27. Quán thức ăn không phải ghét thức ăn
Trong đời sống tu tập, thức ăn có thể được quán như:
phương tiện duy trì thân,
không phải:
đối tượng để chạy theo khoái cảm vô hạn.
Nhưng điều đó không có nghĩa:
thức ăn phải dở.
Hay:
ăn ngon là phạm tội.
Trọng tâm:
MỐI QUAN HỆ CỦA TÂM.
28. Tham không nằm hoàn toàn trong đồ vật
Một chiếc điện thoại:
không chứa “tham” bên trong nó.
Tiền:
không phải bản thân tham.
Nhà:
không phải bản thân tham.
Thức ăn:
không phải bản thân tham.
Tham là:
MỘT PHẨM CHẤT BẤT THIỆN CỦA TÂM
liên hệ với đối tượng.
Do đó:
phá hủy đồ vật
không tự động:
phá hủy tham.
29. Có thể bỏ hết tài sản nhưng vẫn tham danh
Một người:
sống rất đơn giản.
Nhưng muốn:
“MỌI NGƯỜI PHẢI BIẾT TÔI SỐNG ĐƠN GIẢN.”
Thế là:
tham vật chất giảm,
nhưng:
THAM DANH
có thể xuất hiện.
30. Có thể bỏ danh nhưng tham cảnh giới thiền
Người tu không còn quan tâm:
tiền.
Nhưng nghĩ:
“TÔI PHẢI ĐẠT TRẠNG THÁI NÀY.”
Rồi bám:
hỷ.
lạc.
định.
trạng thái vô sắc.
Phật giáo vì vậy không chỉ xử lý:
THAM VẬT CHẤT.
Nó đi sâu đến:
CHẤP THỦ ĐỐI VỚI KINH NGHIỆM.
31. Ngay cả “muốn hết tham” cũng có thể bị tham chiếm
Đây là nghịch lý rất tinh tế.
Một người nói:
“TÔI PHẢI HẾT THAM NGAY.”
Thấy tham sinh:
ghét nó.
Thấy mình chưa tiến bộ:
bực.
Thấy người khác tu tốt:
ganh.
Như vậy:
HAM MUỐN TRỞ THÀNH “NGƯỜI KHÔNG THAM”
lại có thể được nuôi bằng:
ÁI + NGÃ MẠN.
Con đường vì vậy cần:
TRÍ TUỆ,
không chỉ:
Ý CHÍ CƯỠNG ÉP.
32. Duyên khởi giải thích tham ái ở đâu?
Một sơ đồ quan trọng:
XÚC
↓
THỌ
↓
ÁI
↓
THỦ
↓
HỮU.
Điểm cực kỳ quan trọng:
THỌ ≠ ÁI.
Có cảm giác dễ chịu:
chưa đồng nghĩa có tham.
Có cảm giác khó chịu:
chưa đồng nghĩa có sân.
Phản ứng:
còn phụ thuộc điều kiện.
33. Ví dụ ăn món ngon
Lưỡi:
tiếp xúc vị.
↓
LẠC THỌ.
Đến đây:
CHƯA NHẤT THIẾT LÀ THAM.
Sau đó:
“NGON.”
Vẫn chưa nhất thiết có vấn đề.
Nhưng:
“TÔI PHẢI CÓ THÊM.”
↓
“KHÔNG CÓ THÌ KHÓ CHỊU.”
↓
“AI LẤY PHẦN CỦA TÔI THÌ TÔI GIẬN.”
Ở đây:
ÁI
và:
THỦ
đã rõ hơn.
34. Vì vậy khoái cảm không hoàn toàn đồng nghĩa tham
Có:
LẠC THỌ
không tự động là:
LOBHA.
Nếu đồng nhất hai thứ:
một vị A-la-hán cảm nhận lạc thọ
sẽ phải:
có tham.
Nhưng kinh điển không trình bày như vậy.
Vấn đề là:
TÂM CÓ NẮM GIỮ LẠC THỌ KHÔNG.
35. Đây nối trực tiếp với bài “Vô thường ≠ Khổ”
Một lạc thọ:
VÔ THƯỜNG.
Nó có thể:
dễ chịu.
Nếu tâm biết:
“ĐANG CÓ LẠC.”
↓
“NÓ VÔ THƯỜNG.”
↓
không:
“NÓ PHẢI Ở LẠI.”
thì:
lạc thọ không bắt buộc trở thành chấp thủ.
Nhưng nếu:
“TÔI PHẢI GIỮ NÓ.”
thì:
THAM ÁI
đã có đất phát triển.
36. Tham cũng liên hệ với “của tôi”
Ở bài:
“KHÔNG PHẢI CỦA TÔI – KHÔNG PHẢI LÀ TÔI – KHÔNG PHẢI TỰ NGÃ CỦA TÔI,”
ta đã thấy ba tầng chấp.
Tham thường muốn:
CÓ.
Sau đó:
“CỦA TÔI.”
Rồi:
“NÓ LÀ MỘT PHẦN CON NGƯỜI TÔI.”
Ví dụ:
chiếc xe.
Ban đầu:
PHƯƠNG TIỆN ĐI LẠI.
Sau đó:
TÀI SẢN CỦA TÔI.
Sau nữa:
BIỂU TƯỢNG GIÁ TRỊ CỦA TÔI.
Khi ấy:
đồ vật
đã trở thành:
BẢN NGÃ.
37. Không phải mọi mục tiêu đều là tham
Muốn:
học ngoại ngữ.
Muốn:
tập thể dục.
Muốn:
xây nhà.
Muốn:
nuôi con tốt.
Muốn:
làm một dự án.
Muốn:
giúp cộng đồng.
Không thể chỉ nhìn chữ:
“MUỐN”
rồi kết luận:
“THAM.”
Cần nhìn:
ĐỘNG CƠ.
PHƯƠNG PHÁP.
CHẤP THỦ.
HẬU QUẢ.
38. Một bộ câu hỏi thực hành tốt hơn
Khi muốn điều gì, thay vì hỏi ngay:
“Muốn = tham phải không?”
hãy hỏi:
1. Điều này có thực sự cần thiết không?
2. Nó có lợi hay gây hại?
3. Tôi muốn nó vì mục đích gì?
4. Tôi có sẵn sàng làm điều bất thiện để có nó không?
5. Nếu không có nó, tâm phản ứng thế nào?
6. Có rồi, tôi có biết đủ không?
7. Tôi đang sử dụng nó hay đang dùng nó để xây dựng bản ngã?
Những câu hỏi này:
hữu ích hơn nhiều.
39. Một sơ đồ phân biệt
CƠ THỂ THIẾU THỨC ĂN
↓
ĐÓI
↓
MUỐN ĂN
không nhất thiết:
THAM.
Có thể:
ĂN VỪA ĐỦ
↓
DỪNG.
Nhưng cũng có thể:
LẠC THỌ
↓
MUỐN THÊM
↓
ÁI
↓
NẮM GIỮ
↓
THAM.
Do đó:
NHU CẦU
có thể trở thành:
BỐI CẢNH CHO THAM,
nhưng:
KHÔNG PHẢI BẢN THÂN THAM.
40. Phật giáo sớm nhìn vấn đề thế nào?
Trong kinh điển sớm:
TAṆHĀ
được xác định là một yếu tố trung tâm của:
KHỔ TẬP.
Nhưng con đường lại cần:
CHÁNH TINH TẤN.
Mà Chánh tinh tấn đòi hỏi:
ý hướng phát triển thiện và từ bỏ bất thiện.
Do đó kinh điển sớm không thể được giản lược thành:
“MỌI Ý MUỐN ĐỀU PHẢI BỊ DIỆT.”
Điều cần đoạn:
ÁI
THAM
CHẤP THỦ
và các gốc bất thiện.
41. Theravāda phân tích tinh tế hơn
Trong hệ thống Theravāda:
LOBHA
là một gốc bất thiện.
Trong khi:
CHANDA
không mặc nhiên là bất thiện.
Tùy tâm và đối tượng:
ý muốn có thể phục vụ thiện pháp.
Điều này đặc biệt quan trọng để hiểu:
TINH TẤN.
Nếu không có ý hướng:
hành giả thậm chí không bắt đầu tu tập.
42. Đại thừa cũng không dạy tiêu diệt mọi nguyện vọng
Nếu mọi mong muốn đều là tham:
BỒ-ĐỀ TÂM
sẽ trở thành một vấn đề.
Bởi Bồ-tát phát nguyện:
hướng đến giác ngộ
và:
lợi ích chúng sinh.
Đại thừa vì vậy cũng phải phân biệt:
NGUYỆN
với:
THAM ÁI CHẤP NGÃ.
Một đại nguyện có thể rất mạnh:
mà không cần đặt nền trên ích kỷ.
43. Bồ-tát nguyện cho thấy “muốn” không đồng nghĩa “tham”
Có thể có một ý hướng:
RẤT MẠNH
nhưng:
KHÔNG LẤY THỎA MÃN BẢN NGÃ LÀM TRUNG TÂM.
Đây là điểm quan trọng.
Phật giáo không nhằm biến con người thành:
KHÔNG CÓ Ý HƯỚNG.
Mà chuyển:
Ý HƯỚNG BỊ THAM – SÂN – SI ĐIỀU KHIỂN
thành:
Ý HƯỚNG ĐƯỢC TRÍ TUỆ VÀ TỪ BI HƯỚNG DẪN.
44. Kim Cương thừa cũng dựa trên động lực
Trong Kim Cương thừa:
động cơ Bồ-đề tâm
đóng vai trò nền tảng trong nhiều hệ thống thực hành.
Người tu:
phát nguyện,
tinh tấn,
thực hành phương tiện.
Do đó:
KHÔNG CÓ MONG MUỐN NÀO CẢ
không phải định nghĩa thích hợp của:
GIẢI THOÁT.
Điều phải chuyển hóa là:
CHẤP THỦ VÀ VÔ MINH.
45. Bảng đối chiếu
| Vấn đề | Phật giáo sớm | Theravāda | Đại thừa | Kim Cương thừa |
|---|---|---|---|---|
| Nhu cầu sinh học = tham | Không | Không | Không | Không |
| Mọi mong muốn = taṇhā | Không nên đồng nhất | Phân biệt rõ | Không | Không |
| Lobha là bất thiện | Có | Rất rõ | Tiếp nhận | Tiếp nhận |
| Taṇhā là nguồn gốc quan trọng của khổ | Có | Có | Có | Có |
| Chanda có thể phục vụ tu tập | Có | Phân tích rõ | Có dạng tương ứng | Có |
| Muốn tu = tham | Không tự động | Không | Không | Không |
| Có tài sản = tham | Không tự động | Không tự động | Không tự động | Không tự động |
| Bố thí/ly tham | Quan trọng | Quan trọng | Rất quan trọng | Rất quan trọng |
| Mục tiêu | Đoạn tham ái/chấp thủ | Niết-bàn | Giải thoát/Bồ-tát đạo/Phật quả | Phật quả |
46. Những điểm dễ hiểu lầm
“Đói muốn ăn là tham.”
KHÔNG NHẤT THIẾT.
Đó có thể đơn giản là:
NHU CẦU SINH HỌC.
“Muốn kiếm tiền là tham.”
KHÔNG THỂ KẾT LUẬN CHỈ TỪ ĐÓ.
Cần xét:
động cơ, phương pháp, mức độ chấp và hậu quả.
“Người giàu chắc chắn tham hơn người nghèo.”
KHÔNG THỂ SUY RA NHƯ VẬY.
Mức tài sản:
không đo trực tiếp mức tham trong tâm.
“Biết đủ nghĩa là không được phát triển.”
KHÔNG.
Có thể:
cải thiện đời sống
mà không:
rơi vào khát cầu không đáy.
“Muốn tu cũng là tham.”
KHÔNG NHẤT THIẾT.
Chanda có thể:
hướng đến thiện pháp.
“Muốn giác ngộ chắc chắn là tham.”
KHÔNG.
Nhưng:
mong muốn giác ngộ
có thể bị:
ngã mạn và tham ái chiếm lấy.
“Hết tham nghĩa là không còn ăn uống.”
KHÔNG.
A-la-hán còn sống:
vẫn có nhu cầu thân thể.
“Có lạc thọ nghĩa là có tham.”
KHÔNG.
LẠC THỌ ≠ LOBHA.
“Sống khổ hạnh càng cực đoan càng ít tham.”
KHÔNG.
Khổ hạnh có thể:
không giải quyết được chấp thủ
và thậm chí trở thành:
MỘT BẢN SẮC MỚI.
“Bỏ hết tài sản là hết tham.”
KHÔNG.
Tham có thể chuyển sang:
danh,
quan điểm,
thành tựu,
thiền,
bản sắc tâm linh.
47. Một phép thử rất thực tế
Giả sử bạn muốn:
MỘT CHIẾC XE.
Đừng vội kết luận:
“Tôi tham.”
Hãy hỏi:
Tôi cần nó để đi làm?
Để phục vụ gia đình?
Để thuận tiện?
Hay:
để người khác ngưỡng mộ?
Nếu không mua được:
tôi có nổi giận không?
Nếu người khác có xe tốt hơn:
tôi có ganh không?
Nếu xe bị xước:
tôi có cảm giác như chính mình bị xúc phạm không?
Nếu đủ dùng:
tôi vẫn luôn phải đổi cái đắt hơn?
Những câu hỏi ấy:
ĐI VÀO TÂM.
Đó mới là nơi:
THAM
được quan sát.
48. Nhu cầu có giới hạn, tham có thể không có đáy
Đây là một cách phân biệt sư phạm rất hữu ích.
Cơ thể cần:
một lượng thức ăn nhất định.
Nhưng tham có thể muốn:
MÓN NGON HƠN.
↓
NHIỀU HƠN.
↓
ĐẮT HƠN.
↓
HIẾM HƠN.
↓
NGƯỜI KHÁC KHÔNG CÓ.
↓
MÌNH PHẢI ĐƯỢC CÔNG NHẬN.
Lúc này:
câu chuyện đã rời xa nhu cầu dinh dưỡng.
Nó chuyển sang:
BẢN NGÃ.
49. Nhưng đừng biến “nhu cầu” thành cái cớ cho tham
Chiều ngược lại cũng phải cảnh giác.
Tâm rất giỏi nói:
“TÔI CẦN.”
Trong khi thực tế:
“TÔI MUỐN.”
Và sâu hơn:
“TÔI KHÔNG CHỊU ĐƯỢC NẾU KHÔNG CÓ.”
Vì vậy không phải cứ gọi một thứ là:
“NHU CẦU”
thì nó tự động:
không liên quan đến tham.
Cần:
QUAN SÁT TRUNG THỰC.
50. Một bản đồ tốt hơn
Thay vì:
MUỐN
=
THAM,
hãy dùng bản đồ:
NHU CẦU
↓
Ý MUỐN ĐÁP ỨNG
↓
có thể được hướng dẫn bởi:
TRÍ TUỆ.
Khi ấy:
DÙNG ĐỦ.
↓
BIẾT ĐỦ.
↓
KHÔNG CHẤP.
Nhưng cũng có thể:
LẠC THỌ
↓
TAṆHĀ
↓
“THÊM NỮA.”
↓
UPĀDĀNA
↓
“CỦA TÔI.”
↓
“TÔI PHẢI CÓ.”
↓
LOBHA / CHẤP THỦ
↓
DUKKHA.
Đây mới là cấu trúc cần quan sát.
51. Phật giáo không nhằm biến con người thành một khúc gỗ
Nếu giải thoát có nghĩa:
KHÔNG MUỐN GÌ.
KHÔNG QUAN TÂM GÌ.
KHÔNG LÀM GÌ.
thì:
Chánh tinh tấn,
từ bi,
bố thí,
tu tập,
Bồ-tát nguyện
sẽ trở nên khó hiểu.
Con đường Phật giáo không phải:
XÓA MỌI ĐỘNG LỰC.
Mà là:
THANH LỌC ĐỘNG LỰC.
52. Từ tham sang ý hướng thiện
Có thể hình dung quá trình chuyển hóa:
“TÔI MUỐN CÓ NHIỀU HƠN.”
↓
thấy:
THAM.
↓
phát triển:
BIẾT ĐỦ.
↓
BỐ THÍ.
↓
KHÔNG THAM.
Và:
“TÔI PHẢI HƠN NGƯỜI KHÁC.”
↓
thấy:
NGÃ MẠN.
↓
phát triển:
KHIÊM TỐN.
↓
HỶ.
Và:
“TÔI MUỐN TU ĐỂ TRỞ THÀNH NGƯỜI ĐẶC BIỆT.”
↓
thấy:
CHẤP NGÃ.
↓
chuyển thành:
“TÔI TU ĐỂ GIẢM THAM – SÂN – SI.”
Đây là:
CHUYỂN HÓA Ý HƯỚNG.
53. Bốn câu cần nhớ
CÓ NHU CẦU
KHÔNG ĐỒNG NGHĨA CÓ THAM.
CÓ MONG MUỐN
KHÔNG ĐỒNG NGHĨA CÓ THAM ÁI.
CÓ LẠC THỌ
KHÔNG ĐỒNG NGHĨA CÓ THAM.
Nhưng:
NHU CẦU, MONG MUỐN VÀ LẠC THỌ
ĐỀU CÓ THỂ TRỞ THÀNH NƠI THAM ÁI BÁM VÀO.
Đây là điểm cân bằng.
Kết luận
THAM ≠ NHU CẦU.
Một cơ thể:
cần ăn.
Không phải vì:
tham.
Nó:
cần ngủ.
Không phải vì:
tham.
Khi bệnh:
cần chữa.
Không phải vì:
tham.
Một cư sĩ:
cần sinh kế.
Không phải vì thế:
mặc nhiên tham.
Một người:
muốn học.
Không phải vì thế:
mặc nhiên tham.
Một hành giả:
muốn phát triển thiện pháp.
Không phải vì thế:
mặc nhiên tham.
Vấn đề Phật giáo nhắm đến không phải:
“LÀM SAO ĐỂ KHÔNG CÒN CẦN BẤT CỨ THỨ GÌ?”
Mà sâu hơn:
“KHI NHU CẦU VÀ MONG MUỐN XUẤT HIỆN,
TÂM CÓ BIẾN CHÚNG THÀNH ÁI VÀ CHẤP THỦ KHÔNG?”
Có thể:
CẦN
mà không:
THAM.
Có thể:
MUỐN LÀM ĐIỀU THIỆN
mà không:
THAM ÁI.
Có thể:
SỬ DỤNG
mà không:
CHIẾM HỮU BẰNG TÂM.
Có thể:
HƯỞNG LẠC THỌ
mà không:
ĐÒI NÓ PHẢI Ở LẠI.
Có thể:
CÓ TÀI SẢN
mà biết:
TÀI SẢN KHÔNG PHẢI “TÔI.”
Và cũng có thể:
KHÔNG CÓ GÌ
nhưng vẫn đầy:
THAM – SÂN – NGÃ MẠN.
Do đó thước đo của Phật pháp không đơn giản là:
“BẠN CÓ BAO NHIÊU?”
Mà phải nhìn sâu hơn:
“TÂM ĐANG NẮM GIỮ ĐẾN ĐÂU?”
Đây cũng là lý do:
TRI TÚC
không phải:
NGHÈO.
LY THAM
không phải:
KHÔNG CÓ NHU CẦU.
XẢ
không phải:
LẠNH LÙNG.
VÔ DỤC
không nhất thiết có nghĩa:
MẤT MỌI Ý HƯỚNG.
Con đường không biến con người từ:
“NGƯỜI CÓ HAM MUỐN”
thành:
“NGƯỜI KHÔNG CÒN MUỐN LÀM GÌ.”
Nó chuyển:
TAṆHĀ – KHÁT ÁI
↓
THỦ – NẮM GIỮ
↓
“CỦA TÔI”
sang:
CHANDA – Ý HƯỚNG THIỆN
↓
CHÁNH TINH TẤN
↓
BIẾT ĐỦ
↓
KHÔNG CHẤP
↓
LY THAM.
Vì vậy câu hỏi quan trọng không chỉ là:
“TÔI CÓ MUỐN KHÔNG?”
Mà là:
“CÁI MUỐN NÀY SINH TỪ ĐÂU?”
“NÓ ĐƯỢC THAM – SÂN – SI HAY TRÍ TUỆ DẪN DẮT?”
“NẾU KHÔNG ĐƯỢC NHƯ Ý, TÂM SẼ THẾ NÀO?”
“CÓ RỒI, TÔI CÓ BIẾT ĐỦ KHÔNG?”
“TÔI ĐANG DÙNG NÓ,
HAY ĐANG DÙNG NÓ ĐỂ XÂY DỰNG CÁI TÔI?”
Đó mới là nơi ranh giới giữa:
NHU CẦU
và:
THAM
thực sự trở nên rõ ràng.