Đức tin ≠ Tin mù quáng
Báo lỗi nội dung
Đức tin ≠ Tin mù quáng
Đức tin ≠ Tin mù quáng
Trả lời ngắn
Phật giáo:
KHÔNG PHỦ NHẬN ĐỨC TIN.
Nhưng:
ĐỨC TIN ≠ TIN MÙ QUÁNG.
Trong kinh điển Pāli, một từ quan trọng là:
SADDHĀ
thường được dịch:
tín,
lòng tin,
niềm tin,
tín tâm,
sự tin tưởng.
Saddhā có thể khiến một người:
đến gần bậc thầy,
lắng nghe giáo pháp,
phát tâm thực hành,
kiên trì trên con đường.
Nhưng Phật giáo không dừng lại ở:
“Tôi tin.”
Con đường còn đi tới:
nghe,
suy xét,
thực hành,
quan sát,
kiểm nghiệm,
trực tiếp thấy biết.
MN 95 đưa ra một nguyên tắc đặc biệt quan trọng:
một điều được tin tưởng mạnh mẽ vẫn có thể không đúng.
Vì vậy, khi mới chỉ có lòng tin, thái độ thận trọng là:
“Đây là điều tôi tin.”
chứ chưa phải:
“Tôi chưa trực tiếp biết nhưng chắc chắn chỉ điều này là chân lý.”
Có thể cô đọng:
ĐỨC TIN MỞ CỬA.
THỰC HÀNH BƯỚC VÀO.
TRÍ TUỆ THẤY.
1. Vì sao Phật giáo vẫn cần đức tin?
Có một cực đoan hiện đại thường nói:
“Phật giáo hoàn toàn không cần đức tin.”
Điều này:
không chính xác.
Một người chưa thực hành:
chưa thể trực tiếp chứng nghiệm mọi điều Đức Phật dạy.
Khi mới bắt đầu, họ có thể thấy:
giáo pháp hợp lý,
vị thầy đáng tin,
phương pháp đáng thử,
đời sống của những người thực hành có giá trị.
Từ đó sinh:
SỰ TIN TƯỞNG ĐỦ ĐỂ BẮT ĐẦU.
Đó là một chức năng quan trọng của:
saddhā.
Trong hệ thống Ngũ căn, tín thậm chí được đặt cùng:
tín,
tấn,
niệm,
định,
tuệ.
Kinh SN 48.9 định nghĩa tín căn bằng niềm tin nơi sự giác ngộ của Như Lai.
2. Nhưng “có đức tin” chưa có nghĩa “đã biết”
Đây là phân biệt cực kỳ quan trọng.
Ta có thể:
TIN
một điều.
Nhưng:
TIN ≠ BIẾT TRỰC TIẾP.
Ví dụ:
Một người nghe:
“Lửa nóng.”
Người ấy:
tin người nói.
Đây là:
TÍN.
Người ấy suy nghĩ:
lửa tạo nhiệt,
nhiều người xác nhận,
điều này hợp lý.
Đây là:
SUY XÉT.
Người ấy đưa tay đến gần:
cảm nhận nhiệt.
Đây là:
KINH NGHIỆM.
Ba tầng:
không hoàn toàn giống nhau.
3. MN 95 nói điều rất mạnh về đức tin
Trong Kinh Caṅkī – MN 95, Đức Phật nêu năm điều có thể khiến con người chấp nhận một quan điểm:
lòng tin,
sự ưa thích/chấp thuận,
truyền thống truyền lại,
suy luận,
chấp nhận một quan điểm sau khi cân nhắc.
Nhưng Ngài chỉ ra:
điều được tin chắc vẫn có thể sai;
và điều:
chưa được người ấy tin
vẫn có thể đúng.
Thậm chí:
suy luận và cân nhắc
cũng chưa tự động bảo đảm chân lý.
Vì vậy người muốn:
HỘ TRÌ CHÂN LÝ
không nên chỉ vì:
“Tôi tin điều này”
mà tuyên bố:
“Chỉ điều này đúng, tất cả những điều khác đều sai.”
4. Đây là thái độ nhận thức rất quan trọng
Có thể nói:
“Tôi tin điều này.”
Có thể nói:
“Theo truyền thống của tôi, điều này được dạy như vậy.”
Có thể nói:
“Theo sự suy xét hiện tại của tôi, điều này hợp lý.”
Nhưng nếu chưa trực tiếp biết:
cần phân biệt rõ mức độ chắc chắn.
Đó không phải:
yếu đức tin.
Đó là:
TRUNG THỰC VỚI NHỮNG GÌ MÌNH THỰC SỰ BIẾT.
5. Tin mù quáng bắt đầu khi nào?
Không phải cứ:
tin
là:
mù quáng.
Tin mù quáng xuất hiện khi người ta:
tin mà không cho phép kiểm tra,
tin bất chấp bằng chứng ngược lại,
xem nghi vấn là tội lỗi,
không phân biệt điều mình tin với điều mình biết,
giao toàn bộ quyền phán đoán cho người khác,
nghĩ rằng người mình tin không thể sai,
dùng đức tin để phủ nhận sự thật đang hiện diện.
Có thể cô đọng:
ĐỨC TIN NÓI:
“Điều này đáng để tôi bước tới và tìm hiểu.”
TIN MÙ QUÁNG NÓI:
“Tôi không cần tìm hiểu nữa.”
6. MN 95 không dừng ở đức tin
Điểm đặc biệt hay của MN 95 là:
Đức Phật không loại bỏ đức tin.
Ngược lại, kinh mô tả một tiến trình:
TÍN
↓
ĐẾN GẦN
↓
THÂN CẬN
↓
LẮNG NGHE
↓
HỌC PHÁP
↓
GHI NHỚ
↓
TÌM HIỂU Ý NGHĨA
↓
CHẤP NHẬN SAU KHI SUY XÉT
↓
PHÁT KHỞI Ý MUỐN
↓
NỖ LỰC
↓
CÂN NHẮC
↓
TINH CẦN
↓
TRỰC TIẾP THẤY CHÂN LÝ BẰNG TRÍ TUỆ.
Đức tin:
ở đầu tiến trình.
Nó không phải:
điểm cuối.
7. Vì vậy Phật giáo không đối lập Đức tin với Trí tuệ
Một cách hiểu sai khác là:
“Hoặc tin, hoặc dùng trí tuệ.”
Nhưng trong Phật giáo:
TÍN
và:
TUỆ
có thể:
hỗ trợ nhau.
Tín giúp:
bắt đầu.
Tuệ giúp:
kiểm chứng và thấy rõ.
Khi kinh nghiệm thực hành tăng:
đức tin có thể trở nên vững hơn vì có cơ sở.
Do đó:
TÍN KHÔNG NHẤT THIẾT LÀ KẺ THÙ CỦA TUỆ.
Điều nguy hiểm là:
TÍN KHÔNG CHỊU ĐỂ TUỆ SOI SÁNG.
8. Đức tin có thể giống một giả thuyết thực hành
Giả sử một người nghe:
“Tham ái góp phần tạo Khổ.”
Người ấy chưa:
chứng Thánh quả.
Nhưng thấy:
lời dạy có vẻ hợp lý.
Thay vì:
tin tuyệt đối
hoặc:
bác bỏ ngay,
người ấy thử:
quan sát chính mình.
Khi muốn một thứ:
tâm thế nào?
Khi không được:
chuyện gì xảy ra?
Khi đạt được:
thỏa mãn kéo dài bao lâu?
Khi sợ mất:
tâm thế nào?
Từ:
TIN TẠM THỜI
đi tới:
QUAN SÁT
rồi:
THẤY.
Đó là một cách hiểu rất hữu ích về vai trò của đức tin trong thực hành.
9. Đức tin vào Đức Phật cũng không chỉ là tin một nhân vật
Một Phật tử có thể có lòng tin rằng Đức Phật là:
bậc Chánh Đẳng Giác.
Nhưng ý nghĩa thực hành của niềm tin ấy còn là:
tin rằng giác ngộ có thể xảy ra,
tham, sân, si có thể được đoạn trừ,
con đường tu tập đáng để thực hiện.
Do đó đức tin có thể tạo:
NĂNG LƯỢNG.
Một người nghĩ:
“Không thể thay đổi đâu.”
sẽ ít thực hành.
Một người tin:
“Tâm có thể được huấn luyện.”
sẽ có lý do để:
bắt đầu.
10. Đức tin vào Pháp là gì?
Không nhất thiết là:
tin mọi câu mình nghe gắn nhãn “Phật pháp”.
Mà trước hết có thể là sự tin tưởng rằng:
con đường này đáng thực hành,
thiện pháp đáng phát triển,
bất thiện đáng đoạn trừ,
tham sân si có thể suy giảm,
trí tuệ có thể được phát triển.
Sau đó:
chính việc thực hành phải ngày càng làm rõ điều ấy.
11. Đức tin vào Tăng cũng không phải thần tượng hóa cá nhân
Quy y Tăng:
không có nghĩa mọi người mặc áo tu đều hoàn hảo.
Càng không có nghĩa:
một vị thầy không bao giờ có thể sai.
Nếu đồng nhất:
TĂNG BẢO
với:
MỘT CÁ NHÂN KHÔNG THỂ BỊ CHẤT VẤN,
thì rất dễ chuyển:
tín
thành:
sùng bái cá nhân.
12. Đức Phật còn dạy khảo sát người thầy
MN 95 không chỉ nói:
hãy tin vị thầy.
Trước khi đặt lòng tin, kinh mô tả việc người học:
quan sát vị ấy về những trạng thái liên quan đến tham, sân và si;
xem liệu người ấy có thể:
tuyên bố biết khi không biết,
tuyên bố thấy khi không thấy,
hoặc hướng người khác tới điều gây hại
hay không.
Chỉ sau quá trình khảo sát ấy:
lòng tin mới sinh khởi.
Điều này rất đáng chú ý:
KHẢO SÁT
KHÔNG PHẢI KẺ THÙ CỦA ĐỨC TIN.
Nó có thể là:
NỀN TẢNG CỦA ĐỨC TIN CÓ CĂN CỨ.
13. Vì vậy “Thầy nói thì phải tin” không phải nguyên tắc đủ
Một vị thầy có thể:
có kiến thức lớn,
nói rất hay,
có nhiều đệ tử,
có danh tiếng,
có chức vị,
được xem là linh thiêng.
Nhưng những điều ấy:
không tự động chứng minh mọi lời vị ấy nói đều đúng.
Cần xem:
lời dạy có phù hợp Pháp không?
hành vi có phù hợp giới không?
có tham quyền lực, tiền bạc, tình dục, danh vọng không?
người học có được phép tìm hiểu không?
nghi vấn chân thành có bị đàn áp không?
14. “Không được nghi Thầy” là một dấu hiệu cần thận trọng
Nếu một hệ thống nói:
“Hỏi là bất kính.”
“Nghi ngờ là nghiệp xấu.”
“Thầy không bao giờ sai.”
“Chỉ cần nghe lời.”
thì cần:
hết sức thận trọng.
Bởi trong chính kinh điển:
việc khảo sát người dạy
không bị loại bỏ.
Một người có trí:
không cần biến mình thành người mất khả năng phán đoán.
15. Nhưng điều này cũng không có nghĩa phải nghi ngờ tất cả
Đây là cực đoan ngược lại.
Nếu nghĩ:
“Tôi chỉ tin thứ gì chính tôi đã chứng minh hoàn toàn.”
thì gần như:
không thể học bất kỳ điều gì.
Ta vẫn phải:
dựa vào bác sĩ,
giáo viên,
sách,
chuyên gia,
kinh nghiệm của người đi trước.
Vấn đề không phải:
KHÔNG BAO GIỜ TIN.
Mà là:
BIẾT MÌNH ĐANG TIN Ở MỨC NÀO
VÀ VÌ SAO.
16. Nghi cũng không phải lúc nào là trí tuệ
Một người có thể nghĩ:
“Tôi nghi tất cả nên tôi rất lý trí.”
Nhưng nghi ngờ có thể xuất phát từ:
sợ hãi,
thành kiến,
sân,
kiêu mạn,
thiếu hiểu biết.
Trong Phật giáo:
vicikicchā – nghi
còn được liệt vào:
năm triền cái
và:
một trong các kiết sử.
Vì vậy:
TIN MÙ QUÁNG KHÔNG PHẢI TRÍ TUỆ.
Nhưng:
NGHI MÙ QUÁNG CŨNG KHÔNG PHẢI TRÍ TUỆ.
17. Đoạn nghi không có nghĩa mất quyền đặt câu hỏi
Đây là điểm rất dễ hiểu sai.
Khi nói một vị Nhập lưu:
đã đoạn nghi,
không có nghĩa từ đó vị ấy:
không được đặt câu hỏi,
biết mọi thứ,
không bao giờ nói “tôi chưa biết,”
phải tin mọi lời của người có thẩm quyền.
Nghi được đoạn ở đây liên quan đến:
sự bất định căn bản về con đường đã được trực tiếp thấy.
Có thể ghi nhớ:
ĐOẠN NGHI
≠
CẤM NGHI VẤN.
18. Có một khác biệt giữa “tôi chưa biết” và “điều này sai”
Giả sử một người chưa trực tiếp biết:
tái sinh.
Một thái độ là:
“Tôi chưa trực tiếp biết điều này.”
Một thái độ khác:
“Vì tôi chưa biết nên chắc chắn điều đó sai.”
Hai câu:
không giống nhau.
Tương tự, một người có đức tin có thể nói:
“Tôi tin điều này dựa trên giáo pháp và truyền thống.”
Nhưng nếu chưa trực tiếp thấy, cần thận trọng trước khi nói:
“Tôi biết trực tiếp điều này.”
Đây chính là:
TRUNG THỰC NHẬN THỨC.
19. Đức tin không biến một mệnh đề thành sự thật
Một tỷ người:
tin một điều
không tự động làm:
điều ấy đúng.
Một người:
tin cực mạnh
cũng không làm:
điều ấy đúng hơn.
Một truyền thống:
tồn tại hàng nghìn năm
cũng không chỉ vì tuổi đời mà:
mọi diễn giải của nó đều đúng.
MN 95 đặc biệt mạnh ở điểm này:
lòng tin, truyền thống truyền lại và cả suy luận đều chưa phải căn cứ đủ để tuyên bố tuyệt đối rằng chỉ quan điểm của mình là chân lý.
20. Nhưng “phải tự kiểm chứng” cũng thường bị hiểu sai
Một câu phổ biến là:
“Đừng tin gì cả; hãy tự kiểm chứng mọi thứ.”
Nếu hiểu tuyệt đối:
cũng có vấn đề.
Ta không thể trong một đời:
tự kiểm chứng toàn bộ lịch sử,
tự thực hiện mọi thí nghiệm khoa học,
tự đọc mọi ngôn ngữ cổ,
tự chứng minh mọi dữ kiện.
Con người luôn phải sử dụng:
nguồn tin,
chuyên gia,
truyền thống,
suy luận,
kinh nghiệm người khác.
Trí tuệ nằm ở:
BIẾT ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TIN CẬY.
21. “Kinh Kālāma” cũng không dạy “đừng tin gì hết”
Kinh Kālāma thường bị tóm tắt thành:
“Đức Phật bảo đừng tin bất cứ điều gì.”
Đó là cách diễn đạt quá cực đoan.
Tinh thần của bài kinh là:
không chỉ dựa vào truyền khẩu,
truyền thống,
lời đồn,
bộ sưu tập kinh điển,
suy luận thuần túy,
vẻ hợp lý,
uy tín của người thầy
để vội kết luận.
Nhưng bài kinh không kết thúc bằng:
“Vì vậy chẳng biết được gì.”
Nó hướng người nghe tới việc xem:
những pháp nào bất thiện,
đáng chê trách,
bị người trí quở trách,
khi thực hành dẫn tới tổn hại và khổ;
và ngược lại:
những pháp nào thiện và dẫn tới lợi ích, an lạc.
Vì vậy:
KĀLĀMA KHÔNG DẠY CHỦ NGHĨA HOÀI NGHI CỰC ĐOAN.
22. Cũng không nên biến Kālāma thành “chỉ tin kinh nghiệm cá nhân”
Bởi kinh nghiệm cá nhân:
cũng có thể sai.
Ta có thể:
nhớ sai,
nhìn nhầm,
bị thành kiến,
bị cảm xúc chi phối,
hiểu sai trải nghiệm thiền,
suy diễn quá mức.
Ví dụ:
thấy ánh sáng trong thiền
không tự động chứng minh:
mình đã giác ngộ.
Do đó:
“TÔI ĐÃ TRẢI NGHIỆM”
cũng chưa phải:
BẢO CHỨNG TUYỆT ĐỐI CỦA CHÂN LÝ.
23. Trải nghiệm cần được giải thích bằng trí tuệ
Hai người có thể:
trải nghiệm cùng một hiện tượng
nhưng giải thích:
hoàn toàn khác.
Một người nói:
“Đây là linh hồn.”
Người khác:
“Đây là trạng thái định.”
Người khác nữa:
“Đây là hoạt động thần kinh.”
Do đó cần phân biệt:
TRẢI NGHIỆM
với:
CÁCH GIẢI THÍCH TRẢI NGHIỆM.
Thấy một phần:
chưa chắc đã thấy toàn thể.
24. Đức tin có căn cứ phát triển như thế nào?
Có thể hình dung:
Giai đoạn 1 – Nghe
“Có một con đường chấm dứt Khổ.”
Giai đoạn 2 – Tin tưởng sơ bộ
“Điều này đáng để thử.”
Giai đoạn 3 – Tìm hiểu
“Con đường ấy thực sự dạy gì?”
Giai đoạn 4 – Suy xét
“Có nhất quán không?”
Giai đoạn 5 – Thực hành
“Tôi thử áp dụng.”
Giai đoạn 6 – Quan sát kết quả
“Tham, sân, si có giảm không?”
Giai đoạn 7 – Trực tiếp thấy
một số điều trước đây chỉ tin nay trở thành kinh nghiệm.
Như vậy:
ĐỨC TIN CÓ THỂ ĐƯỢC CHUYỂN HÓA
THÀNH SỰ XÁC TÍN CÓ CƠ SỞ.
25. Đức tin và kinh nghiệm có thể tạo vòng tròn tích cực
Ban đầu:
TÍN
↓
dẫn tới:
THỰC HÀNH.
Thực hành:
↓
tạo:
KINH NGHIỆM.
Kinh nghiệm phù hợp:
↓
làm:
TÍN VỮNG HƠN.
Tín vững hơn:
↓
tăng:
TINH TẤN.
Tinh tấn:
↓
làm thực hành:
SÂU HƠN.
Đây là một vòng phát triển lành mạnh.
26. Nhưng cũng có vòng tròn nguy hiểm
Tin mù quáng:
↓
chỉ đọc thứ:
xác nhận niềm tin.
↓
bỏ qua:
bằng chứng ngược lại.
↓
xem người nghi vấn là:
kẻ thù.
↓
càng sống trong:
môi trường đồng thuận.
↓
càng nghĩ:
“Mọi người đều xác nhận tôi đúng.”
↓
niềm tin:
càng cực đoan.
Đó không phải:
TÍN ĐƯỢC TUỆ SOI SÁNG.
Đó là:
NIỀM TIN TỰ BẢO VỆ KHỎI MỌI KIỂM TRA.
27. Dấu hiệu của đức tin trưởng thành
Đức tin trưởng thành có thể nói:
“Tôi tin, nhưng tôi vẫn học.”
“Tôi kính trọng, nhưng tôi vẫn quan sát.”
“Tôi chưa hiểu nên tôi hỏi.”
“Tôi có thể đã hiểu sai.”
“Nếu bằng chứng cho thấy cách hiểu của tôi sai, tôi sẵn sàng sửa.”
“Tôi phân biệt giáo pháp với sự hoàn hảo của một cá nhân.”
Đức tin như vậy:
KHÔNG SỢ TRÍ TUỆ.
28. Đức tin mù quáng lại sợ câu hỏi
Nó thường nói:
“Đừng hỏi.”
“Cứ tin đi.”
“Người trước nói vậy rồi.”
“Thầy nói vậy rồi.”
“Kinh ghi vậy nên không cần hiểu.”
“Nghi ngờ chứng minh tâm anh bất thiện.”
Khi một niềm tin:
chỉ tồn tại được nếu không ai được phép kiểm tra nó,
đó là:
một dấu hiệu cần thận trọng.
29. Nhưng câu hỏi cũng phải chân thành
Không phải cứ:
chất vấn
là:
trí tuệ.
Có người hỏi để:
học.
Có người hỏi để:
tìm lỗi.
Có người hỏi để:
thắng tranh luận.
Có người hỏi để:
bảo vệ cái Tôi.
Có người hỏi vì:
thật sự chưa hiểu.
Do đó:
CHẤT VẤN CŨNG CẦN CHÁNH KIẾN VÀ THIỆN Ý.
30. Đức tin không thay thế việc học kinh
Một người nói:
“Tôi tin Phật nên không cần học.”
Kết quả:
rất dễ tin bất cứ điều gì được gắn nhãn Phật giáo.
Ví dụ:
phong tục địa phương,
tín ngưỡng dân gian,
lời truyền miệng,
quan điểm của một vị thầy,
nội dung mạng xã hội
có thể bị hiểu thành:
“Đức Phật dạy.”
Học kinh giúp phân biệt:
KINH ĐIỂN NÓI GÌ
với:
NGƯỜI SAU NÓI GÌ.
31. Nhưng học kinh cũng không thay thế thực hành
Cực đoan ngược lại là:
thuộc rất nhiều kinh,
biết Pāli,
biết Sanskrit,
biết lịch sử,
tranh luận rất giỏi,
nhưng:
tham vẫn mạnh,
sân vẫn mạnh,
ngã mạn vẫn mạnh.
Kiến thức:
cực kỳ hữu ích.
Nhưng:
BIẾT VỀ CON ĐƯỜNG
≠
ĐÃ ĐI CON ĐƯỜNG.
32. Một người có thể tin đúng nhưng vẫn chưa chứng
Ví dụ:
một người tin đúng rằng mọi hành hữu vi vô thường.
Niềm tin ấy:
có thể hoàn toàn phù hợp giáo pháp.
Nhưng:
TIN VÔ THƯỜNG
≠
TRỰC TIẾP THẤY VÔ THƯỜNG.
Tương tự:
TIN VÔ NGÃ
≠
THẤY VÔ NGÃ.
TIN NIẾT-BÀN
≠
CHỨNG NIẾT-BÀN.
Đây là phân biệt rất quan trọng.
33. Vì vậy không nên dùng đức tin để tự nhận Thánh quả
Một người có thể tin:
“Tôi đã hiểu Vô ngã.”
Hoặc:
“Tôi chắc mình Nhập lưu.”
Nhưng sự xác tín chủ quan:
không tự động là bằng chứng.
Trạng thái cảm xúc mạnh,
trải nghiệm thiền,
cảm giác “mọi thứ rất rõ”
cũng không đủ để:
tự phong Thánh quả.
Phật giáo đòi hỏi:
sự thận trọng rất lớn với chấp thủ vào thành tựu.
34. Tín cũng cần cân bằng với Tuệ
Trong hệ thống:
Ngũ căn – Ngũ lực,
ta có:
Tín
Tấn
Niệm
Định
Tuệ
Điều đáng chú ý:
TÍN
không đứng một mình.
Nó được đặt cùng:
TUỆ.
Nếu chỉ có tín mà thiếu tuệ:
dễ thành mê tín.
Nếu chỉ có phân tích mà không có đủ niềm tin để thực hành:
có thể mãi đứng ngoài con đường.
Một sự cân bằng cần thiết là:
ĐỦ TIN ĐỂ THỬ.
ĐỦ TUỆ ĐỂ KHÔNG MÙ QUÁNG.
35. Đức tin không đồng nghĩa mê tín
Mê tín thường gắn với:
quan hệ nhân quả tưởng tượng,
nghi thức máy móc,
sợ hãi,
cầu may,
quyền lực siêu nhiên được hiểu thiếu căn cứ.
Ví dụ:
“Nếu không làm nghi thức này, Phật sẽ phạt.”
Đây không phải hệ quả tất yếu của:
saddhā.
Đức tin Phật giáo có thể hướng tới:
Buddha,
Dhamma,
Saṅgha,
nhưng vẫn đi cùng:
nghiệp,
nhân quả,
thực hành,
trí tuệ.
36. Cầu nguyện không tự động là tin mù quáng
Một người:
lễ Phật,
tụng kinh,
niệm Phật,
phát nguyện,
cầu nguyện
không vì thế mà:
mù quáng.
Cần xem:
họ hiểu việc mình làm thế nào.
Nếu nghĩ:
“Tôi không cần sống thiện; chỉ cần cầu là Phật xóa mọi hậu quả,”
đó là một vấn đề.
Nhưng nếu việc lễ niệm giúp:
phát tín tâm,
nhớ Phật,
hướng thiện,
phát nguyện,
nuôi từ bi,
nhiếp tâm,
thì:
cấu trúc hoàn toàn khác.
37. Theravāda không phải “không có đức tin”
Đôi khi Theravāda được mô tả:
“chỉ có lý trí và thiền, không có tín.”
Không chính xác.
Saddhā:
là khái niệm quan trọng trong truyền thống Pāli.
Quy y:
Phật – Pháp – Tăng,
niệm Phật,
bố thí,
cúng dường,
lễ kính,
tạo phước
đều có vị trí trong đời sống Theravāda.
Nhưng tín được đặt trong:
toàn bộ tiến trình Giới – Định – Tuệ.
38. Đại thừa cũng không đơn giản là “tin nhiều hơn”
Đại thừa phát triển mạnh:
tín tâm,
nguyện,
Bồ-đề tâm,
sự kính ngưỡng chư Phật và Bồ-tát.
Nhưng đồng thời:
prajñā – Bát-nhã
là một trụ cột lớn.
Do đó không nên tạo đối lập:
Theravāda = lý trí,
Đại thừa = đức tin.
Cả hai:
phức tạp hơn rất nhiều.
39. Tịnh Độ đặc biệt dễ bị hiểu sai ở đây
Niệm Phật A-di-đà và tín nguyện:
là trung tâm trong nhiều truyền thống Tịnh Độ.
Nếu nhìn từ bên ngoài có thể nói:
“Chỉ cần tin.”
Nhưng các hệ thống Tịnh Độ khác nhau có:
cách giải thích khác nhau về tín,
nguyện,
hành,
bổn nguyện,
tha lực,
công đức,
niệm Phật.
Không nên giản lược toàn bộ Tịnh Độ thành:
tin mù quáng để được thưởng.
40. Kim Cương thừa và lòng tin nơi vị thầy
Kim Cương thừa đặc biệt nhấn mạnh:
guru,
sự truyền thừa,
quán đảnh,
samaya,
lòng kính tín.
Điều này khiến chủ đề:
TÍN ≠ MÙ QUÁNG
càng quan trọng.
Kính thầy:
không nên bị biến thành giấy phép cho việc lạm dụng.
Trong nhiều cách trình bày truyền thống, người học được khuyên:
khảo sát vị thầy trước khi thiết lập quan hệ sâu.
Một khi bước vào các cam kết đặc thù:
cần hiểu rõ mình đang cam kết điều gì.
41. “Thầy là Phật” không nên trở thành công cụ xóa đạo đức
Nếu một người dùng giáo lý để nói:
“Vì thầy là Phật nên bất cứ hành động nào của thầy cũng đúng,”
rồi:
phủ nhận hành vi gây hại,
ngăn nạn nhân lên tiếng,
cấm kiểm tra,
thì:
cần đặc biệt thận trọng.
Không nên sử dụng:
ngôn ngữ tín tâm
để:
HỦY BỎ GIỚI, NHÂN QUẢ VÀ TRÁCH NHIỆM.
42. Đức tin càng lớn càng cần trách nhiệm
Một vị thầy được:
nhiều người tin tưởng
thì ảnh hưởng:
càng lớn.
Ảnh hưởng càng lớn:
trách nhiệm càng lớn.
Không thể suy:
“Vì mọi người tin tôi nên tôi đúng.”
Số người tin:
không phải tiêu chuẩn chân lý.
43. Đức tin có thể bị cái Tôi chiếm dụng
Ta thường nghĩ:
đức tin làm giảm ngã.
Nhưng cái Tôi có thể nói:
“Tôn giáo của Tôi đúng.”
“Thầy của Tôi cao nhất.”
“Truyền thống của Tôi nguyên thủy nhất.”
“Pháp môn của Tôi thù thắng nhất.”
“Tôi là người có tín tâm hơn anh.”
Khi đó:
ĐỨC TIN
đã trở thành:
NGUYÊN LIỆU CHO NGÃ MẠN.
44. Tín tâm chân thành không cần khinh người khác
Một người có thể:
hết lòng thực hành truyền thống của mình
mà không cần:
bôi nhọ truyền thống khác.
Có thể nói:
“Đây là con đường tôi tin và thực hành.”
mà không cần nói:
“Vì vậy tất cả những người khác đều ngu hoặc xấu.”
Đây rất gần với tinh thần:
hộ trì chân lý
trong MN 95.
45. Tín không có nghĩa mọi truyền thống đều đúng như nhau
Nhưng cũng cần tránh cực đoan ngược.
Tôn trọng:
sự khác biệt
không có nghĩa:
mọi mệnh đề đều đúng.
Hai quan điểm mâu thuẫn:
không tự động cùng đúng chỉ vì chúng đều là niềm tin tôn giáo.
Ta vẫn có thể:
khảo sát kinh điển,
lịch sử,
lập luận,
bằng chứng,
kết quả thực hành.
Không giáo điều:
≠
không có tiêu chuẩn chân lý.
46. Có thể phân biệt bốn tầng
1. Tôi nghe
“Kinh nói như vậy.”
Đây là:
THÔNG TIN.
2. Tôi tin
“Tôi tin lời dạy này.”
Đây là:
TÍN.
3. Tôi hiểu
“Tôi thấy cấu trúc và ý nghĩa của nó.”
Đây là:
HIỂU.
4. Tôi thấy
“Điều này đã trở thành trực nghiệm sâu sắc.”
Đây là:
CHỨNG NGHIỆM.
Đừng:
nhảy từ tầng 2 sang tầng 4 chỉ bằng lời tuyên bố.
47. Một bảng phân biệt
| Đức tin có trí tuệ | Tin mù quáng |
|---|---|
| “Điều này đáng để tìm hiểu” | “Không được tìm hiểu nữa” |
| Có thể đặt câu hỏi | Sợ câu hỏi |
| Biết mình đang tin | Tưởng niềm tin chính là tri kiến |
| Khảo sát người thầy | Thần tượng hóa người thầy |
| Học giáo pháp | Chỉ nghe truyền miệng |
| Suy xét | Cấm suy xét |
| Thực hành | Chỉ tuyên bố niềm tin |
| Quan sát kết quả | Bỏ qua kết quả trái kỳ vọng |
| Có thể sửa cách hiểu | Không bao giờ cho phép mình sai |
| Tín hỗ trợ Tuệ | Tín thay thế Tuệ |
| Tôn kính nhưng vẫn có trách nhiệm | Phục tùng tuyệt đối |
| Biết giới hạn hiểu biết | Tuyên bố chắc chắn điều chưa biết |
| Hướng tới giảm tham, sân, si | Có thể nuôi sợ hãi, phe phái và ngã mạn |
48. Một tiêu chuẩn thực hành rất quan trọng
Hãy hỏi:
Niềm tin này đang làm gì với tâm tôi?
Nó khiến:
tham giảm hay tăng?
sân giảm hay tăng?
si giảm hay tăng?
khiêm tốn hơn hay ngã mạn hơn?
từ bi hơn hay thù ghét hơn?
có trách nhiệm hơn hay mê tín hơn?
muốn thực hành hơn hay chỉ muốn bảo vệ danh tính?
Đây chưa phải:
tiêu chuẩn duy nhất để xác định mọi chân lý lịch sử hay siêu hình.
Nhưng là:
một tiêu chuẩn rất quan trọng đối với con đường tu tập.
49. Đức tin đúng hướng dẫn tới thực hành
Nếu một người nói:
“Tôi tin sâu sắc vào nghiệp.”
nhưng:
vẫn cố ý gây hại,
thì cần hỏi:
niềm tin ấy đã đi vào đời sống chưa?
Nếu nói:
“Tôi tin Vô thường.”
nhưng:
đòi mọi thứ phải mãi như ý,
thì:
Vô thường vẫn chủ yếu nằm ở khái niệm.
Nếu nói:
“Tôi tin Vô ngã.”
nhưng:
bất kỳ ai phản bác cũng nổi giận vì danh dự của Tôi,
thì:
vẫn còn rất nhiều điều để quan sát.
50. Trí tuệ không tiêu diệt đức tin – nó thanh lọc đức tin
Ban đầu:
“Tôi tin vì người khác nói.”
Sau đó:
“Tôi hiểu tại sao lời dạy này hợp lý.”
Sâu hơn:
“Tôi đã quan sát được một phần trong chính kinh nghiệm.”
Sâu hơn nữa:
“Điều trước đây tôi chỉ tin nay đã trở thành điều được thấy.”
Như vậy:
TÍN
không nhất thiết bị:
vứt bỏ.
Nó được:
LÀM CHÍN BỞI TUỆ.
51. Từ “tin Đức Phật” đến “đi con đường Đức Phật chỉ”
Một người đứng trước biển báo:
“Đường này tới thành phố.”
Có ba khả năng:
Không tin
không đi.
Tin biển báo
đứng đó ca ngợi biển báo.
Tin đủ để đi
bắt đầu bước.
Phật pháp:
không chỉ yêu cầu người học đứng trước tấm biển và nói:
“Tôi tin!”
Mục đích của tấm biển là:
CHỈ ĐƯỜNG.
52. Đức Phật không thể thực hành thay chúng ta
Ta có thể:
kính Phật,
lễ Phật,
niệm Phật,
cúng dường,
đọc kinh.
Nhưng:
tham trong tâm mình
vẫn phải:
được nhận diện.
Sân trong tâm mình:
phải được nhận diện.
Si:
phải được thấy.
Giới:
phải được sống.
Định:
phải được phát triển.
Tuệ:
phải được phát triển.
Vì vậy:
ĐỨC TIN KHÔNG THAY THẾ CON ĐƯỜNG.
Nó có thể:
GIÚP TA BƯỚC VÀO CON ĐƯỜNG.
53. Một câu rất quan trọng từ MN 95
Tinh thần của bài kinh có thể diễn đạt:
“ĐÂY LÀ ĐIỀU TÔI TIN”
là:
trung thực.
Nhưng từ đó nhảy sang:
“CHỈ ĐÂY LÀ SỰ THẬT
VÀ TẤT CẢ NHỮNG GÌ KHÁC ĐỀU SAI”
khi chưa thực sự biết:
là đi quá xa điều mình có cơ sở để khẳng định.
Đây là một nguyên tắc cực kỳ có giá trị:
không chỉ trong tôn giáo,
mà cả:
triết học,
khoa học,
đời sống,
tranh luận.
54. Người có đức tin trưởng thành có thể nói “Tôi không biết”
Ba chữ:
“TÔI KHÔNG BIẾT”
không phải:
thất bại của đức tin.
Nhiều khi đó là:
SỰ TRUNG THỰC CỦA TRÍ TUỆ.
Có thể đồng thời nói:
“Tôi chưa biết trực tiếp.”
và:
“Nhưng tôi có lý do để tin và tiếp tục thực hành.”
Hai câu ấy:
hoàn toàn có thể cùng tồn tại.
55. Không cần lựa chọn giữa hai cực đoan
Cực đoan 1
“KHÔNG ĐƯỢC NGHI.”
Dễ dẫn tới:
giáo điều,
mê tín,
sùng bái cá nhân.
Cực đoan 2
“KHÔNG ĐƯỢC TIN BẤT CỨ THỨ GÌ.”
Dễ dẫn tới:
hoài nghi bất tận,
không thực hành,
không học được từ người khác.
Trung đạo thực tế hơn:
CÓ THỂ TIN.
CÓ THỂ HỎI.
CÓ THỂ HỌC.
CÓ THỂ KIỂM TRA.
CÓ THỂ THỰC HÀNH.
CÓ THỂ SỬA SAI.
56. Đức tin và “thấy Pháp”
Trước khi thấy:
ta có thể cần tín.
Khi bắt đầu thực hành:
tín hỗ trợ tinh tấn.
Nhưng mục tiêu của con đường không phải:
mãi mãi chỉ tin rằng Pháp đúng.
Mà là:
THẤY PHÁP.
Giống như:
nghe người khác mô tả vị của một quả.
Ta có thể:
tin họ.
Nhưng khi tự nếm:
một phần niềm tin được thay bằng kinh nghiệm.
57. Tuy nhiên “thấy” cũng cần tránh ngã mạn
Một người có trải nghiệm thiền mạnh có thể nghĩ:
“Bây giờ tôi không cần kinh, không cần thầy, không cần kiểm tra nữa.”
Đây lại là:
một cực đoan khác.
Trải nghiệm:
cần được hiểu đúng.
Vì vậy:
kinh điển,
thiện hữu,
giáo thọ,
suy xét,
thực hành
vẫn có thể giúp:
kiểm tra cách diễn giải trải nghiệm.
58. Công thức cần nhớ
ĐỨC TIN
≠
TIN MÙ QUÁNG.
ĐỨC TIN
≠
CHÂN LÝ ĐÃ ĐƯỢC CHỨNG.
ĐẶT CÂU HỎI
≠
MẤT ĐỨC TIN.
ĐOẠN NGHI
≠
KHÔNG ĐƯỢC NGHI VẤN.
KÍNH THẦY
≠
THẦY KHÔNG THỂ SAI.
TRUYỀN THỐNG
≠
BẢO CHỨNG TUYỆT ĐỐI.
SUY LUẬN
≠
CHỨNG NGỘ.
TRẢI NGHIỆM
≠
GIẢI THÍCH TRẢI NGHIỆM LUÔN ĐÚNG.
TÍN
CẦN ĐI CÙNG
TUỆ.
59. Một lộ trình rất đẹp của đức tin
Có thể cô đọng con đường:
NGHE
↓
TIN ĐỦ ĐỂ TÌM HIỂU
↓
TÌM HIỂU
↓
SUY XÉT
↓
THỰC HÀNH
↓
QUAN SÁT
↓
KIỂM NGHIỆM
↓
THẤY
↓
TÍN CÓ CƠ SỞ SÂU HƠN
↓
TIẾP TỤC TU TẬP
↓
TRÍ TUỆ.
Không phải:
NGHE
↓
TIN
↓
CẤM HỎI
↓
KẾT THÚC.
60. Kết luận
Phật giáo:
không xây con đường trên sự hoài nghi tuyệt đối.
Nhưng cũng:
không yêu cầu con người giao nộp khả năng suy xét của mình.
Đức tin có một chức năng rất quan trọng:
GIÚP TA BƯỚC ĐI
TRƯỚC KHI TA ĐÃ THẤY TOÀN BỘ CON ĐƯỜNG.
Ta tin:
Đức Phật đáng để lắng nghe.
Ta tin:
Pháp đáng để thực hành.
Ta tin:
tham, sân, si có thể được chuyển hóa.
Ta tin:
giải thoát là điều đáng hướng tới.
Nhưng niềm tin ấy:
không nên trở thành lý do để từ bỏ trí tuệ.
Ngược lại:
ĐỨC TIN ĐÚNG HƯỚNG
ĐƯA TA TỚI HỌC HỎI.
Học hỏi đưa tới:
SUY XÉT.
Suy xét đưa tới:
THỰC HÀNH.
Thực hành đưa tới:
KINH NGHIỆM.
Và kinh nghiệm được soi sáng đúng:
có thể đưa tới:
TRÍ TUỆ.
MN 95 cho một nguyên tắc đặc biệt quý giá:
khi mới có lòng tin, hãy trung thực rằng đó là điều mình tin; đừng vì thế mà vội tuyên bố mình đã nắm độc quyền chân lý. Đồng thời, kinh không bảo dừng ở hoài nghi: nó mô tả cả một tiến trình từ tín, đến gần, lắng nghe, tìm hiểu, suy xét, nỗ lực và cuối cùng trực tiếp thấy bằng trí tuệ.
Vì vậy:
TIN MÙ QUÁNG NÓI:
“TÔI TIN,
NÊN TÔI KHÔNG CẦN BIẾT.”
HOÀI NGHI CỰC ĐOAN NÓI:
“TÔI CHƯA BIẾT,
NÊN TÔI KHÔNG TIN VÀ CŨNG KHÔNG THỬ.”
Nhưng đức tin đi cùng trí tuệ có thể nói:
“TÔI CHƯA THẤY HẾT.
TÔI CÓ CƠ SỞ ĐỂ TIN.
VÌ VẬY TÔI SẼ HỌC,
SUY XÉT,
THỰC HÀNH
VÀ TIẾP TỤC KIỂM NGHIỆM.”
Đó là điểm khác biệt căn bản giữa:
ĐỨC TIN
và:
TIN MÙ QUÁNG.
Đức tin trưởng thành:
KHÔNG SỢ CÂU HỎI.
KHÔNG SỢ KIỂM NGHIỆM.
KHÔNG SỢ THỪA NHẬN “TÔI CHƯA BIẾT”.
Bởi mục tiêu cuối cùng của con đường không phải:
TIN THẬT MẠNH RẰNG MÌNH ĐÃ THẤY,
mà là: