Biết Vô ngã và chứng nghiệm Vô ngã khác nhau thế nào?
Báo lỗi nội dung
Biết Vô ngã và chứng nghiệm Vô ngã khác nhau thế nào?
Biết Vô ngã và chứng nghiệm Vô ngã khác nhau thế nào?
Một người học Phật có thể giải thích rất chính xác:
anattā – vô ngã
không có nghĩa:
“con người hoàn toàn không tồn tại.”
Người ấy biết:
năm uẩn vô thường,
các pháp do duyên sinh,
không có một tự ngã thường hằng, độc lập và hoàn toàn làm chủ thân tâm.
Người ấy thậm chí có thể giảng:
“Sắc không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi.”
Nhưng khi cơ thể già đi:
không chấp nhận nổi.
Khi quan điểm bị phản bác:
cảm thấy chính mình bị xúc phạm.
Khi mất địa vị:
đau đớn như mất một phần bản thân.
Khi được khen:
muốn giữ hình ảnh ấy.
Điều gì đang xảy ra?
Rất đơn giản:
biết giáo lý Vô ngã bằng khái niệm và trực tiếp thấy Vô ngã trong kinh nghiệm không hoàn toàn giống nhau.
“Biết Vô ngã” có nhiều mức
Trước hết không nên xem thường:
hiểu biết khái niệm.
Một người hiểu đúng Vô ngã đã tránh được nhiều ngộ nhận như:
Vô ngã = không có gì tồn tại.
Vô ngã = chết là hết.
Vô ngã = không cần chịu trách nhiệm.
Vô ngã = con người chỉ là ảo giác nên thiện ác không quan trọng.
Vô ngã = phải làm cho đầu óc mất hoàn toàn cảm giác về bản thân.
Hiểu đúng những điều này:
rất quan trọng.
Nhưng đó vẫn chưa nhất thiết là:
trực chứng.
Biết “lửa nóng” và chạm gần ngọn lửa
Một đứa trẻ được dạy:
“Lửa nóng.”
Nó có kiến thức đúng.
Nhưng khi thật sự đưa tay gần lửa:
“nóng” không còn chỉ là một khái niệm.
Tương tự:
“Năm uẩn không phải tự ngã”
có thể là kiến thức.
Nhưng khi trực tiếp quan sát:
thân,
cảm thọ,
ý nghĩ,
ký ức,
ý muốn
đang sinh diệt mà không tìm thấy một chủ nhân bất biến đứng phía sau chúng, giáo lý bắt đầu mang một chiều sâu khác.
Biết bằng tư duy
Ta có thể lập luận:
thân thay đổi nên thân không thể là một tự ngã bất biến.
Cảm xúc thay đổi.
Suy nghĩ thay đổi.
Ký ức thay đổi.
Nhân cách cũng thay đổi.
Do đó:
không có một “Ta” bất biến trong những thứ ấy.
Đây là:
một lập luận có thể rất hữu ích.
Nhưng lập luận vẫn có thể tồn tại đồng thời với:
ngã chấp rất mạnh.
Một người có thể thắng cuộc tranh luận về Vô ngã bằng chính ngã mạn
Đây là một nghịch lý thú vị.
Hai người tranh luận:
“Vô ngã nghĩa là gì?”
Một người đưa:
Pāli,
Sanskrit,
Nikāya,
Abhidhamma,
Trung quán.
Cuối cùng chứng minh đối phương sai.
Rồi nghĩ:
“Tôi hiểu Vô ngã hơn anh.”
Về mặt học thuật:
có thể người ấy thực sự đúng.
Nhưng về mặt tu tập:
cái Tôi vừa tìm được một lãnh địa mới để sở hữu.
Cái tôi có thể sở hữu cả giáo lý Vô ngã
Nó nói:
“Kiến thức của tôi.”
“Truyền thống của tôi.”
“Cách hiểu của tôi.”
Và tinh tế hơn:
“Tuệ giác Vô ngã của tôi.”
Đây là lý do chỉ hiểu một mệnh đề:
“không có tự ngã thường hằng”
chưa tự động chấm dứt:
ngã chấp.
Vậy “chứng nghiệm Vô ngã” là gì?
Cần dùng từ này thận trọng.
Trong Phật giáo, không nên hiểu chứng nghiệm Vô ngã đơn giản là:
có một cảm giác đặc biệt rằng “tôi biến mất”.
Ý nghĩa sâu hơn là:
trực tiếp thấy những gì đang được chấp là Ta và của Ta không thích hợp để chấp như một tự ngã thường hằng.
Nó liên quan đến:
cái thấy,
không chỉ một cảm giác.
Ba câu rất quan trọng
Trong nhiều kinh sớm, việc quán các uẩn được diễn đạt bằng công thức:
“Cái này không phải của tôi.”
“Cái này không phải là tôi.”
“Cái này không phải tự ngã của tôi.”
Pāli:
N'etaṃ mama, n'eso'ham asmi, na me so attā.
Ba lớp này rất đáng chú ý.
“Không phải của tôi”
Đây là vấn đề:
chiếm hữu.
Thân này:
“của tôi.”
Quan điểm:
“của tôi.”
Danh tiếng:
“của tôi.”
Cảm xúc:
“của tôi.”
Ta không chỉ kinh nghiệm hiện tượng.
Ta:
sở hữu hóa nó.
“Không phải là tôi”
Đây là:
đồng nhất.
Không chỉ:
“Tôi có thân.”
Mà:
“Thân này là tôi.”
Không chỉ:
“Có suy nghĩ.”
Mà:
“Suy nghĩ này là tôi.”
Không chỉ:
“Có thất bại.”
Mà:
“Tôi là kẻ thất bại.”
Hiện tượng được biến thành:
danh tính.
“Không phải tự ngã của tôi”
Đây đi sâu hơn vào quan niệm:
có một thực thể bên trong,
thường hằng,
độc lập,
kiểm soát thân tâm.
Quán Vô ngã đặt câu hỏi:
Có thật một chủ thể như vậy trong các uẩn không?
Một con đường rất thực tế để thấy Vô ngã: quyền kiểm soát
Ta thường nghĩ:
“Đây là tâm tôi, nên tôi phải điều khiển được.”
Thử ra lệnh:
“Từ giờ đến tối không được có một ý nghĩ mình không muốn.”
Không được.
Ra lệnh:
“Từ nay chỉ cảm thấy vui.”
Không được.
Ra lệnh cho thân:
“Không được già.”
Không được.
Ra lệnh:
“Không bao giờ bệnh.”
Không được.
Điều này không có nghĩa:
ta hoàn toàn bất lực.
Ta có thể tác động rất nhiều đến thân tâm.
Nhưng:
tác động ≠ quyền làm chủ tuyệt đối.
Vô ngã không có nghĩa không có khả năng điều chỉnh
Đây là điểm phải giữ cân bằng.
Ta không kiểm soát tuyệt đối suy nghĩ.
Nhưng có thể:
rèn luyện chú ý.
Ta không kiểm soát tuyệt đối cảm xúc.
Nhưng có thể:
thay đổi cách phản ứng.
Ta không ngăn thân già.
Nhưng có thể:
chăm sóc thân.
Do đó Vô ngã không dẫn đến:
“không làm gì được.”
Nó chỉ phá ảo tưởng:
“Có một cái Ta toàn quyền đứng sau mọi tiến trình.”
Biết Vô ngã bằng khái niệm
Có thể hình dung:
“Tôi hiểu rằng thân tâm không có một tự ngã bất biến.”
Nhưng trong đời sống:
vẫn phản ứng như có.
Được khen:
“Họ công nhận tôi.”
Bị chê:
“Họ hạ thấp tôi.”
Mất tài sản:
“Tôi mất một phần của mình.”
Quan điểm bị bác:
“Tôi bị tấn công.”
Vô ngã lúc ấy vẫn chủ yếu nằm ở:
tầng lý thuyết.
Trực nghiệm bắt đầu ngay trong những việc nhỏ
Ví dụ đang ngồi thiền.
Một ý nghĩ xuất hiện:
“Tối nay ăn gì?”
Ta không chủ động gọi nó.
Nó:
xuất hiện.
Một lúc sau:
biến mất.
Ý nghĩ khác tới.
Ta bắt đầu trực tiếp thấy:
ý nghĩ không hoàn toàn tuân lệnh một chủ nhân.
Đây chưa phải lý do để tự tuyên bố:
“Tôi đã chứng Vô ngã.”
Nhưng nó là một cửa sổ thực hành rất quan trọng.
“Ta” thường xuất hiện sau hiện tượng
Một âm thanh xảy ra.
Rất nhanh:
“Tôi nghe.”
Một cảm giác đau xảy ra.
“Tôi đau.”
Một ý nghĩ xảy ra.
“Tôi nghĩ.”
Một cơn sân xảy ra.
“Tôi giận.”
Quán sát kỹ có thể cho thấy:
kinh nghiệm xảy ra,
rồi tâm rất nhanh:
sở hữu hóa kinh nghiệm.
Từ “có sân” thành “tôi đang sân”
Đây chính là bài Quán tâm.
Ban đầu:
sân sinh.
Ngay sau đó:
“Tôi giận.”
Rồi:
“Anh ta làm tôi giận.”
Rồi:
“Tôi phải đáp trả.”
Một trạng thái tâm đã trở thành:
câu chuyện về một cái Tôi bị xúc phạm.
Quán tâm giúp thấy tiến trình ấy.
Nhưng đừng biến “có sân” thành mẹo ngôn ngữ
Nói:
“Có sân.”
không tự động tạo tuệ Vô ngã.
Ta có thể lặp:
“Có sân, có sân, có sân…”
trong khi bên trong vẫn nghĩ:
“Tôi là người quan sát rất giỏi.”
Cái Tôi chỉ chuyển từ:
người sân
sang:
người quan sát sân.
“Người quan sát” có phải cái Ta thật?
Đây là một bẫy rất tinh tế.
Ta nhận ra:
thân không phải Ta.
Cảm xúc không phải Ta.
Suy nghĩ không phải Ta.
Rồi kết luận:
“Vậy cái đang quan sát tất cả chính là Ta thật.”
Nhưng Phật giáo có thể tiếp tục hỏi:
trạng thái biết ấy có thay đổi không?
mức độ tỉnh giác có thay đổi không?
có lúc rõ, lúc mờ không?
nó có phụ thuộc điều kiện không?
Nếu có:
tại sao phải lập tức biến nó thành một linh hồn thường hằng?
Chứng nghiệm Vô ngã không phải tìm một cái Ta tinh vi hơn
Đây là điều rất quan trọng.
Quá trình không phải:
thân không phải Ta,
cảm xúc không phải Ta,
ý nghĩ không phải Ta,
vậy cuối cùng phải có một “Ta thật” ẩn phía sau.
Ít nhất trong cách tiếp cận Vô ngã của Phật giáo sơ kỳ:
việc truy tìm một thực thể thường hằng để sở hữu năm uẩn chính là điều cần được khảo sát.
Mất cảm giác cái tôi có phải chứng Vô ngã?
Không nhất thiết.
Trong thiền, một người có thể trải nghiệm:
ranh giới cơ thể biến mất,
chủ thể–khách thể mờ đi,
không còn cảm giác “tôi” như bình thường.
Trải nghiệm ấy có thể:
rất mạnh,
rất sâu sắc.
Nhưng:
mất cảm giác bản ngã ≠ tự động đoạn trừ ngã chấp.
Tại sao?
Bởi sau trạng thái ấy:
cảm giác cái tôi có thể trở lại.
Và người ấy có thể nghĩ:
“Tôi đã có trải nghiệm vô ngã đặc biệt mà người khác chưa có.”
Một trải nghiệm:
không có “tôi”
lại trở thành:
thành tựu của “tôi”.
Đây là nghịch lý rất thật trong thực hành.
Trạng thái và tuệ giác khác nhau
Có thể phân biệt:
Trạng thái không có cảm giác bản ngã
Một kinh nghiệm nhất thời.
Tuệ giác Vô ngã
Thấy bản chất không đáng chấp làm tự ngã của các tiến trình thân tâm.
Hai điều:
có thể liên hệ,
nhưng không:
đồng nhất.
Chứng Vô ngã cũng không phải “không còn nhân cách”
Một người hiểu Vô ngã vẫn có thể:
nhớ tên mình,
đi làm,
nói “tôi”,
có sở thích,
lập kế hoạch,
chăm sóc gia đình.
Phật giáo không yêu cầu:
xóa toàn bộ chức năng của một con người quy ước.
Vấn đề là:
chấp một con người quy ước thành một tự ngã tuyệt đối.
Quy ước vẫn hoạt động
Ta vẫn nói:
“Tôi đã hứa.”
Và phải:
giữ lời.
Ta vẫn nói:
“Tôi làm sai.”
Và phải:
chịu trách nhiệm.
Vô ngã không biến:
người gây hành động
và:
người chịu hậu quả
thành vô nghĩa.
Nhân quả vẫn vận hành.
Vô ngã không xóa trách nhiệm
Một người nói:
“Không có tôi nên không ai tạo nghiệp.”
đang đi quá xa.
Phật giáo có thể phủ nhận:
một linh hồn bất biến,
nhưng vẫn thừa nhận:
hành động có hậu quả,
tác ý có hậu quả,
thói quen tạo điều kiện cho tương lai.
Có:
liên tục nhân quả
mà không cần:
một thực thể bất biến.
Ví dụ ngọn lửa
Một ngọn lửa cháy từ:
giây này sang giây khác.
Ngọn lửa sau:
không hoàn toàn giống ngọn lửa trước.
Nhưng cũng không:
hoàn toàn không liên quan.
Có:
liên tục nhân quả
mà không cần một vật thể bất biến đi xuyên qua mọi khoảnh khắc.
Những ẩn dụ như vậy giúp tiếp cận vấn đề:
liên tục mà không có tự ngã thường hằng.
Nhưng mọi ẩn dụ đều có giới hạn.
Chứng nghiệm Vô ngã không phải tự nhủ “không có tôi”
Nếu mỗi sáng lặp:
“Không có tôi, không có tôi…”
đó vẫn là:
một ý nghĩ.
Một ý nghĩ về Vô ngã:
vẫn là ý nghĩ.
Tuệ quán đi xa hơn:
quan sát trực tiếp cách “Ta” được dựng lên qua sở hữu, đồng nhất và chấp thủ.
“Ta” được dựng lên như thế nào?
Ví dụ:
cảm thọ dễ chịu.
Rồi:
“Tôi thích.”
Rồi:
“Tôi muốn.”
Rồi:
“Tôi phải có.”
Rồi:
“Đây là của tôi.”
Một cái “Ta” và “của Ta” ngày càng rõ.
Do đó Vô ngã không chỉ là:
triết học về một linh hồn.
Nó liên hệ trực tiếp với:
ái và thủ.
Tại sao thấy Vô ngã lại liên quan đến giảm khổ?
Bởi rất nhiều khổ không chỉ đến từ:
hiện tượng.
Mà từ:
sở hữu hóa hiện tượng.
Không chỉ:
thân già.
Mà:
“Thân của tôi không được phép già.”
Không chỉ:
quan điểm bị bác.
Mà:
“Họ đang phủ nhận tôi.”
Không chỉ:
mất tài sản.
Mà:
“Một phần con người tôi đã bị lấy mất.”
Ngã chấp làm tăng sức nặng của kinh nghiệm.
Nhưng Vô ngã không làm mất đau
Một người thấy Vô ngã không nhất thiết:
không còn cảm giác đau thân.
Nếu tay bị thương:
đau vẫn có thể xảy ra.
Điểm khác là:
tâm có tạo thêm bao nhiêu lớp “Tôi”, “của tôi”, “tại sao là tôi”, “đời tôi đã hỏng” lên trên cảm giác ấy.
Điều này gần với hình ảnh:
mũi tên thứ hai.
Biết Vô ngã khi mọi thứ thuận lợi rất dễ
Ngồi đọc sách:
“Không có gì là của tôi.”
Nghe rất hợp lý.
Nhưng:
mất tiền.
bị phản bội.
bị chê.
già đi.
bệnh.
người thân mất.
Lúc ấy:
mức độ chấp thủ thực sự mới lộ rõ.
Đời sống trở thành:
phòng thực hành Vô ngã.
Bị xúc phạm là một bài kiểm tra rất rõ
Ai đó nói:
“Bạn chẳng biết gì.”
Ngay lập tức:
nóng.
Tâm nghĩ:
“Họ coi thường tôi.”
Nếu quán kỹ:
âm thanh xảy ra,
ý nghĩa được nhận,
cảm thọ khó chịu sinh,
ký ức và hình ảnh bản thân được kích hoạt,
sân xuất hiện.
Rồi:
“Tôi bị xúc phạm.”
Quán Vô ngã không phủ nhận sự kiện người kia nói lời thiếu tôn trọng.
Nó quan sát:
cái “Tôi bị xúc phạm” được cấu thành như thế nào.
Đây không phải để biến thành người nhu nhược
Thấy Vô ngã không có nghĩa:
ai làm gì cũng mặc.
Ta vẫn có thể nói:
“Cách hành xử này không chấp nhận được.”
Vẫn có thể:
đặt ranh giới,
bảo vệ người yếu,
ngăn hành vi gây hại.
Khác biệt là:
hành động không nhất thiết phải được thúc đẩy bởi một cái Tôi đang cháy vì bị xúc phạm.
Biết Vô ngã và thấy Vô ngã
Có thể tóm tắt:
| Biết bằng khái niệm | Thấy trong thực hành |
|---|---|
| “Thân vô thường.” | Trực tiếp thấy thân thay đổi |
| “Cảm xúc không phải Ta.” | Sân sinh rồi diệt mà không cần biến thành danh tính |
| “Ý nghĩ do duyên.” | Thấy ý nghĩ tự xuất hiện và biến mất |
| “Không có chủ thể tuyệt đối.” | Thấy giới hạn của quyền kiểm soát |
| “Mọi pháp do duyên.” | Thấy trạng thái thay đổi khi duyên thay đổi |
| “Không nên chấp ngã.” | Sự sở hữu hóa thực sự yếu đi |
Hai cột không đối lập.
Cột đầu:
có thể dẫn đến cột sau.
Văn – Tư – Tu lại xuất hiện
Ta có thể đặt Vô ngã trong tiến trình:
Văn: học Đức Phật dạy gì về anattā.
Tư: suy xét tại sao năm uẩn không thích hợp để xem là tự ngã thường hằng.
Tu: trực tiếp quan sát thân–thọ–tâm–pháp.
Rồi:
cái hiểu không còn chỉ nằm trong ngôn ngữ.
Phật giáo sơ kỳ
Trong các kinh sớm, Vô ngã thường được trình bày qua việc khảo sát:
sắc,
thọ,
tưởng,
hành,
thức.
Chúng:
vô thường,
chịu biến đổi,
không hoàn toàn theo ý muốn.
Do đó không thích hợp để xem:
“Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi.”
Điểm đáng chú ý:
Vô ngã được dùng như một phương pháp tháo chấp, không chỉ như một câu hỏi siêu hình trừu tượng.
Theravāda
Theravāda đặt anattā cùng:
anicca – vô thường
và:
dukkha – khổ
trong ba đặc tướng.
Vipassanā hướng tới:
thấy trực tiếp những đặc tính ấy trong các pháp hữu vi.
Nhưng cần thận trọng với việc:
tự xác nhận chứng đắc.
Một kinh nghiệm mạnh về:
vô ngã
không tự động cho phép kết luận:
đã chứng Dự lưu hay A-la-hán.
Các Thánh quả được đặt trong một hệ thống rộng hơn về:
kiết sử và đoạn trừ phiền não.
Trung quán
Mahāyāna mở rộng phân tích từ:
nhân vô ngã
đến việc khảo sát:
pháp vô ngã/tính Không của các pháp
theo những hệ thống khác nhau.
Madhyamaka nhấn mạnh:
không chỉ con người,
mà mọi pháp đều:
không có svabhāva – tự tính độc lập.
Nhưng:
tính Không ≠ không tồn tại.
Các pháp tồn tại:
duyên khởi và quy ước.
Một nguy cơ khi học Trung quán
Ta có thể học:
“Không có tự tính.”
Rồi biến:
tính Không
thành một bản thể mới:
“Có một cái Không tuyệt đối đứng sau mọi thứ.”
Đó lại là:
tái vật thể hóa điều giáo lý đang muốn tháo gỡ.
Vì vậy hiểu Vô ngã/tính Không bằng khái niệm vẫn cần được soi xét rất kỹ.
Duy Thức
Yogācāra phân tích sâu:
cách nhận thức kiến tạo kinh nghiệm,
thức,
chủng tử,
chấp ngã.
Trong các hệ thống Duy Thức, đặc biệt có phân tích về:
mạt-na thức
và xu hướng chấp một nền tảng nhận thức thành:
“Ta”.
Điều này cho thấy ngã chấp không chỉ là một câu:
“Tôi tin có linh hồn.”
Nó có thể là:
một cơ chế bám chấp rất sâu của kinh nghiệm.
Thiền tông
Chan/Zen thường nói đến:
kiến tánh,
vô niệm,
vô trụ.
Nhưng không nên giản lược thành:
“có một khoảnh khắc không cảm thấy cái tôi = kiến tánh.”
Các truyền thống Thiền có những hệ thống giải thích và kiểm chứng riêng.
Và ngay khi có cái thấy sâu:
sự tu tập trong đời sống vẫn rất quan trọng.
Phật tính có mâu thuẫn Vô ngã không?
Đây là một vấn đề lớn trong Đại thừa.
Nếu hiểu:
Phật tính = một linh hồn vĩnh cửu nằm trong mỗi người,
thì sẽ xuất hiện căng thẳng trực tiếp với:
anātman.
Vì vậy nhiều truyền thống giải thích Phật tính qua:
tính Không,
khả năng giác ngộ,
pháp thân,
sự không cố định của phiền não
chứ không phải:
một ātman bí mật.
Các truyền thống không diễn đạt hoàn toàn giống nhau.
Vajrayāna
Trong Vajrayāna, đặc biệt một số truyền thống Mahāmudrā và Dzogchen, có ngôn ngữ về:
bản tính tâm,
sáng tỏ,
nhận biết.
Nhưng một sai lầm lớn là:
nghe “nhận biết” rồi biến nó thành một Người Quan Sát vĩnh cửu.
Các hệ thống này thường phải giữ:
sáng tỏ/nhận biết
cùng với:
tính Không
để tránh tái lập một tự ngã tinh vi.
Vô ngã không có nghĩa “Tôi không tồn tại”
Đây có lẽ là hiểu lầm phổ biến nhất.
Phật giáo vẫn có thể nói:
người này,
người kia,
sinh,
già,
nghiệp,
trách nhiệm,
tu tập.
Điều bị chất vấn là:
một tự ngã thường hằng, độc lập, bất biến và làm chủ tuyệt đối.
Vì vậy:
Vô ngã ≠ hư vô.
Vô ngã cũng không phải “tất cả chỉ là ảo giác”
Nếu bị xe đâm:
hậu quả không biến mất vì nói “Vô ngã”.
Nếu làm tổn thương người khác:
hậu quả không biến mất.
Nếu nuôi sân:
tâm bị điều kiện hóa theo sân.
Duyên khởi vẫn hoạt động.
Do đó:
Vô ngã và nhân quả phải được hiểu cùng nhau.
Làm sao chuyển từ biết sang thấy?
Không có một mẹo duy nhất.
Nhưng có thể đi theo những hướng rất căn bản:
Quan sát thân
Thân:
thay đổi,
già,
bệnh,
không hoàn toàn nghe lệnh.
Quan sát thọ
Dễ chịu:
đến rồi đi.
Khó chịu:
đến rồi đi.
Quan sát tâm
Tham:
có lúc có, lúc không.
Sân:
có lúc sinh, lúc diệt.
Quan sát ý nghĩ
Ý nghĩ:
xuất hiện trước khi ta kịp lựa chọn.
Rồi:
biến mất.
Sau đó quan sát động tác “của tôi”
Đây là bước đặc biệt hữu ích.
Một cảm giác xuất hiện.
Hãy xem:
lúc nào nó trở thành “cảm giác của tôi”?
Một ý kiến xuất hiện.
Khi nào nó thành:
“quan điểm của tôi”?
Một thành công xảy ra.
Khi nào nó thành:
“giá trị của tôi”?
Một lời chê xuất hiện.
Khi nào nó thành:
“họ đang tấn công tôi”?
Đây là nơi ngã chấp trở nên:
có thể quan sát được.
Rồi quan sát “tôi phải kiểm soát”
Khi tâm buồn:
“Tôi không được buồn.”
Khi có ý nghĩ xấu:
“Tại sao tôi lại nghĩ thế?”
Khi thiền tán loạn:
“Tôi phải làm tâm im ngay.”
Ngay ở đây có thể thấy:
hình ảnh về một chủ nhân toàn quyền
đang va chạm với:
thực tế duyên sinh của tâm.
Không cần cố tiêu diệt cái Tôi
Đây là điểm rất quan trọng.
Nếu nghĩ:
“Tôi phải giết cái tôi.”
thì ai đang cố giết?
Một cái Tôi mới có thể xuất hiện:
“Tôi là người đang tiêu diệt bản ngã.”
Phật giáo không nhất thiết cần một cuộc chiến:
cái Tôi chống cái Tôi.
Thực hành là:
thấy rõ cách chấp ngã vận hành.
Khi thấy rõ:
sự nắm giữ có thể tự yếu đi.
Vô ngã không phải một trạng thái phải duy trì
Nếu một buổi thiền có cảm giác:
“không có tôi”
rồi hôm sau cảm giác cái tôi trở lại, không cần hoảng:
“Tôi mất Vô ngã rồi.”
Vô ngã không phải:
một cảm giác cần giữ liên tục.
Nó là đặc tính được nhận ra trong:
các pháp đang được chấp thủ.
Một phép thử thực tế hơn
Thay vì hỏi:
“Tôi đã chứng Vô ngã chưa?”
hãy quan sát:
Khi bị chê, tôi có phải bảo vệ hình ảnh bản thân như trước không?
Khi sai, tôi có dễ nhận sai hơn không?
Khi mất, tôi có thấy sự nắm giữ rõ hơn không?
Khi sân sinh, tôi có lập tức biến nó thành “Tôi” không?
Khi có ý nghĩ, tôi có phải tin mọi ý nghĩ không?
Khi thành công, tôi có cần biến nó thành bằng chứng về giá trị của “Tôi” không?
Những câu hỏi này thực tế hơn rất nhiều.
Có một nghịch lý đẹp
Người mới học Vô ngã thường hỏi:
“Vậy rốt cuộc tôi là cái gì?”
Câu hỏi vẫn giả định:
phải tìm được một thứ nào đó cuối cùng để gọi là Tôi.
Phật giáo có thể chuyển câu hỏi:
“Tại sao phải có một thực thể bất biến đứng sau tiến trình này?”
Đây là thay đổi rất lớn.
Từ “Tôi là gì?” sang “Cái này sinh do đâu?”
Thay vì:
“Ai đang giận?”
có thể khảo sát:
sân sinh do điều kiện nào?
Thay vì:
“Con người thật của tôi là gì?”
có thể khảo sát:
cảm giác về Tôi được tạo bởi những điều kiện nào?
Từ:
bản thể
chuyển sang:
Duyên khởi.
Đây là một trong những bước tư duy quan trọng nhất của Phật giáo.
Biết Vô ngã và chứng nghiệm Vô ngã có thể tóm lại thế nào?
Biết Vô ngã:
hiểu rằng không nên xem thân tâm như một tự ngã thường hằng.
Quán Vô ngã:
trực tiếp khảo sát thân, thọ, tâm và các pháp để thấy chúng sinh diệt, do duyên và không hoàn toàn làm chủ được.
Tuệ giác Vô ngã:
cái thấy ấy bắt đầu thực sự tháo lỏng việc đồng nhất và sở hữu hóa.
Giải thoát:
không chỉ có một kinh nghiệm “không có tôi”, mà những cấu trúc chấp thủ liên hệ đến vô minh được đoạn trừ theo mức độ mà từng truyền thống mô tả.
Vì vậy đừng vội tự phong chứng ngộ
Một lần:
thân biến mất,
không có người quan sát,
chủ thể–khách thể tan,
tâm vô cùng rộng
có thể là một kinh nghiệm đáng chú ý.
Nhưng đừng lập tức:
“Tôi đã chứng Vô ngã.”
Hãy xem:
sau kinh nghiệm ấy, ai đang muốn sở hữu nó?
Nếu tâm nghĩ:
“Đây là trải nghiệm Vô ngã của tôi.”
thì chính điều ấy đã trở thành:
một bài quán tiếp theo.
Kết luận
Biết Vô ngã và chứng nghiệm Vô ngã khác nhau chủ yếu ở khoảng cách giữa khái niệm và cái thấy trực tiếp làm thay đổi chấp thủ.
Biết Vô ngã là có thể hiểu:
thân không phải một tự ngã bất biến,
cảm thọ không phải một tự ngã bất biến,
tưởng, hành, thức cũng vậy.
Điều đó:
cần thiết và có giá trị.
Nhưng ta vẫn có thể mang kiến thức ấy trong đầu trong khi mỗi ngày tiếp tục:
“thân của tôi,”
“quan điểm của tôi,”
“danh tiếng của tôi,”
“thành tựu của tôi,”
“người ta xúc phạm tôi.”
Tuệ quán đi sâu hơn.
Nó bắt đầu thấy ngay trong kinh nghiệm:
ý nghĩ tự sinh rồi diệt,
cảm thọ tự biến đổi,
thân không hoàn toàn nghe lệnh,
tâm lúc tham lúc không tham,
sân sinh do điều kiện rồi biến mất,
và cái gọi là “Tôi” liên tục được dựng lên qua đồng nhất, sở hữu và chấp thủ.
Nhưng ngay cả một khoảnh khắc:
“không còn cảm giác về tôi”
cũng chưa đủ để kết luận:
đã chứng ngộ Vô ngã.
Bởi một trạng thái đặc biệt:
có thể đến rồi đi.
Điều quan trọng hơn là:
cách chấp thủ đã thay đổi đến đâu.
Vì vậy có thể cô đọng:
Biết Vô ngã là hiểu rằng không có gì trong thân tâm đáng được chấp như một tự ngã thường hằng.
Thấy Vô ngã là trực tiếp nhận ra điều ấy ngay khi thân, cảm thọ, ý nghĩ và tâm đang vận hành.
Tuệ giác Vô ngã sâu hơn nữa khi cái thấy ấy thực sự làm suy yếu việc nắm giữ chúng thành “Ta” và “của Ta”.
Đây cũng là lý do Vô ngã không nhằm trả lời bằng một học thuyết mới rằng:
“Tôi thực sự là cái gì?”
Nó thay đổi chính cách đặt câu hỏi.
Thay vì mãi tìm:
“Cái Ta thật nằm ở đâu?”
ta bắt đầu nhìn:
“Cái gì đang sinh?”
“Nó sinh do duyên gì?”
“Nó có thay đổi không?”
“Nó có thực sự nằm dưới quyền làm chủ tuyệt đối không?”
“Tại sao tâm lại biến nó thành ‘Ta’ và ‘của Ta’?”
Và đến một lúc, câu hỏi quan trọng nhất không còn là:
“Tôi có tin vào Vô ngã không?”
mà là:
“Ngay trong khoảnh khắc này, có hiện tượng nào đang bị tâm nắm lấy và biến thành ‘Tôi’, ‘của tôi’ hoặc ‘con người thật của tôi’ hay không?”
Chính khoảng cách từ nói được “Vô ngã” đến thấy được động tác tạo ra “Ta” ngay khi nó đang xảy ra là một trong những khoảng cách lớn nhất giữa học Phật và thực hành Phật pháp.