Định là phương tiện, Tuệ là phương tiện – Cứu cánh vẫn là ly tham giải thoát
Định làm tâm vững, Tuệ giúp nhận ra thực tại không đáng chấp thủ; cứu cánh là ly tham, đoạn tận các lậu hoặc và giải thoát, không phải sở hữu trải nghiệm thiền.
Thuật ngữ, giáo lý, câu hỏi trong các nhóm và nghiên cứu về đạo Phật.
Định làm tâm vững, Tuệ giúp nhận ra thực tại không đáng chấp thủ; cứu cánh là ly tham, đoạn tận các lậu hoặc và giải thoát, không phải sở hữu trải nghiệm thiền.
Hơi thở là cửa ngõ phát triển chánh niệm và định. MN 118 nối niệm hơi thở với Tứ niệm xứ, Thất giác chi, minh và giải thoát trong toàn bộ đạo lộ Giới–Định–Tuệ.
Kinh Từ Bi (Sn 1.8, Khp 9) dạy nuôi dưỡng thiện chí, không sân hận và sống tử tế; không xác nhận cơ chế truyền “năng lượng yêu thương” vật lý.
Tâm từ trong Sn 1.8 không chỉ là lời chúc: phải sống ngay thẳng, biết đủ, không làm hại, không nuôi sân hận và hành động có trí tuệ.
Tâm từ không phân biệt thân sơ là mở rộng thiện chí đến người thân, người trung lập, người bất đồng và mọi hữu tình; không đồng nghĩa tin tưởng hay gần gũi với tất cả như nhau.
Tâm từ không có nghĩa phải thích hoặc tin tưởng tất cả mọi người; đó là thiện chí không ác ý, kết hợp với giới hạn an toàn và hành động có trách nhiệm.
Tâm bi (karuṇā) là thấy nỗi khổ của chúng sinh và mong khổ chấm dứt, đi cùng hành động phù hợp, trí tuệ và không tàn nhẫn.
Hỷ (muditā) là khả năng chân thành vui trước hạnh phúc và điều thiện của người khác; giúp giảm ganh tị và nuôi dưỡng tâm rộng mở.
Xả (upekkhā) là tâm bình đẳng, quân bình, không thiên vị nhưng vẫn có lòng quan tâm và hành động có trách nhiệm; khác với vô cảm hay cam chịu.
Tứ vô lượng tâm hỗ trợ thanh lọc tâm và phát triển định, nhưng giải thoát hoàn toàn đòi hỏi trí tuệ thấy rõ và đoạn tận lậu hoặc; đối chiếu MN 7 và AN 4.125.
DN 31 dạy cư sĩ tránh hành vi bất thiện, nhận diện bạn lành, giữ gìn tài sản và thực hiện trách nhiệm hai chiều trong sáu mối quan hệ.
Sáu phương trong DN 31 biểu thị cha mẹ, thầy cô, gia đình, bạn bè, người lao động và người hướng dẫn tâm linh; trọng tâm là trách nhiệm hai chiều.
DN 31 dạy năm bổn phận của con và năm trách nhiệm của cha mẹ: tri ân, chăm sóc, giáo dưỡng và hỗ trợ nhau. Hiếu kính không phải phục tùng mù quáng.
Theo DN 31, vợ chồng cùng gìn giữ hôn nhân bằng tôn trọng, chung thủy, trách nhiệm, tin cậy và chăm sóc; cần vận dụng công bằng, an toàn.
DN 31 phân biệt bốn kiểu bạn giả và bốn kiểu bạn thật qua hành động, sự trung tín, lời khuyên lành và trách nhiệm hai chiều.
DN 31 dạy trách nhiệm hai chiều giữa người chủ và người lao động: giao việc đúng sức, trả công, chăm sóc lúc bệnh, chia sẻ thành quả và cho nghỉ ngơi; người làm việc cần tận tâm, trung thực.
DN 31 dạy cư sĩ hỗ trợ người tu bằng thiện ý và nhu yếu phẩm; người tu đáp lại bằng lòng từ, sự khuyến thiện và hướng dẫn giáo pháp.
AN 8.54 dạy cư sĩ bốn điều tạo hạnh phúc hiện đời: siêng năng và giỏi nghề, bảo vệ tài sản chính đáng, gần gũi bạn lành, sống cân đối thu chi; đồng thời tu tập tín, giới, thí và tuệ.
Bốn phẩm chất AN 8.54 giúp cư sĩ sống vững vàng: siêng năng và giỏi nghề, bảo vệ tài sản chân chính, gần bạn lành, cân đối thu chi.
Không. Phật giáo không phản đối cư sĩ làm giàu chính đáng; AN 8.54, AN 4.62 và AN 5.41 nhấn mạnh siêng năng, quản lý tài sản, sống đạo đức và biết chia sẻ.
Kinh Ādiya (AN 5.41) nêu năm công dụng của tài sản chân chính: chăm lo gia đình, bạn bè, phòng tai họa, bổn phận cúng dường và hộ trì người tu hành có giới hạnh.
Có tài sản chân chính nhưng không lệ thuộc vào tham ái: kiếm sống đúng pháp, sống cân đối, sử dụng của cải hữu ích và giữ giới hạnh.
AN 4.62 nêu bốn hạnh phúc của cư sĩ: có tài sản chân chính, sử dụng tài sản, không mắc nợ và sống không lỗi lầm; phẩm hạnh được đề cao.
AN 4.62 nêu bốn niềm vui của cư sĩ: có của cải chân chính, sử dụng của cải, không mắc nợ và sống không lỗi; niềm vui không lỗi được đề cao.
Thuật ngữ được tra từ các trang giáo lý đã xuất bản. Nhãn truyền thống theo phân loại từng bài; câu hỏi đang hoàn thiện có ghi chú riêng.
Mở trang tra cứu để lọc theo nhóm và duyệt toàn bộ kết quả.