Kinh Chachakka – Sáu bộ sáu và sự hình thành kinh nghiệm
Kinh Chachakka (MN 148) giảng sáu bộ sáu: nội xứ, ngoại xứ, thức, xúc, thọ và ái; hiểu duyên sinh của kinh nghiệm để không nuôi lớn tham, sân, si.
Thuật ngữ, giáo lý, câu hỏi trong các nhóm và nghiên cứu về đạo Phật.
Kinh Chachakka (MN 148) giảng sáu bộ sáu: nội xứ, ngoại xứ, thức, xúc, thọ và ái; hiểu duyên sinh của kinh nghiệm để không nuôi lớn tham, sân, si.
Phân tích mắt, sắc và nhãn thức theo MN 148, SN 35.93: cái thấy do duyên sinh, không cần chấp một người thấy bất biến; ứng dụng vô ngã trong đời sống.
Giải thích tai, âm thanh, nhĩ thức, nhĩ xúc, cảm thọ và phản ứng trước lời xúc phạm theo MN 148; cách không nuôi dưỡng sân.
MN 148 giải thích ý, pháp, ý thức, ý xúc, cảm thọ và tham ái; suy nghĩ là đối tượng được biết, không phải một cái tôi bất biến.
SN 35.23 gọi “tất cả” là sáu căn và sáu cảnh: mắt–sắc, tai–tiếng, mũi–mùi, lưỡi–vị, thân–xúc, ý–pháp; hiểu đúng phạm vi kinh nghiệm mà không suy diễn siêu hình.
Không cần tìm một thế giới nằm ngoài sáu căn mới có thể thực hành diệt khổ; SN 35.23 nói về sáu căn–sáu cảnh, SN 35.24 về từ bỏ tham đắm, không khẳng định duy tâm tuyệt đối.
SN 12.44 giảng thế giới sinh và diệt qua sáu căn, xúc, thọ, ái, thủ và sự đoạn diệt tham ái; không phải sự tạo thành hay hủy diệt vũ trụ vật lý.
Trong các kinh SN 35.82 và SN 12.44, “thế giới” được giải thích theo tính biến hoại và duyên khởi của kinh nghiệm, không chỉ là vũ trụ vật lý.
Kinh Rohitassa (AN 4.45; SN 2.26) dạy rằng không thể đi tới tận cùng thế giới để thoát khổ chỉ bằng đôi chân; cần nhận biết và đoạn trừ nguyên nhân khổ trong kinh nghiệm thân–tâm.
Giải thích lời dạy Kinh Rohitassa về thế giới, nguồn gốc, sự chấm dứt và con đường giải thoát ngay nơi kinh nghiệm thân–tâm.
SN 35.95 chỉ dạy nhận biết điều thấy, nghe, cảm nhận, suy nghĩ mà không thêm tham ái và chấp ngã; không phải ép tâm ngừng suy nghĩ.
Theo MN 148, sáu căn, sáu cảnh, thức, xúc, thọ, ái đều duyên sinh, không phải tự ngã; quán sát đúng dẫn đến ly tham và giải thoát.
Kinh Puṇṇa (MN 145) dạy không nuôi tham ái trước sáu cảnh hấp dẫn và giữ tâm không sân giữa nghịch cảnh; nhẫn nại không đồng nghĩa với cam chịu bạo lực.
Phân biệt mắt thấy sắc đẹp, nhãn xúc, lạc thọ và ái theo MN 148; nhận ra lúc tâm bám víu và thực hành chánh niệm đúng cách.
Lời khó nghe chưa đồng nghĩa với sân. Phân biệt nhĩ xúc, khổ thọ và phản ứng chống đối theo MN 148; học cách nhận diện và không nuôi dưỡng sân.
Sáu căn không tự gây khổ hay giải thoát; MN 148 và SN 35.28 hướng dẫn nhận diện xúc, thọ, tham sân si và thực hành không chấp thủ.
Phòng hộ sáu căn không phải tránh nhìn nghe, mà tiếp xúc tỉnh giác, không nắm giữ dấu hiệu làm phát sinh tham, sân; đối chiếu SN 35.120, AN 4.14 và MN 2.
Phòng hộ căn bảo vệ tâm bằng tỉnh giác khi sáu căn tiếp xúc sáu cảnh, không nuôi dưỡng tham, sân và các bất thiện pháp; không có nghĩa tránh mọi cảm giác.
Ngũ uẩn phân tích các nhóm thân–tâm; Lục nhập phân tích sáu cửa tiếp xúc và duyên khởi của kinh nghiệm. Hai cách nhìn bổ trợ, không tương đương từng mục.
Quán sát căn, cảnh, thức, xúc, thọ và ái sinh khởi theo điều kiện, thay vì đồng nhất kinh nghiệm với một cái Ta thường hằng.
MN 137 giải thích cách cảm thọ dẫn tâm đến hỷ, ưu, xả; phân biệt trạng thái nương dục lạc và xuất ly để phát triển trí tuệ, buông chấp thủ.
Ba loại cảm thọ lạc, khổ và bất khổ bất lạc: đặc tính, phản ứng tham–sân–si, phân biệt cảm thọ với chấp thủ và phương pháp quan sát theo kinh Nikāya.
Phân biệt cảm thọ thân và cảm thọ tâm qua SN 36.22, SN 36.6; nhận diện đau thân, khổ tâm, phản ứng chấp thủ và cách thực hành.
Lạc thọ là cảm giác dễ chịu, không đồng nghĩa với tham ái. MN 148 và SN 36.6 dạy nhận biết cảm thọ mà không mê đắm và chấp giữ.
Thuật ngữ được tra từ các trang giáo lý đã xuất bản. Nhãn truyền thống theo phân loại từng bài; câu hỏi đang hoàn thiện có ghi chú riêng.
Mở trang tra cứu để lọc theo nhóm và duyệt toàn bộ kết quả.