Nikāya và A-hàm – Hai nguồn kinh điển sớm liên hệ thế nào?
Báo lỗi nội dung
Nikāya và A-hàm – Hai nguồn kinh điển sớm liên hệ thế nào?
Nikāya và A-hàm – Hai nguồn kinh điển sớm liên hệ thế nào?
Khi đọc sách Phật giáo, ta thường gặp hai cách dẫn nguồn:
“Theo kinh Nikāya...”
và:
“Theo kinh A-hàm...”
Điều này dễ tạo cảm giác rằng:
Nikāya
là kinh của:
Theravāda
còn:
A-hàm
là kinh của:
Đại thừa.
Rồi từ đó người ta tưởng:
Nikāya và A-hàm đại diện cho hai hệ giáo lý đối lập.
Cách hiểu này không chính xác.
Nikāya và A-hàm đúng hơn nên được hiểu là:
những bộ sưu tập kinh Phật giáo sớm được bảo tồn qua các dòng truyền thừa khác nhau.
Chúng có:
rất nhiều bài kinh song hành;
cấu trúc giáo lý tương đồng;
nhiều công thức giống nhau;
nhưng cũng có những khác biệt về thứ tự, chi tiết, cách biên tập và truyền thừa.
Chính vì vậy:
ĐỐI CHIẾU NIKĀYA – A-HÀM
là một phương pháp cực kỳ quan trọng để nghiên cứu:
PHẬT GIÁO SỚM.
1. Nikāya nghĩa là gì?
Trong ngữ cảnh Kinh tạng Pāli, Nikāya có thể hiểu là:
bộ sưu tập / nhóm kinh.
Kinh tạng Pāli – Sutta Piṭaka – gồm năm Nikāya:
Dīgha Nikāya – Trường Bộ;
Majjhima Nikāya – Trung Bộ;
Saṃyutta Nikāya – Tương Ưng Bộ;
Aṅguttara Nikāya – Tăng Chi Bộ;
Khuddaka Nikāya – Tiểu Bộ.
Bốn bộ đầu đặc biệt quan trọng khi so sánh với các A-hàm.
2. A-hàm nghĩa là gì?
Sanskrit:
Āgama.
Trong lịch sử kinh điển Phật giáo, từ này được dùng cho những bộ sưu tập kinh tương ứng về loại hình với các Nikāya.
Trong Đại tạng Hán văn còn bảo tồn bốn bộ A-hàm lớn:
Trường A-hàm – Dīrgha Āgama
Trung A-hàm – Madhyama Āgama
Tạp A-hàm – Saṃyukta Āgama
Tăng Nhất A-hàm – Ekottarika Āgama
Ta lập tức thấy sự tương ứng:
| Pāli Nikāya | A-hàm tương ứng |
|---|---|
| Dīgha Nikāya | Dīrgha Āgama – Trường A-hàm |
| Majjhima Nikāya | Madhyama Āgama – Trung A-hàm |
| Saṃyutta Nikāya | Saṃyukta Āgama – Tạp A-hàm |
| Aṅguttara Nikāya | Ekottarika Āgama – Tăng Nhất A-hàm |
Nhưng:
“tương ứng” không có nghĩa hai bên giống nhau từng bài, từng chữ và từng thứ tự.
3. Tại sao lại có hai hệ?
Muốn hiểu điều này phải quay về thời kỳ:
TRUYỀN KHẨU.
Giáo pháp Phật giáo ban đầu không được phổ biến bằng:
sách in;
PDF;
một bản kinh điện tử duy nhất.
Kinh được:
ghi nhớ;
tụng đọc;
truyền dạy;
bảo tồn trong cộng đồng xuất gia.
Qua thời gian, Phật giáo phát triển thành:
nhiều dòng truyền thừa và bộ phái.
Các cộng đồng khác nhau tiếp tục bảo tồn:
những bộ sưu tập kinh của mình.
4. Pāli Nikāya là dòng truyền thừa nào?
Bốn Nikāya Pāli được bảo tồn trong:
TRUYỀN THỐNG THERAVĀDA.
Ngôn ngữ hiện còn của chúng là:
PĀLI.
Đây là một lợi thế đặc biệt của truyền thống Theravāda:
toàn bộ hệ thống kinh điển của một trường phái Phật giáo cổ được bảo tồn tương đối đầy đủ bằng Pāli.
Do đó khi ngày nay đọc:
DN;
MN;
SN;
AN;
ta đang đọc một dòng truyền thừa văn bản cổ được Theravāda bảo tồn.
5. Vậy A-hàm là của Đại thừa?
KHÔNG NÊN NÓI NHƯ VẬY.
Đây là điểm cực kỳ quan trọng.
A-hàm nằm trong:
Đại tạng kinh Hán văn
được các truyền thống Phật giáo Đông Á bảo tồn.
Nhưng điều đó không có nghĩa:
A-hàm ban đầu là kinh Đại thừa.
Các bộ A-hàm chủ yếu phản ánh:
những dòng kinh điển của các trường phái Phật giáo Ấn Độ thời kỳ đầu.
Nhiều bản được dịch sang Hán văn từ:
Sanskrit;
Prakrit;
hoặc các ngôn ngữ Ấn Độ liên hệ.
Do đó cần phân biệt:
NƠI VĂN BẢN ĐƯỢC BẢO TỒN
với:
NGUỒN GỐC LỊCH SỬ CỦA VĂN BẢN.
6. Một ví dụ rất quan trọng
Tạp A-hàm hiện được bảo tồn bằng Hán văn.
Nhưng điều đó không làm nó trở thành:
một kinh điển Đại thừa được sáng tác ở Trung Quốc.
Nó là:
bản dịch Hán văn của một truyền thống kinh điển Phật giáo Ấn Độ cổ.
Tương tự:
một tác phẩm Hy Lạp cổ được dịch sang tiếng Việt
không vì thế trở thành:
tác phẩm văn học Việt Nam.
Ngôn ngữ bản dịch:
không quyết định nguồn gốc tư tưởng của văn bản.
7. A-hàm không thuộc duy nhất một bộ phái
Đây cũng là điểm cần nhớ.
Không nên tưởng:
bốn A-hàm Hán văn tạo thành một “Tam tạng A-hàm” hoàn chỉnh của cùng một trường phái.
Các bộ A-hàm hiện còn được truyền qua:
những lịch sử văn bản khác nhau.
Chẳng hạn, Tạp A-hàm Hán dịch thường được nghiên cứu trong quan hệ với truyền thống:
SARVĀSTIVĀDA – THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ.
Những bộ A-hàm khác có lịch sử truyền thừa và vấn đề xác định bộ phái riêng.
Do đó:
A-HÀM
không phải tên của:
một tông phái duy nhất.
8. Vậy Nikāya và A-hàm có cùng nguồn không?
Theo nghiên cứu so sánh kinh điển Phật giáo sớm, cách hiểu hợp lý là:
chúng bảo tồn những dòng truyền thừa khác nhau của một kho tàng kinh điển sớm có nguồn gốc chung hoặc rất gần nhau.
Ta có thể hình dung:
TRUYỀN THỐNG KINH ĐIỂN SỚM
↓
qua nhiều dòng truyền khẩu và cộng đồng
↙︎ ↘︎
DÒNG PĀLI
CÁC DÒNG BẮC TRUYỀN
↓
NIKĀYA
↓
ĀGAMA
Đây chỉ là sơ đồ đơn giản.
Lịch sử thực tế phức tạp hơn nhiều.
9. Không nên tưởng có một cuốn “Kinh gốc” rồi sao chép ra hai bản
Một mô hình quá đơn giản sẽ là:
BẢN GỐC CỦA ĐỨC PHẬT
↓
copy 1:
NIKĀYA
↓
copy 2:
A-HÀM.
Lịch sử truyền khẩu không đơn giản như sao chép một file máy tính.
Trước khi các bộ sưu tập đạt hình thức hiện còn:
kinh được truyền miệng;
cộng đồng tụng đọc;
các nhóm văn bản được sắp xếp;
thứ tự thay đổi;
một số chi tiết được mở rộng hoặc rút gọn;
các truyền thống phân chia thành những dòng khác nhau.
Do đó thích hợp hơn khi nói:
các bản song hành là những nhân chứng văn bản khác nhau của truyền thống Phật giáo sớm.
10. “Kinh song hành” là gì?
Đây là khái niệm cực kỳ quan trọng.
Tiếng Anh thường gọi:
PARALLEL.
Một bài kinh Pāli có thể có:
một hoặc nhiều bản tương ứng trong A-hàm.
Hai bản có thể có:
cùng nhân vật;
cùng hoàn cảnh;
cùng cấu trúc;
cùng giáo lý chính;
nhiều đoạn rất gần nhau;
nhưng khác:
thứ tự;
từ ngữ;
chi tiết;
số lượng mục;
phần mở đầu;
phần kết thúc.
Đó là:
KINH SONG HÀNH.
11. Tại sao kinh song hành quan trọng?
Giả sử một bài kinh tồn tại trong:
hai dòng truyền thừa độc lập tương đối.
Một bản Pāli nói:
A → B → C.
Một bản Hán A-hàm cũng nói:
A → B → C.
Dù hai dòng đã trải qua:
những lịch sử truyền thừa khác nhau,
chúng vẫn bảo tồn:
cùng một cấu trúc giáo lý.
Điều này làm tăng cơ sở để cho rằng:
phần chung ấy thuộc một lớp truyền thống tương đối sớm.
12. Nhưng giống nhau không chứng minh từng chữ là lời nguyên văn của Đức Phật
Đây là giới hạn rất quan trọng.
Nghiên cứu so sánh có thể cho thấy:
một giáo lý hoặc đoạn văn đã tồn tại trước khi các dòng truyền thừa tách biệt theo hình thức mà ta hiện biết.
Nhưng điều đó không tự động chứng minh:
từng chữ hiện còn chính xác là âm thanh Đức Phật đã phát ra 2.500 năm trước.
Bởi giữa:
lời giảng ban đầu
và:
bản chép hiện còn
là một lịch sử:
TRUYỀN KHẨU – BIÊN TẬP – TRUYỀN THỪA.
Do đó nghiên cứu lịch sử phải phân biệt:
rất cổ
với:
chứng minh nguyên văn tuyệt đối.
13. Khi Nikāya và A-hàm giống nhau, ta học được gì?
Ví dụ hai bản độc lập đều có:
Tứ Thánh Đế;
Duyên khởi;
năm uẩn;
sáu xứ;
Bát Chánh Đạo;
các giác chi;
Vô thường;
Vô ngã;
thiền định;
giải thoát.
Điều đó cho thấy:
những giáo lý này không đơn giản là phát minh riêng của Theravāda về sau.
Chúng thuộc:
DI SẢN PHẬT GIÁO SỚM RỘNG HƠN.
Đây là lý do Wiki không nên viết:
“Theo Theravāda, Đức Phật dạy Tứ Thánh Đế...”
nếu giáo lý ấy được chứng thực rộng rãi trong nhiều dòng kinh điển sớm.
Chính xác hơn có thể viết:
“Trong kinh điển Phật giáo sớm...”
rồi dẫn:
Nikāya + A-hàm.
14. Đây là lý do phải phân biệt “Phật giáo sớm” với “Theravāda”
Theravāda là:
một truyền thống Phật giáo lịch sử còn tồn tại đến ngày nay.
Nikāya Pāli được:
Theravāda bảo tồn.
Nhưng phần cổ của Nikāya phản ánh:
một tầng truyền thống có trước nhiều phát triển đặc thù của Theravāda về sau.
Do đó:
KINH NIKĀYA ≠ TOÀN BỘ THERAVĀDA.
Theravāda còn có:
Abhidhamma;
chú giải;
phụ chú giải;
hệ thống thiền;
văn học hậu kỳ;
truyền thống địa phương.
Không nên đưa toàn bộ những thứ ấy ngược vào:
“Phật giáo thời kỳ sớm.”
15. Tương tự: A-hàm không đồng nghĩa Đại thừa
Đại thừa có những hệ kinh riêng như:
Bát-nhã;
Pháp Hoa;
Hoa Nghiêm;
Vimalakīrti;
Tịnh độ;
Như Lai tạng;
v.v.
A-hàm thuộc:
một lớp văn học khác.
Việc A-hàm được bảo tồn trong Đại tạng Hán văn của các truyền thống Đại thừa Đông Á không làm chúng trở thành:
kinh Đại thừa theo nghĩa lịch sử văn bản.
16. Một sơ đồ rất quan trọng
Không nên vẽ:
NAM TÔNG
↓
NIKĀYA
đối lập:
BẮC TÔNG/ĐẠI THỪA
↓
A-HÀM.
Sơ đồ này quá đơn giản và dễ gây sai.
Tốt hơn:
PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ THỜI KỲ SỚM
↓
nhiều dòng truyền thừa kinh điển
↙︎ ↘︎
TRUYỀN THỐNG PĀLI
CÁC TRUYỀN THỐNG KHÁC
↓
NIKĀYA
↓
ĀGAMA
↓
được Theravāda bảo tồn
↓
một phần lớn được bảo tồn qua bản dịch Hán văn, cùng các mảnh Sanskrit và những chứng tích khác.
Đây là mô hình lịch sử tốt hơn.
17. Bốn cặp tương ứng lớn
Có thể nhớ:
1. Trường
Dīgha Nikāya
↔
Dīrgha Āgama
2. Trung
Majjhima Nikāya
↔
Madhyama Āgama
3. Tương Ưng / Tạp
Saṃyutta Nikāya
↔
Saṃyukta Āgama
4. Tăng Chi / Tăng Nhất
Aṅguttara Nikāya
↔
Ekottarika Āgama.
Nhưng:
không nên lấy số thứ tự của kinh bên này để đoán số kinh bên kia.
18. Vì sao thứ tự khác nhau?
Các bộ sưu tập không được cố định hoàn toàn giống nhau trong mọi dòng truyền thừa.
Một bài nằm trong:
Majjhima Nikāya
có thể có bản tương ứng nằm trong:
Saṃyukta Āgama
hoặc bộ khác.
Điều đó cho thấy các danh mục Nikāya/Āgama phần nào hoạt động như:
phương pháp tổ chức kho kinh
chứ không nhất thiết là những “quyển sách” có mục lục cố định giống nhau từ đầu.
19. Tại sao có chỗ hai bản khác nhau?
Có nhiều khả năng:
Truyền khẩu
Một dòng bảo tồn chi tiết này, dòng kia bảo tồn cách khác.
Biên tập
Các cộng đồng sắp xếp hoặc mở rộng văn bản khác nhau.
Dịch thuật
Bản Hán là bản dịch từ ngôn ngữ Ấn Độ.
Một thuật ngữ có thể được dịch theo nhiều cách.
Truyền bản
Bản chép tay có thể phát sinh dị bản.
Phát triển bộ phái
Một số yếu tố có thể phản ánh cách diễn giải của truyền thống truyền thừa.
Do đó:
khác nhau không tự động có nghĩa một bên “giả”.
Nó chính là dữ liệu giúp nghiên cứu:
LỊCH SỬ VĂN BẢN.
20. Nếu hai bản khác nhau thì bản nào đúng?
Không nên mặc định:
Pāli luôn đúng.
Cũng không nên mặc định:
A-hàm luôn cổ hơn.
Phải xét:
ngữ cảnh;
cấu trúc;
các bản song hành khác;
ngôn ngữ;
lịch sử truyền thừa;
dấu hiệu biên tập;
Sanskrit fragment nếu có;
bản Tây Tạng nếu có;
Vinaya hoặc nguồn liên hệ.
Có trường hợp:
Pāli có vẻ bảo tồn dạng cổ hơn.
Có trường hợp:
bản A-hàm có thể bảo tồn một cách đọc cổ hơn.
Có trường hợp:
không thể quyết định chắc chắn.
Đây chính là lý do:
SO SÁNH QUAN TRỌNG HƠN THIÊN VỊ TRUYỀN THỐNG.
21. Có phải phần giống nhau luôn chắc chắn cổ nhất?
Đó là một:
chỉ dấu rất mạnh
nhưng không phải công thức máy móc.
Nếu nhiều dòng truyền thừa độc lập cùng bảo tồn một nội dung:
khả năng nội dung ấy có trước sự phân ly của các dòng đó tăng lên.
Nhưng nghiên cứu lịch sử vẫn phải xét:
khả năng vay mượn;
sự chuẩn hóa;
truyền bản;
mức độ độc lập của các nguồn.
Vì vậy không nên biến phương pháp so sánh thành:
“giống nhau = chắc chắn lời Phật 100%.”
22. A-hàm hiện còn bằng Hán văn có phải bản gốc không?
Không.
Đây là:
BẢN DỊCH.
Các bản gốc Ấn Độ mà dịch giả sử dụng phần lớn:
không còn nguyên vẹn.
Tuy nhiên, ngoài Hán văn còn có:
các mảnh Sanskrit;
bản song hành Tây Tạng;
trích dẫn trong luận thư;
các bản văn bằng những ngôn ngữ Phật giáo cổ khác.
Nhờ đó học giả có thể:
đối chiếu nhiều nhân chứng văn bản.
23. Pāli có phải chính ngôn ngữ Đức Phật nói không?
Không nên khẳng định đơn giản như vậy.
Pāli là:
một ngôn ngữ kinh điển Trung Ấn được truyền thống Theravāda bảo tồn.
Đức Phật giảng dạy trong môi trường có nhiều phương ngữ Trung Ấn cổ.
Do đó:
Pāli rất quan trọng và cổ, nhưng không nên đồng nhất máy móc với bản ghi âm nguyên văn ngôn ngữ nói của Đức Phật.
Tương tự:
Sanskrit hoặc ngôn ngữ nguồn của các A-hàm cũng không đơn giản là “ngôn ngữ duy nhất Đức Phật đã nói”.
24. Vậy làm sao nghiên cứu lời dạy sớm nhất có thể phục hồi?
Một phương pháp quan trọng là:
ĐỐI CHIẾU ĐA NGUỒN.
Ví dụ:
PĀLI NIKĀYA
HÁN A-HÀM
SANSKRIT FRAGMENTS
BẢN TÂY TẠNG
VINAYA SONG HÀNH
↓
tìm:
CÁC ĐIỂM HỘI TỤ.
Nếu nhiều dòng độc lập bảo tồn:
cùng một giáo lý cốt lõi,
ta có cơ sở lịch sử mạnh hơn để đặt nó vào:
LỚP PHẬT GIÁO SỚM.
25. Ví dụ: Duyên khởi
Nếu chỉ đọc Theravāda, ta có thể nghĩ:
Duyên khởi là giáo lý của Theravāda.
Nhưng khi tìm thấy những cấu trúc Duyên khởi tương ứng trong:
A-hàm
thì bức tranh thay đổi.
Ta thấy:
DUYÊN KHỞI
thuộc di sản chung của:
PHẬT GIÁO SỚM,
không phải tài sản độc quyền của một truyền thống hiện đại.
Điều tương tự áp dụng cho nhiều giáo lý căn bản.
26. Ví dụ: năm uẩn và Vô ngã
Nikāya có rất nhiều kinh phân tích:
sắc
thọ
tưởng
hành
thức
và không chấp chúng:
“đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi.”
Các bản A-hàm song hành cũng bảo tồn:
những cấu trúc giáo lý rất gần.
Điều đó rất quan trọng khi nghiên cứu:
VÔ NGÃ.
Ta không cần coi Vô ngã chỉ là:
quan điểm riêng của Theravāda.
27. Ví dụ: 37 phẩm trợ đạo
Các nhóm:
Tứ Niệm Xứ;
Tứ Chánh Cần;
Tứ Như Ý Túc;
Ngũ Căn;
Ngũ Lực;
Thất Giác Chi;
Bát Chánh Đạo;
được chứng thực rộng trong truyền thống kinh điển sớm.
Điều này giúp thấy:
cấu trúc con đường tu không phải sản phẩm độc quyền của một tông phái về sau.
28. Vì sao A-hàm đặc biệt quý?
Nếu chỉ còn Nikāya Pāli:
ta có một nhân chứng cực kỳ quan trọng.
Nhưng khi có thêm A-hàm:
ta có thể kiểm tra một dòng truyền thừa bằng những dòng khác.
Điều này giống nghiên cứu một văn bản cổ có:
NHIỀU BẢN CHỨNG.
Các bản chứng:
vừa xác nhận,
vừa sửa,
vừa bổ sung
cho hiểu biết của chúng ta.
Do đó A-hàm có giá trị rất lớn đối với:
NGHIÊN CỨU PHẬT GIÁO SỚM.
29. Và Nikāya cũng đặc biệt quý
Ngược lại, Nikāya Pāli có ưu thế rất lớn:
bốn bộ kinh chính được bảo tồn liên tục và tương đối đầy đủ trong cùng một truyền thống ngôn ngữ.
Trong khi các nguồn ngoài Pāli:
phân tán hơn về ngôn ngữ và truyền thừa.
Do đó nghiên cứu tốt nhất không phải:
NIKĀYA HAY A-HÀM?
mà là:
NIKĀYA + A-HÀM + CÁC NHÂN CHỨNG KHÁC.
30. Tiểu Bộ có A-hàm tương ứng không?
Không có một:
Khuddaka Āgama Hán văn hoàn chỉnh
tương ứng đơn giản với toàn bộ Khuddaka Nikāya Pāli.
Nhưng nhiều tác phẩm riêng lẻ thuộc loại văn học tương tự:
có các bản song hành ngoài Pāli.
Ví dụ nổi tiếng:
DHAMMAPADA – PHÁP CÚ
có nhiều truyền bản khác nhau.
Điều này cho thấy phần “tiểu bộ” của các truyền thống:
linh hoạt và phức tạp hơn bốn bộ lớn.
31. Nikāya có phải tất cả đều cùng niên đại?
Không nên giả định như vậy.
Một bộ kinh là:
một tập hợp văn bản.
Trong đó có thể có:
lớp rất cổ;
phần được biên tập;
đoạn mở rộng;
yếu tố hình thành trong quá trình truyền thừa.
Điều tương tự áp dụng cho:
A-HÀM.
Vì vậy thuật ngữ:
“Kinh điển sớm”
không có nghĩa:
mọi câu trong mọi văn bản đều được sáng tác trong cùng một ngày.
32. “Phật giáo sớm” nghĩa là gì?
Trong nghiên cứu, Early Buddhism thường chỉ:
những tầng tư tưởng và văn bản có thể được đặt vào giai đoạn sớm của lịch sử Phật giáo, trước nhiều hệ thống bộ phái và Đại thừa phát triển hoàn chỉnh.
Một nguồn rất quan trọng để nghiên cứu tầng này là:
EARLY BUDDHIST TEXTS – EBTs.
Trong đó nổi bật:
bốn Nikāya chính;
bốn A-hàm;
các bản song hành Sanskrit;
các văn bản tương ứng khác.
Nhưng việc xác định chính xác niên đại từng đoạn:
vẫn cần nghiên cứu lịch sử và văn bản học.
33. Vì sao Wiki Tâm Học nên dùng cả hai?
Nếu mục tiêu của Wiki là trình bày:
Phật giáo sớm
thì chỉ dùng Pāli rồi gọi mọi thứ:
“quan điểm Phật giáo nguyên thủy”
có thể chưa đủ thận trọng.
Tốt hơn:
Bước 1
Tìm bài Nikāya.
Bước 2
Kiểm tra có A-hàm song hành không.
Bước 3
So sánh phần chung.
Bước 4
Nếu có khác biệt quan trọng:
ghi rõ.
Bước 5
Sau đó mới phân biệt:
Theravāda;
Đại thừa;
Kim Cương thừa;
ở những tầng phát triển về sau.
Đây là phương pháp khách quan hơn.
34. Ví dụ cách viết Wiki
Thay vì:
“Theravāda dạy rằng năm uẩn vô ngã.”
nếu giáo lý được chứng thực trong Nikāya và A-hàm, có thể viết:
“Trong các nguồn kinh điển Phật giáo sớm, được bảo tồn qua cả Nikāya Pāli và các bản A-hàm song hành, năm uẩn được quán xét theo hướng không nên chấp là Ta hay của Ta.”
Sau đó:
“Theravāda về sau hệ thống hóa...”
và:
“Các hệ Đại thừa tiếp tục phát triển...”
Như vậy lịch sử tư tưởng rõ hơn.
35. Điều này giúp tránh một lỗi rất lớn
Nếu không phân biệt các tầng lịch sử, ta dễ tạo sơ đồ:
THERAVĀDA
= Nikāya
= Phật giáo sớm
và:
ĐẠI THỪA
= A-hàm
= Phật giáo Bắc truyền.
Sơ đồ ấy sai ở nhiều cấp.
Chính xác hơn:
Phật giáo sớm
được phản ánh qua:
Nikāya + A-hàm + các nguồn song hành khác.
Theravāda
là một truyền thống:
bảo tồn Nikāya Pāli và tiếp tục phát triển hệ thống riêng.
Đại thừa
là:
những phong trào và truyền thống phát triển về sau, đồng thời tiếp nhận di sản Phật giáo sớm và phát triển thêm các kinh luận Đại thừa.
Phật giáo Đông Á
bảo tồn:
cả A-hàm lẫn một kho tàng kinh Đại thừa rất lớn.
Hai thứ không đồng nghĩa.
36. Đại thừa có đọc A-hàm không?
Có thể đọc và đã bảo tồn A-hàm trong:
Đại tạng Hán văn.
Nhưng trong lịch sử Đông Á, mức độ chú trọng A-hàm:
thay đổi tùy thời kỳ và truyền thống.
Việc bảo tồn A-hàm trong Hán tạng ngày nay có ý nghĩa rất lớn:
nếu không có những bản dịch cổ này, một lượng lớn chứng liệu của các trường phái Phật giáo Ấn Độ cổ có thể đã mất.
Do đó truyền thống Hán dịch đóng vai trò:
BẢO TỒN VĂN BẢN CỰC KỲ QUAN TRỌNG.
37. Theravāda có “sở hữu” Nikāya không?
Theo nghĩa lịch sử truyền thừa:
Theravāda là truyền thống đã bảo tồn bộ Nikāya Pāli.
Nhưng về nghiên cứu:
nội dung cổ của Nikāya là nguồn tư liệu cho lịch sử Phật giáo nói chung.
Do đó không nên biến nghiên cứu thành:
“kinh của chúng tôi”
đối lập:
“kinh của họ.”
Cả Nikāya và A-hàm đều là:
DI SẢN CỰC KỲ QUÝ CỦA LỊCH SỬ PHẬT GIÁO.
38. Đối chiếu tổng quát
| Vấn đề | Nikāya | A-hàm |
|---|---|---|
| Nguồn | Truyền thống kinh điển Phật giáo sớm | Truyền thống kinh điển Phật giáo sớm |
| Dòng bảo tồn chính hiện nay | Theravāda | Chủ yếu qua Đại tạng Hán văn và các chứng liệu khác |
| Ngôn ngữ hiện còn chính | Pāli | Hán dịch từ các ngôn ngữ Ấn Độ |
| Có phải kinh Đại thừa? | Không | Không nên gọi là kinh Đại thừa |
| Có phải chỉ của Theravāda? | Bản Pāli được Theravāda bảo tồn | Không |
| Bốn bộ lớn | DN, MN, SN, AN | DA, MA, SA, EA |
| Nội dung giống hoàn toàn? | Không | Không |
| Có kinh song hành? | Rất nhiều | Rất nhiều |
| Giá trị nghiên cứu Phật giáo sớm | Rất cao | Rất cao |
| Nên nghiên cứu riêng lẻ? | Có thể | Có thể |
| Tốt nhất | Đối chiếu đa nguồn | Đối chiếu đa nguồn |
39. Một bản đồ lịch sử đơn giản
Có thể hình dung:
ĐỨC PHẬT VÀ TĂNG ĐOÀN SƠ KỲ
↓
TRUYỀN KHẨU GIÁO PHÁP
↓
các cộng đồng bảo tồn và tổ chức kinh
↓
NHIỀU DÒNG TRUYỀN THỪA PHẬT GIÁO CỔ
↙︎ ↘︎
DÒNG PĀLI
CÁC DÒNG KHÁC
↓
NIKĀYA
↓
# ĀGAMA
↓
được Theravāda bảo tồn
↓
nhiều bản được dịch và bảo tồn trong Hán tạng
↘︎ ↙︎
NGHIÊN CỨU SO SÁNH HIỆN ĐẠI
↓
tìm:
phần chung;
dị bản;
lớp biên tập;
phát triển giáo lý;
↓
PHỤC DỰNG THẬN TRỌNG CÁC TẦNG PHẬT GIÁO SỚM.
40. Nếu muốn biết “Đức Phật sớm nhất có thể đã dạy gì”, nên làm thế nào?
Không có cỗ máy thời gian.
Do đó cách tiếp cận lịch sử thận trọng là:
không tuyệt đối hóa một truyền bản duy nhất.
Thay vào đó:
NIKĀYA PĀLI
A-HÀM HÁN DỊCH
SANSKRIT FRAGMENTS
BẢN TÂY TẠNG
VINAYA VÀ CÁC NGUỒN SONG HÀNH
↓
SO SÁNH.
Những phần:
xuất hiện rộng rãi trong các dòng độc lập
có cơ sở mạnh hơn để xem là:
thuộc tầng truyền thống sớm.
Những phần:
chỉ xuất hiện trong một dòng
không nhất thiết là sai hay muộn,
nhưng:
cần thận trọng hơn khi xác định lịch sử.
41. Điều quan trọng nhất cho người học Phật
Mục đích của đối chiếu Nikāya và A-hàm không phải:
tìm xem tông phái nào thắng.
Mà là:
hiểu lịch sử truyền thừa giáo pháp chính xác hơn.
Khi hai dòng độc lập cùng bảo tồn:
Duyên khởi;
Vô thường;
Vô ngã;
Tứ Thánh Đế;
Bát Chánh Đạo;
năm uẩn;
sáu xứ;
Tứ Niệm Xứ;
các giác chi;
con đường giải thoát;
ta thấy phía sau những phân chia tông phái về sau là:
MỘT DI SẢN GIÁO PHÁP CHUNG RẤT SÂU.
Đó là giá trị lớn nhất của việc đọc song song hai nguồn.
Kết luận
Nikāya và A-hàm không phải hai hệ giáo lý đối lập.
Chúng là:
những dòng bảo tồn khác nhau của kinh điển Phật giáo sớm.
Nikāya Pāli được:
THERAVĀDA
bảo tồn.
Các A-hàm hiện còn phần lớn được biết qua:
HÁN TẠNG
và phản ánh những dòng truyền thừa của các trường phái Phật giáo Ấn Độ cổ khác nhau.
Do đó:
NIKĀYA ≠ TOÀN BỘ THERAVĀDA
và:
A-HÀM ≠ ĐẠI THỪA.
Đây là hai điểm cực kỳ quan trọng.
Mối quan hệ thích hợp hơn là:
TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO SỚM
↓
NHIỀU DÒNG TRUYỀN THỪA
↙︎ ↘︎
NIKĀYA # ĀGAMA
↘︎ ↙︎
ĐỐI CHIẾU
↓
HIỂU RÕ HƠN PHẬT GIÁO SỚM.
Khi một bài kinh Nikāya và bản A-hàm song hành:
cùng bảo tồn một cấu trúc giáo lý cốt lõi,
đó là chứng cứ quan trọng cho thấy:
nội dung ấy thuộc một tầng truyền thống có trước nhiều phát triển tông phái về sau.
Nhưng vẫn cần khiêm tốn về giới hạn lịch sử:
“rất sớm” không đồng nghĩa với việc chúng ta có thể chứng minh từng chữ là bản ghi nguyên văn lời nói của Đức Phật.
Vì vậy, đối với nghiên cứu khách quan:
đừng hỏi “Nikāya hay A-hàm cái nào đúng hơn?” trước tiên.
Hãy hỏi:
“Hai dòng truyền thừa này cùng bảo tồn điều gì, khác nhau ở đâu, và những điểm hội tụ ấy cho chúng ta biết gì về lớp giáo pháp sớm?”
Đó chính là giá trị đặc biệt của nghiên cứu: