Định ≠ Ép tâm không suy nghĩ
Báo lỗi nội dung
Định ≠ Ép tâm không suy nghĩ
Định ≠ Ép tâm không suy nghĩ
Trả lời ngắn
Định (samādhi) trong Phật giáo không đơn giản là ép tâm ngừng suy nghĩ.
Một người có thể:
cố không nghĩ,
nín giữ tâm,
căng đầu,
chống lại từng ý niệm,
cố tạo trạng thái trắng xóa,
nhưng điều đó:
chưa chắc là Chánh định.
Ngược lại, càng nghĩ:
“Tôi không được nghĩ!”
thì chính câu ấy:
đã là một hoạt động của tâm.
Điểm cốt yếu của định không phải:
KHÔNG CÒN BẤT KỲ HOẠT ĐỘNG TÂM NÀO.
Mà là:
TÂM BỚT TÁN LOẠN,
BỚT BỊ THAM – SÂN – HÔN TRẦM – TRẠO CỬ – NGHI KÉO ĐI,
TRỞ NÊN ỔN ĐỊNH, THUẦN NHẤT VÀ CÓ KHẢ NĂNG AN TRÚ.
Vì vậy:
ĐỊNH ≠ ĐÈ NÉN Ý NGHĨ.
ĐỊNH ≠ ĐẦU ÓC TRỐNG RỖNG.
ĐỊNH ≠ MẤT NHẬN BIẾT.
ĐỊNH ≠ HÔN TRẦM.
Và đặc biệt:
ĐỊNH ≠ GIẢI THOÁT.
Định là một thành phần rất quan trọng của con đường, nhưng trong Phật giáo:
định cần đi cùng Giới và Tuệ.
1. Samādhi là gì?
Samādhi thường được dịch:
định,
định tâm,
tập trung,
nhất tâm.
Nhưng nếu hiểu đơn giản:
“tập trung thật mạnh”
thì vẫn chưa đủ.
Một người:
chơi game nhiều giờ,
đánh bạc,
săn mồi,
tức giận tập trung vào kẻ thù,
cũng có thể:
tập trung rất mạnh.
Nhưng không vì thế mà đó là:
CHÁNH ĐỊNH.
Trong Bát Chánh Đạo, vấn đề không chỉ là:
tâm tập trung đến mức nào
mà còn là:
tâm ấy được đặt trong toàn bộ con đường nào.
2. Chánh định nằm trong Bát Chánh Đạo
Bát Chánh Đạo gồm:
Tuệ
Chánh kiến
Chánh tư duy
Giới
Chánh ngữ
Chánh nghiệp
Chánh mạng
Định
Chánh tinh tấn
Chánh niệm
Chánh định
Điều này rất quan trọng.
Chánh định:
không đứng một mình.
Nó được hỗ trợ bởi:
CHÁNH TINH TẤN
và:
CHÁNH NIỆM.
Đồng thời toàn bộ tiến trình được đặt trên:
GIỚI
và hướng bởi:
CHÁNH KIẾN.
3. Vì vậy tập trung mạnh chưa chắc là Chánh định
Một tên trộm đang mở két:
có thể cực kỳ tập trung.
Một người đang trả thù:
có thể tập trung hàng tháng vào kế hoạch của mình.
Một người nghiện:
có thể tập trung mãnh liệt vào đối tượng gây nghiện.
Những trạng thái ấy chứng minh:
khả năng tập trung
nhưng không chứng minh:
Chánh định.
Có thể ghi nhớ:
TẬP TRUNG
là khái niệm rộng.
CHÁNH ĐỊNH
là:
định được đặt trong con đường giải thoát.
4. “Không suy nghĩ” không phải định nghĩa của định
Đây là hiểu lầm rất phổ biến.
Người mới thiền thường nghĩ:
“Thiền thành công là đầu óc không còn ý nghĩ.”
Vì vậy khi một ý nghĩ xuất hiện:
“Tối nay ăn gì?”
người ấy:
“Sai rồi!”
Lại có ý nghĩ:
“Ngày mai phải làm việc.”
Người ấy:
“Phải dừng lại!”
Rồi:
“Tại sao mình nghĩ nhiều thế?”
Rồi:
“Mình thiền kém quá.”
Rồi:
“Không được nghĩ nữa.”
Kết quả:
MỘT Ý NGHĨ
BIẾN THÀNH
MƯỜI Ý NGHĨ.
5. Vấn đề không phải ý nghĩ xuất hiện
Tâm:
đã quen suy nghĩ trong nhiều năm.
Khi ngồi xuống:
hoạt động tâm không lập tức biến mất.
Một ý nghĩ xuất hiện:
không có nghĩa thiền thất bại.
Điều cần quan sát là:
TÂM CÓ BỊ Ý NGHĨ KÉO ĐI HAY KHÔNG?
Ví dụ:
ý nghĩ xuất hiện.
Ta nhận biết:
“đang nghĩ.”
Không chạy theo.
Không đánh nhau.
Không xây thêm câu chuyện.
Rồi:
trở lại đối tượng.
Đó đã là:
MỘT PHẦN CỦA VIỆC HUẤN LUYỆN TÂM.
6. Định giống “ở lại” hơn là “tiêu diệt”
Có thể minh họa:
Tâm bình thường:
đối tượng A
↓
ký ức B
↓
kế hoạch C
↓
lo lắng D
↓
âm thanh E
↓
tưởng tượng F
↓
lại A.
Tâm liên tục:
BỊ KÉO ĐI.
Khi định phát triển:
đối tượng A
↓
biết A
↓
tâm có xu hướng ở với A
↓
bị xao động
↓
nhận ra
↓
trở lại A.
Dần dần:
SỰ Ở LẠI TĂNG.
SỰ TÁN LOẠN GIẢM.
Đó khác hoàn toàn với:
“Tôi phải giết mọi ý nghĩ.”
7. Chánh tinh tấn không phải cưỡng ép
Có một khác biệt lớn giữa:
TINH TẤN
và:
CĂNG THẲNG.
Tinh tấn đúng:
ngăn bất thiện chưa sinh,
đoạn bất thiện đã sinh,
phát triển thiện chưa sinh,
duy trì và làm tăng trưởng thiện đã sinh.
Nó có:
mục đích,
tỉnh giác,
điều chỉnh.
Cưỡng ép:
“Phải được! Phải yên! Không được nghĩ!”
dễ tạo:
căng thẳng,
bực bội,
thất vọng,
sân với chính tâm mình.
8. Có thể sân với chính ý nghĩ của mình
Một ý nghĩ xuất hiện.
Ta không thích.
Ta nghĩ:
“Biến đi!”
Nó lại xuất hiện.
Ta càng:
ghét nó.
Lúc này đối tượng ban đầu có thể không phải vấn đề lớn nữa.
Vấn đề mới là:
SÂN.
Ta tưởng mình đang:
tu định
nhưng thực tế đang:
nuôi sự chống đối.
9. “Buông ý nghĩ” khác “đuổi ý nghĩ”
Đuổi
“Không được nghĩ.”
↓
chống.
↓
căng.
↓
kiểm tra xem nó đã hết chưa.
↓
lại nhớ tới nó.
Buông
“Ý nghĩ đang có mặt.”
↓
biết.
↓
không tiếp tục nuôi.
↓
trở về đối tượng.
Điểm khác nằm ở:
THÁI ĐỘ CỦA TÂM.
10. Ví dụ người khách đến nhà
Hãy tưởng tượng:
ý nghĩ giống một người khách đi ngang cửa.
Không cần:
kéo họ vào nhà.
Cũng không cần:
chạy ra đánh nhau.
Chỉ:
biết họ xuất hiện
và:
không tiếp tục cuộc trò chuyện.
Một lúc:
họ đi.
Đây chỉ là ví dụ sư phạm, nhưng giúp thấy:
KHÔNG THEO
≠
PHẢI TIÊU DIỆT.
11. Chánh niệm đóng vai trò gì?
Nếu định chỉ là:
giữ chặt đối tượng,
ta có thể bỏ qua vai trò của:
SATI – CHÁNH NIỆM.
Chánh niệm giúp:
nhớ đối tượng,
nhận biết khi tâm rời đối tượng,
nhận biết trạng thái tâm,
không quên việc mình đang thực hành.
Ví dụ:
đang theo dõi hơi thở.
Tâm chạy tới:
công việc.
Chánh niệm:
nhận ra.
Nếu không nhận ra:
ta có thể ngồi mười phút
nhưng thực tế:
suy nghĩ về công việc mười phút.
12. Khoảnh khắc nhận ra mình đang phân tâm không phải thất bại
Đây là điều rất quan trọng với người mới.
Tâm đi:
30 giây.
Rồi:
“À, mình đang nghĩ.”
Người ấy thường thất vọng:
“Lại thất bại.”
Nhưng chính khoảnh khắc:
nhận ra
là lúc:
CHÁNH NIỆM ĐÃ HOẠT ĐỘNG.
Thay vì tự trách:
nhận biết,
buông,
trở lại.
Lặp lại.
Đó chính là:
huấn luyện.
13. Năm triền cái là những chướng ngại quan trọng
Kinh điển thường nói tới năm triền cái:
Dục tham
Sân
Hôn trầm – thụy miên
Trạo cử – hối quá
Nghi
Chúng làm:
tâm bị che phủ,
dao động,
khó định,
khó thấy rõ.
Phát triển định vì vậy không đơn giản là:
xóa suy nghĩ.
Nó liên quan tới:
LÀM YẾU NHỮNG ĐIỀU KIỆN
KHIẾN TÂM BỊ CHE LẤP VÀ TÁN LOẠN.
14. Hôn trầm rất dễ bị nhầm với định
Một người ngồi:
rất yên.
Không nghĩ nhiều.
Thân:
gần như bất động.
Tâm:
mờ,
nặng,
không rõ,
lơ mơ.
Người ấy nghĩ:
“Hôm nay định rất sâu.”
Nhưng có thể đó chỉ là:
HÔN TRẦM.
Định đúng không phải:
giảm nhận biết.
Một đặc điểm quan trọng là:
TÂM ỔN ĐỊNH
NHƯNG SÁNG RÕ.
15. Trống rỗng cũng chưa chắc là định
Có lúc tâm trở nên:
ít suy nghĩ,
trống,
mơ hồ.
Nhưng nếu:
thiếu tỉnh giác,
thiếu sáng rõ,
không biết rõ đối tượng,
thì:
không nên vội gọi đó là định sâu.
Câu hỏi không chỉ là:
“Có suy nghĩ không?”
Mà còn:
“Tâm có sáng không?”
“Có biết rõ không?”
“Có ổn định không?”
“Có bị hôn trầm không?”
16. Ngược lại, suy nghĩ xuất hiện không có nghĩa hoàn toàn không có định
Định:
có mức độ.
Một tâm có thể:
tương đối ổn định
nhưng:
vẫn có hoạt động tư duy.
Đặc biệt trong tiến trình tu tập:
sự yên tĩnh tăng dần.
Do đó không nên chỉ có hai nhãn:
“CÒN Ý NGHĨ = KHÔNG CÓ ĐỊNH.”
“KHÔNG Ý NGHĨ = CÓ ĐỊNH.”
Thực tế:
tinh tế hơn nhiều.
17. Sơ thiền đặc biệt cho thấy vấn đề này cần thận trọng
Trong mô tả Pāli quen thuộc về sơ thiền có các thuật ngữ:
vitakka
và:
vicāra.
Cách dịch và giải thích chi tiết có khác biệt giữa các truyền thống và học giả, thường được hiểu theo hướng:
đặt/hướng tâm tới đối tượng,
duy trì/xem xét đối tượng,
hoặc được dịch bằng những từ liên quan đến:
tầm và tứ.
Điều quan trọng ở đây là:
KHÔNG NÊN ĐỊNH NGHĨA MỌI THIỀN ĐỊNH
BẰNG “HOÀN TOÀN KHÔNG CÓ BẤT KỲ HOẠT ĐỘNG TÂM NÀO.”
Ở các tầng thiền sâu hơn:
những hoạt động này được làm lắng xuống.
18. Nhị thiền cho thấy sự tĩnh lặng sâu hơn
Trong mô tả truyền thống:
khi tầm và tứ lắng xuống,
tâm đi vào:
sự định tĩnh sâu hơn,
nội tĩnh,
nhất tâm mạnh hơn.
Điều này cho thấy:
thiền có tiến trình tinh luyện.
Không phải vừa ngồi xuống là:
“xóa sạch mọi suy nghĩ.”
19. Các tầng thiền không phải cuộc thi xem ai “trống đầu” hơn
Nếu hiểu như vậy:
sơ thiền = ít nghĩ,
nhị thiền = không nghĩ,
rồi càng cao càng “không có gì,”
thì rất dễ làm nghèo cấu trúc thiền định.
Các tầng thiền còn liên quan tới sự biến đổi của:
hỷ,
lạc,
xả,
niệm,
nhất tâm,
sự ly dục,
sự lắng dịu của các yếu tố tâm.
Do đó:
JHĀNA KHÔNG NÊN ĐƯỢC GIẢN LƯỢC
THÀNH “TẮT SUY NGHĨ.”
20. Định không phải vô thức
Nếu một người:
ngủ say,
thì:
có thể không có dòng suy nghĩ mà họ nhận biết.
Nhưng:
NGỦ KHÔNG PHẢI THIỀN ĐỊNH.
Nếu một người:
ngất,
thì cũng không vì:
không suy nghĩ
mà thành:
Chánh định.
Do đó:
ÍT Ý NGHĨ
KHÔNG PHẢI TIÊU CHUẨN ĐỦ.
21. Định cần sự tỉnh thức
Một tâm định tốt có tính:
ổn định,
rõ,
ít dao động,
ít bị triền cái chi phối.
Có thể dùng hình ảnh:
một hồ nước lắng.
Khi nước:
liên tục bị khuấy,
ta khó nhìn xuống đáy.
Khi nước:
lắng,
khả năng nhìn:
tăng lên.
Nhưng nếu nước:
bị phủ bùn đen
thì dù:
không có sóng
ta vẫn:
không nhìn thấy gì.
Tương tự:
TĨNH
CHƯA ĐỦ.
Còn cần:
SÁNG.
22. Đây là lý do Định hỗ trợ Tuệ
Tâm tán loạn:
rất khó quan sát tinh tế.
Ví dụ một cảm thọ vừa sinh:
tâm đã chạy sang câu chuyện.
Một cơn sân vừa xuất hiện:
tâm đã trở thành cơn sân.
Một ý nghĩ xuất hiện:
ta đã sống trong nó năm phút.
Khi định tăng:
tâm có khả năng ở lại,
quan sát,
thấy sinh,
thấy diệt,
thấy phản ứng.
Vì vậy:
ĐỊNH TẠO ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI CHO TUỆ.
23. Nhưng Định không tự động là Tuệ
Một người có thể:
đạt trạng thái định rất sâu
nhưng chưa:
đoạn tận vô minh.
Đây là phân biệt quan trọng.
Định có thể:
làm các phiền não tạm thời lắng xuống.
Nhưng:
lắng xuống
không nhất thiết là:
được nhổ tận gốc.
Ví dụ:
sân không xuất hiện trong lúc định
không tự động chứng minh:
sân đã đoạn tận.
24. Đè nén khác đoạn tận
Đè nén
Phiền não:
không biểu hiện
vì:
điều kiện hiện tại không thuận lợi.
Khi điều kiện thay đổi:
nó trở lại.
Đoạn tận
Gốc:
vô minh,
ái,
thủ
được phá vỡ ở cấp độ tương ứng của con đường.
Đây là lý do:
ĐỊNH SÂU
CHƯA ĐỒNG NGHĨA
GIẢI THOÁT.
25. Một ví dụ rất đời thường
Một người đi nghỉ ở nơi yên tĩnh.
Trong ba ngày:
không ai chọc giận.
Người ấy nghĩ:
“Tôi hết sân rồi.”
Sau đó trở về:
gặp đúng người thường gây khó chịu.
Sân:
bùng lên.
Ba ngày yên:
không chứng minh sân đã đoạn tận.
Tương tự:
phiền não không xuất hiện trong trạng thái định
không nhất thiết có nghĩa:
gốc phiền não đã bị phá hủy.
26. Vậy tại sao vẫn cần Định?
Vì nói:
“Định chưa đủ”
không có nghĩa:
“Định không cần.”
Một tâm liên tục:
bị tham,
sân,
lo,
phóng dật,
hôn trầm
kéo đi rất khó:
thấy rõ thực tại.
Định làm:
tâm có sức,
ổn định,
ít phân tán,
thuận lợi cho việc thấy sâu.
Có thể ví:
ĐỊNH LÀM ỐNG KÍNH ỔN ĐỊNH.
TUỆ DÙNG ỐNG KÍNH ẤY ĐỂ THẤY.
27. Giới cũng liên quan trực tiếp tới Định
Nếu một người:
nói dối liên tục,
gây hại,
sống đầy xung đột,
làm những việc khiến mình hối hận,
rồi ngồi xuống yêu cầu:
“Tâm, im ngay!”
thì rất khó.
Giới giúp giảm:
hối hận,
bất an,
xung đột,
nhiều nguyên nhân làm tâm dao động.
Do đó:
GIỚI
tạo điều kiện cho:
ĐỊNH.
28. Đây là logic Giới – Định – Tuệ
Có thể hình dung:
GIỚI
↓
giảm nhiều nguyên nhân gây:
bất an và hối hận
↓
ĐỊNH
↓
tâm ổn định và sáng hơn
↓
TUỆ
↓
thấy rõ:
Vô thường,
Khổ,
Vô ngã,
Duyên khởi,
sự sinh diệt và chấp thủ
↓
GIẢI THOÁT.
Đây là sơ đồ sư phạm.
Trong thực hành:
ba mặt hỗ trợ qua lại,
không phải ba chiếc hộp hoàn toàn tách rời.
29. Ép tâm quá mạnh có thể phản tác dụng
Hãy thử ra lệnh:
“Trong một phút tuyệt đối không được nghĩ đến con voi trắng.”
Ngay lập tức:
con voi trắng
có thể xuất hiện.
Tương tự:
“Không được nghĩ.”
khiến tâm liên tục kiểm tra:
“Mình đang nghĩ không?”
Và việc kiểm tra ấy:
lại là hoạt động tâm.
Do đó:
CHỐNG Ý NGHĨ
CÓ THỂ TRỞ THÀNH
MỘT CÁCH NUÔI Ý NGHĨ.
30. Cách thực hành mềm hơn
Ví dụ với hơi thở:
Bước 1
Biết:
đang hít vào.
Bước 2
Biết:
đang thở ra.
Bước 3
Tâm chạy.
Bước 4
Nhận ra:
“đang suy nghĩ.”
Bước 5
Không:
tự trách.
Không:
phân tích tiếp câu chuyện.
Bước 6
Trở lại:
hơi thở.
Lặp lại.
Đây không phải:
thất bại lặp đi lặp lại.
Đây chính là:
HUẤN LUYỆN KHẢ NĂNG TRỞ VỀ.
31. Mỗi lần trở lại là một lần huấn luyện
Ta thường chỉ quan tâm:
“Tôi đã ở với hơi thở bao lâu?”
Nhưng một kỹ năng khác cũng đang được phát triển:
nhận ra mình đã đi.
Và:
quay lại mà không nuôi thêm phản ứng.
Dần dần:
tâm đi ít hơn,
nhận ra sớm hơn,
trở lại nhẹ hơn,
ở lâu hơn.
Định:
được nuôi bằng tiến trình này.
32. Đừng biến hơi thở thành cái còng
Có người cố:
giữ hơi thở bằng ý chí.
Kết quả:
thở không tự nhiên,
ngực căng,
đầu căng,
thân mệt.
Mục đích không nhất thiết là:
điều khiển từng hơi thở.
Trong thực hành niệm hơi thở căn bản:
biết hơi thở
quan trọng hơn:
bắt hơi thở phục tùng cái Tôi.
33. Định không phải một cuộc chiến với tâm
Nếu mỗi lần ngồi thiền là:
TÔI
đấu với:
TÂM TÔI,
thì đã xuất hiện:
một cấu trúc đối kháng.
Ta có thể thay đổi cách nhìn:
tâm đang tán.
Biết:
tán.
Tâm đang buồn ngủ.
Biết:
buồn ngủ.
Tâm đang sân.
Biết:
sân.
Sau đó:
áp dụng phương pháp thích hợp.
Đây gần với:
HUẤN LUYỆN
hơn là:
TRẤN ÁP.
34. Nhưng “không ép” cũng không có nghĩa buông xuôi
Đây là cực đoan ngược lại.
Một người nghĩ:
“Không nên ép tâm nên cứ để nó nghĩ gì thì nghĩ.”
Ngồi 30 phút:
lập kế hoạch,
tưởng tượng,
nhớ chuyện cũ,
tranh luận trong đầu.
Rồi gọi:
“thiền tự nhiên.”
Đó cũng chưa chắc là tu định.
Không cưỡng ép:
≠
không huấn luyện.
35. Cần sự cân bằng
Quá ít năng lượng:
hôn trầm.
Quá nhiều căng thẳng:
trạo cử.
Quá buông:
tán loạn.
Quá siết:
căng cứng.
Do đó thực hành giống:
chỉnh dây đàn.
Quá căng:
dễ đứt.
Quá chùng:
không phát đúng tiếng.
Hình ảnh dây đàn là một mô-típ kinh điển quen thuộc để diễn tả sự điều chỉnh tinh tấn.
36. Thất giác chi cũng cho thấy nguyên tắc cân bằng
Bảy giác chi gồm:
niệm,
trạch pháp,
tinh tấn,
hỷ,
khinh an,
định,
xả.
Khi tâm:
quá trì trệ,
các yếu tố mang tính kích hoạt như:
trạch pháp,
tinh tấn,
hỷ
có thể phù hợp.
Khi tâm:
quá kích động,
các yếu tố làm lắng như:
khinh an,
định,
xả
có thể phù hợp.
Niệm:
giúp nhận biết trạng thái.
Điều này cho thấy:
TU TÂM LÀ ĐIỀU CHỈNH CÓ TRÍ TUỆ,
không phải:
DÙNG MỘT LỰC DUY NHẤT ĐỂ ÉP MỌI TRẠNG THÁI.
37. Định không đồng nghĩa Chánh niệm
Hai yếu tố:
liên hệ chặt chẽ
nhưng:
không hoàn toàn đồng nhất.
Chánh niệm giúp:
không quên,
nhận biết,
duy trì sự tỉnh giác đối với đối tượng và tiến trình.
Định giúp:
tâm ổn định,
bớt phân tán,
thuần nhất hơn.
Có thể có:
chú ý mạnh
nhưng thiếu:
chánh niệm.
Cũng có thể:
nhận biết nhiều hiện tượng
nhưng định:
chưa sâu.
38. Định cũng không đồng nghĩa thiền
“Thiền” là từ:
rộng hơn.
Thực hành Phật giáo có thể bao gồm:
niệm hơi thở,
quán thân,
quán thọ,
quán tâm,
quán pháp,
từ tâm,
bất tịnh,
niệm Phật,
nhiều phương pháp khác tùy truyền thống.
Định:
là một phẩm chất tâm quan trọng có thể được phát triển trong nhiều phương pháp.
Không nên đồng nhất:
THIỀN = NGỒI YÊN = KHÔNG NGHĨ.
39. Định và Vipassanā cũng không phải kẻ thù
Một cách trình bày quá đơn giản thường là:
Samatha = định.
Vipassanā = tuệ.
Hai thứ tách biệt.
Trong thực tế các truyền thống giải thích quan hệ này với nhiều chi tiết khác nhau.
Nhưng về nguyên tắc:
sự an tĩnh và khả năng thấy rõ có thể hỗ trợ nhau.
Tâm càng:
ổn định
thì càng thuận lợi:
quan sát tinh tế.
Tuệ càng phát triển:
tâm càng bớt chạy theo nhiều chấp thủ.
40. Định sâu có thể rất dễ chịu
Khi các triền cái lắng xuống:
hỷ,
lạc,
khinh an,
sự ổn định
có thể trở nên mạnh.
Đây là:
những trạng thái có giá trị.
Nhưng một nguy cơ xuất hiện:
THAM ĐỊNH.
Ta có thể nghĩ:
“Tôi phải lấy lại trạng thái hôm qua.”
Rồi mỗi lần ngồi:
săn tìm nó.
Lúc ấy:
ái đã đi vào chính việc tu định.
41. Không nên biến định thành thành tích của cái Tôi
Một người có thể nghĩ:
“Tôi ngồi được hai giờ.”
“Tôi vào tầng này.”
“Tôi định sâu hơn người kia.”
Lúc đó:
ĐỊNH
có thể trở thành nguyên liệu cho:
MẠN.
Đây là lý do Đại Kinh Ví Dụ Lõi Cây cảnh báo:
ngay cả những thành tựu cao trong tu tập cũng không nên bị nhầm với cứu cánh.
42. Định không chứng minh Thánh quả
Không thể suy:
định sâu = Nhập lưu.
Hoặc:
jhāna = A-la-hán.
Các tầng thiền:
là những thành tựu tâm quan trọng.
Nhưng Thánh quả liên quan tới:
đoạn trừ các trói buộc và vô minh ở những cấp độ xác định.
Vì vậy:
TRẢI NGHIỆM MẠNH
≠
GIẢI THOÁT.
43. “Tâm không nghĩ” cũng có thể trở thành một đối tượng chấp
Một người trải nghiệm:
trạng thái cực kỳ yên.
Sau đó nghĩ:
“Đây mới là tâm thật của tôi.”
Hoặc:
“Cái tĩnh lặng này là linh hồn.”
Đây là một bước rất nguy hiểm.
Trong Phật giáo:
một trạng thái thiền định
không nên tự động được biến thành:
một tự ngã thường hằng.
44. Trạng thái định vẫn phải được nhìn bằng trí tuệ
Một trạng thái:
sinh do điều kiện.
Nó được duy trì:
nhờ điều kiện.
Khi điều kiện thay đổi:
trạng thái thay đổi.
Do đó người thực hành không chỉ hỏi:
“Làm sao giữ trạng thái này mãi?”
mà còn có thể thấy:
ngay cả trạng thái rất tinh tế cũng không đáng để chấp là Tôi hay của Tôi.
Đây là nơi:
ĐỊNH
trở thành nền hỗ trợ cho:
TUỆ.
45. Đại thừa có phủ nhận định không?
Không.
Đại thừa tiếp tục coi:
dhyāna / samādhi
là những thành phần rất quan trọng.
Trong Sáu Ba-la-mật có:
DHYĀNA-PĀRAMITĀ
THIỀN ĐỊNH BA-LA-MẬT.
Nhưng nó đi cùng:
bố thí,
trì giới,
nhẫn,
tinh tấn,
và đặc biệt:
Bát-nhã.
Do đó:
ĐỊNH KHÔNG THAY THẾ TRÍ TUỆ.
46. Zen/Thiền tông cũng không đơn giản là “không nghĩ”
Những khẩu hiệu như:
“vô niệm”
rất dễ bị hiểu:
đầu óc hoàn toàn không có tư tưởng.
Nhưng trong nhiều cách giải thích Thiền tông:
vấn đề không phải phá hủy khả năng tư duy,
mà là:
không bị niệm trói buộc và chấp giữ.
Nếu “vô niệm” được hiểu:
não không còn hoạt động
thì:
ngủ sâu hoặc bất tỉnh
sẽ trở thành thành tựu thiền.
Rõ ràng:
đó không phải ý nghĩa cần hướng tới.
47. Kim Cương thừa cũng không lấy đờ đẫn làm định
Trong nhiều hệ thống Kim Cương thừa:
sự sáng rõ của nhận biết
được đặc biệt nhấn mạnh.
Một trạng thái:
yên nhưng tối,
ít ý nghĩ nhưng mờ,
không tỉnh
không nên bị nhầm với:
nhận biết sâu sắc.
Vì vậy dù phương pháp khác nhau:
TĨNH LẶNG
KHÔNG ĐƯỢC TÁCH KHỎI
TỈNH GIÁC.
48. Vậy khi ý nghĩ xuất hiện phải làm gì?
Không có một kỹ thuật duy nhất phù hợp cho:
mọi người,
mọi pháp môn,
mọi giai đoạn.
Nhưng với thực hành định căn bản, có thể dùng nguyên tắc:
1. Nhận biết
“Có ý nghĩ.”
2. Không tự trách
Không thêm:
“Tôi thiền quá tệ.”
3. Không tiếp tục câu chuyện
Không cần:
giải quyết nó ngay trong lúc thiền.
4. Trở lại đối tượng
Ví dụ:
hơi thở.
5. Lặp lại
Nhẹ nhưng:
kiên trì.
49. Nếu ý nghĩ quá mạnh?
Có thể cần xem:
nguyên nhân.
Ví dụ:
Việc chưa giải quyết
Có thể:
ghi lại trước khi thiền.
Sân
Có thể:
phát triển từ tâm.
Dục mạnh
Có thể:
xem xét hậu quả và tính vô thường của khoái lạc.
Hôn trầm
Có thể:
tăng năng lượng,
mở mắt,
thay đổi tư thế,
đi kinh hành.
Trạo cử
Có thể:
làm dịu thân,
theo dõi hơi thở,
giảm kích thích.
Điểm quan trọng:
ĐỐI TRỊ ĐÚNG NGUYÊN NHÂN
thay vì:
“MỌI VẤN ĐỀ ĐỀU GIẢI QUYẾT BẰNG ÉP MẠNH HƠN.”
50. Một bảng phân biệt
| Trạng thái | Có phải Định không? |
|---|---|
| Ép mình không nghĩ | Không nhất thiết |
| Đầu óc trống nhưng mờ | Không nhất thiết |
| Hôn trầm | Không |
| Ngủ | Không |
| Bất tỉnh | Không |
| Tập trung mạnh để làm điều bất thiện | Không phải Chánh định |
| Ý nghĩ xuất hiện rồi nhận biết và trở lại | Bình thường trong huấn luyện |
| Tâm ổn định, sáng, ít bị triền cái kéo | Định đang phát triển |
| Jhāna | Thành tựu định sâu trong các hệ thống liên quan |
| Định sâu | Không tự động là Tuệ |
| Định sâu | Không tự động là Thánh quả |
| Không chấp trạng thái định | Quan trọng cho tiến trình giải thoát |
51. Những hiểu lầm thường gặp
“Thiền giỏi là không có ý nghĩ”
Không chính xác.
Đó không phải tiêu chuẩn đầy đủ của thiền hay Chánh định.
“Có ý nghĩ nghĩa là thiền thất bại”
Không.
Quan trọng là:
nhận ra và không bị kéo đi mãi.
“Càng ép mạnh càng nhanh định”
Không nhất thiết.
Quá nhiều lực có thể:
tăng căng thẳng và trạo cử.
“Thư giãn hoàn toàn, để tâm nghĩ gì cũng được là định”
Cũng không.
Không cưỡng ép:
không đồng nghĩa không huấn luyện.
“Tâm trống là giác ngộ”
Không.
Trống:
không chứng minh đã đoạn vô minh, ái và thủ.
“Định sâu là giải thoát”
Không.
Định:
hỗ trợ Tuệ.
Giải thoát đòi hỏi:
đoạn tận những nguyên nhân trói buộc.
52. Một cách kiểm tra tốt hơn
Thay vì hỏi:
“Hôm nay tôi không nghĩ được bao nhiêu phút?”
hãy thử hỏi:
Tâm có bớt tán không?
Tôi nhận ra phân tâm sớm hơn không?
Khi nhận ra, tôi trở lại nhẹ hơn không?
Năm triền cái có yếu hơn không?
Tâm có sáng rõ hơn không?
Tôi có ít sân với chính tâm mình hơn không?
Khả năng quan sát sinh–diệt có tốt hơn không?
Những câu hỏi ấy:
hữu ích hơn việc chỉ đếm khoảng trống giữa các ý nghĩ.
53. Định tốt không làm ta chạy trốn đời sống
Nếu chỉ:
yên khi đóng cửa ngồi một mình,
nhưng ra ngoài:
một câu chê đã làm tâm bùng nổ,
thì:
việc tu vẫn còn rất nhiều.
Định cần được tích hợp vào:
đời sống,
Chánh niệm,
Giới,
Tuệ.
Mục tiêu không phải:
XÂY MỘT CĂN PHÒNG TĨNH LẶNG TRONG ĐẦU
ĐỂ TRỐN KHỎI THẾ GIỚI.
Mà là:
HUẤN LUYỆN MỘT TÂM
KHÔNG DỄ BỊ THẾ GIỚI LÔI KÉO.
54. Khi định trưởng thành
Tâm có thể:
ở yên hơn,
ít bị kéo,
ít phải cưỡng ép,
sáng hơn,
nhẹ hơn,
có khả năng quan sát tinh tế hơn.
Điều thú vị là:
ĐỊNH CÀNG TRƯỞNG THÀNH
CÓ THỂ CÀNG ÍT CẢM GIÁC “TÔI ĐANG CỐ GIỮ.”
Ban đầu:
phải liên tục đưa tâm về.
Dần dần:
tâm có xu hướng ở lại.
Đó là:
huấn luyện đã tạo thành điều kiện mới.
55. Duyên khởi giải thích điều này rất hay
Tâm tán:
không phải bản chất vĩnh viễn.
Nó:
có điều kiện.
Tâm định:
cũng có điều kiện.
Nếu liên tục tạo:
giới,
môi trường thích hợp,
chánh niệm,
tinh tấn đúng,
thực hành đều,
thì:
điều kiện của định được nuôi dưỡng.
Vì vậy:
ĐỊNH KHÔNG PHẢI
MỘT TRẬN CHIẾN Ý CHÍ.
Nó là:
KẾT QUẢ CỦA NHỮNG DUYÊN
ĐƯỢC HUẤN LUYỆN ĐÚNG.
56. Từ “ép tâm” sang “huấn luyện tâm”
Có thể hình dung tiến trình:
“TÔI PHẢI KHÔNG NGHĨ.”
↓
“TÔI ĐANG CĂNG VÌ MUỐN KHÔNG NGHĨ.”
↓
“Ý NGHĨ ĐANG XUẤT HIỆN.”
↓
“TÔI KHÔNG CẦN CHẠY THEO.”
↓
“TRỞ LẠI ĐỐI TƯỢNG.”
↓
“TÂM DẦN ỔN ĐỊNH.”
↓
“KHÔNG CẦN GIỮ QUÁ MẠNH.”
↓
ĐỊNH.
Đây là:
sơ đồ sư phạm
chứ không phải:
một công thức thiền duy nhất cho mọi truyền thống.
57. Từ Định đến Tuệ
Khi tâm ổn định:
một cảm thọ xuất hiện.
Ta có thể:
thấy nó sinh.
Không lập tức:
chạy theo.
Ta thấy:
nó thay đổi.
Rồi:
nó diệt.
Một ý nghĩ xuất hiện.
Ta thấy:
nó không phải Tôi.
Một cơn sân xuất hiện.
Ta thấy:
nó do duyên.
Đây là lúc:
ĐỊNH
không còn chỉ giúp:
tâm yên.
Nó trở thành nền cho:
THẤY PHÁP.
58. Đích đến không phải “không còn suy nghĩ”
Nếu mục tiêu tối hậu chỉ là:
không suy nghĩ,
thì:
ngủ,
ngất,
hôn trầm
sẽ trở thành lý tưởng.
Nhưng mục tiêu Phật giáo là:
ĐOẠN THAM.
ĐOẠN SÂN.
ĐOẠN SI.
ĐOẠN ÁI.
ĐOẠN THỦ.
GIẢI THOÁT KHỎI KHỔ.
Do đó:
TĨNH LẶNG LÀ PHƯƠNG TIỆN QUAN TRỌNG.
Nhưng:
TĨNH LẶNG KHÔNG PHẢI TOÀN BỘ CỨU CÁNH.
59. Công thức cần nhớ
ĐỊNH
≠
KHÔNG CÓ Ý NGHĨ.
ĐỊNH
≠
ĐÈ NÉN Ý NGHĨ.
ĐỊNH
≠
HÔN TRẦM.
ĐỊNH
≠
TRỐNG RỖNG.
ĐỊNH
≠
MẤT NHẬN BIẾT.
ĐỊNH
≠
GIẢI THOÁT.
Định là:
TÂM NGÀY CÀNG ỔN ĐỊNH,
THUẦN NHẤT,
SÁNG RÕ,
ÍT BỊ CÁC CHƯỚNG NGẠI KÉO ĐI,
và trong Bát Chánh Đạo:
được đặt trong hướng đi của Chánh kiến và giải thoát.
60. Kết luận
Khi bắt đầu thiền, ta thường nghĩ:
“Tâm này quá nhiều suy nghĩ. Tôi phải làm nó im.”
Rồi một cuộc chiến bắt đầu:
TÔI
chống:
Ý NGHĨ.
Nhưng càng chống:
càng căng.
Càng căng:
càng bất an.
Càng bất an:
càng khó định.
Con đường tinh tế hơn là:
BIẾT.
Ý nghĩ sinh:
biết.
Tâm chạy:
biết.
Sân xuất hiện:
biết.
Hôn trầm xuất hiện:
biết.
Trạo cử xuất hiện:
biết.
Rồi:
KHÔNG NUÔI THÊM.
KHÔNG TỰ TRÁCH.
ĐIỀU CHỈNH ĐÚNG.
TRỞ LẠI.
Qua sự thực hành lặp lại:
tâm dần bớt tán.
Khi tâm bớt tán:
định tăng.
Khi định tăng:
khả năng thấy rõ tăng.
Nhưng:
không dừng ở sự yên.
Bởi Phật giáo không chỉ muốn:
MỘT TÂM KHÔNG ỒN.
Mà hướng tới:
MỘT TÂM THẤY RÕ.
Thấy:
cái gì đang sinh.
Thấy:
nó sinh do duyên nào.
Thấy:
nó thay đổi.
Thấy:
nó diệt.
Thấy:
nó không đáng chấp là Tôi hay của Tôi.
Vì vậy:
GIỚI
LÀM ĐẤT.
ĐỊNH
LÀM TÂM LẮNG VÀ ỔN ĐỊNH.
TUỆ
GIÚP THẤY.
Và:
GIẢI THOÁT
KHÔNG PHẢI KHI TÂM BỊ ÉP ĐẾN MỨC KHÔNG CÒN SUY NGHĨ,
mà là khi:
NHỮNG NGUYÊN NHÂN CỦA TRÓI BUỘC
ĐƯỢC THẤY RÕ
VÀ ĐOẠN TẬN.
Do đó, khi một ý nghĩ xuất hiện trong lúc thiền:
đừng vội xem nó là kẻ thù.
Điều đáng quan sát hơn là:
TÂM CÓ NHẬN RA NÓ KHÔNG?
TÂM CÓ CHẠY THEO NÓ KHÔNG?
TÂM CÓ CHẤP NÓ LÀ “TÔI” KHÔNG?
VÀ TÂM CÓ THỂ BUÔNG
ĐỂ TRỞ LẠI MÀ KHÔNG CẦN ĐÁNH NHAU KHÔNG?
Đó là bước chuyển rất quan trọng:
TỪ ÉP TÂM
sang:
HUẤN LUYỆN TÂM.
Và từ:
CHỈ MUỐN TÂM YÊN
sang: