Vì sao càng muốn giữ hạnh phúc, con người càng dễ khổ?
Báo lỗi nội dung
Vì sao càng muốn giữ hạnh phúc, con người càng dễ khổ?
Vì sao càng muốn giữ hạnh phúc, con người càng dễ khổ?
1. Trả lời ngắn gọn
Bởi vì phần lớn những gì con người gọi là hạnh phúc trong đời sống đều:
do nhiều điều kiện tạo thành;
luôn biến đổi;
không hoàn toàn nằm trong quyền kiểm soát của ta.
Trong khi đó, tâm lại thường muốn:
“Hãy ở lại.”
“Đừng thay đổi.”
“Phải tiếp tục như thế này.”
“Đây là của tôi.”
Khi đó xuất hiện một xung đột:
THỰC TẠI
luôn thay đổi
↕
CHẤP THỦ
muốn nó không thay đổi.
Chính khoảng cách ấy trở thành một nguồn của khổ.
Vì vậy, vấn đề không nhất thiết nằm ở:
hạnh phúc.
Mà nằm ở:
cách tâm nắm giữ hạnh phúc.
2. Phật giáo có phủ nhận hạnh phúc không?
Không.
Đây là hiểu lầm rất phổ biến.
Phật giáo không nói:
“Hạnh phúc là xấu.”
Trong kinh điển có nhiều loại hạnh phúc được thừa nhận:
hạnh phúc gia đình;
hạnh phúc do sống thiện;
hạnh phúc không hối hận;
hạnh phúc của bố thí;
hạnh phúc của thiền định;
hạnh phúc của ly tham;
an lạc của giải thoát.
Vì vậy vấn đề không phải:
HẠNH PHÚC
mà là:
ÁI VÀ THỦ ĐỐI VỚI HẠNH PHÚC.
3. Một khoảnh khắc hạnh phúc có thể hoàn toàn có thật
Giả sử một người đang ngồi cùng gia đình.
Mọi người:
khỏe mạnh;
vui vẻ;
yêu thương nhau.
Khoảnh khắc ấy là:
một kinh nghiệm hạnh phúc có thật.
Phật giáo không yêu cầu người ấy phải nghĩ:
“Mọi thứ vô thường, vậy vui làm gì?”
Đó không phải mục đích của quán vô thường.
Người ấy hoàn toàn có thể:
biết mình đang hạnh phúc và trân trọng khoảnh khắc ấy.
Vấn đề bắt đầu khi tâm thêm vào:
“Mọi người phải mãi mãi như thế này.”
4. Từ hạnh phúc đến sợ mất hạnh phúc
Một nghịch lý thường xảy ra:
Khi chưa có điều mình muốn:
khổ vì muốn có.
Khi vừa có:
vui.
Sau đó:
sợ mất.
Và khi mất:
khổ.
Có thể mô tả:
CHƯA CÓ
→ muốn có.
↓
CÓ
→ vui.
↓
CHẤP
→ muốn giữ.
↓
SỢ
→ sợ mất.
↓
THAY ĐỔI
→ chống đối.
↓
MẤT
→ khổ.
Như vậy cùng một đối tượng có thể tạo thành cả:
mong cầu trước khi có
và:
lo âu sau khi có.
5. Ví dụ: tình yêu
Hai người yêu nhau.
Ban đầu:
“Tôi rất hạnh phúc khi ở bên người này.”
Điều đó không có gì sai.
Nhưng dần dần có thể biến thành:
“Người này phải luôn yêu tôi.”
Rồi:
“Phải yêu tôi theo cách tôi muốn.”
Rồi:
“Không được thay đổi.”
Rồi:
“Không được rời khỏi tôi.”
Hạnh phúc ban đầu:
YÊU
đã dần biến thành:
SỞ HỮU.
Khi đó người kia chỉ cần thay đổi một chút:
bất an xuất hiện.
Vấn đề không nhất thiết là:
tình yêu.
Mà là:
sự chiếm hữu được gắn vào tình yêu.
6. Yêu và chấp không hoàn toàn giống nhau
Đây là một phân biệt rất quan trọng.
Có thể:
yêu một người
mà không nhất thiết phải:
xem người ấy là tài sản của mình.
Có thể:
mong người ấy hạnh phúc
mà không nhất thiết phải:
buộc hạnh phúc của họ phải diễn ra theo kế hoạch của mình.
Vì vậy:
TỪ – BI
không đồng nghĩa với:
ÁI – THỦ.
Một bên hướng đến:
lợi ích của người kia.
Một bên dễ chuyển thành:
“người kia phải đáp ứng nhu cầu của tôi.”
Trong đời sống thực tế, hai thứ có thể trộn lẫn và cần được quan sát cẩn thận.
7. Ví dụ: tiền bạc
Một người nghĩ:
“Nếu tôi có một tỷ, tôi sẽ yên tâm.”
Khi có một tỷ:
“Nếu mất thì sao?”
Sau đó:
“Có lẽ phải có hai tỷ mới an toàn.”
Có hai tỷ:
“Nhưng người kia có mười tỷ.”
Vấn đề lúc này không còn đơn giản là:
tiền có ích hay không.
Tiền rõ ràng có thể giải quyết nhiều khó khăn thực tế.
Nhưng tâm có khả năng biến:
phương tiện tạo an toàn tương đối
thành:
điều kiện bắt buộc để cảm thấy mình ổn.
Khi đó:
càng sở hữu nhiều, đôi khi càng có nhiều thứ phải bảo vệ.
8. Ví dụ: tuổi trẻ
Một người đang trẻ và đẹp.
Nếu chỉ:
trân trọng sức khỏe và tuổi trẻ
thì không có vấn đề.
Nhưng nếu tâm quyết định:
“Tôi phải luôn như thế này.”
thì từ khoảnh khắc ấy:
nếp nhăn
tóc bạc
sức khỏe giảm
không còn chỉ là biến đổi tự nhiên.
Chúng trở thành:
mối đe dọa đối với cái tôi.
Khổ tăng lên không chỉ vì thân thay đổi.
Mà còn vì:
tâm chống lại việc thân thay đổi.
9. Đây chính là mối liên hệ giữa Vô thường và Khổ
Trong Phật giáo:
anicca – vô thường
và:
dukkha – khổ/bất toại nguyện
liên hệ rất sâu.
Không phải đơn giản:
“Cái gì thay đổi cũng đau khổ.”
Nếu trời nóng chuyển sang mát:
ta có thể rất vui.
Nếu bệnh chuyển thành khỏe:
ta vui.
Nếu nghèo chuyển thành khá giả:
ta vui.
Vì vậy:
thay đổi tự nó không phải lúc nào cũng được kinh nghiệm như đau khổ.
Điểm sâu hơn là:
cái vô thường không thể cung cấp sự thỏa mãn vĩnh viễn nếu ta đòi nó phải tồn tại theo ý mình.
10. Thọ → Ái → Thủ
Duyên khởi cung cấp một mô hình đặc biệt hữu ích:
XÚC
↓
THỌ
↓
ÁI
↓
THỦ
↓
HỮU
↓
KHỔ
Ví dụ:
Ăn món ngon.
↓
THỌ
“Dễ chịu.”
↓
ÁI
“Muốn thêm.”
↓
THỦ
“Tôi phải có nó.”
↓
Khi không có:
bực bội.
Một kinh nghiệm dễ chịu ban đầu không nhất thiết là vấn đề.
Bước quan trọng nằm ở sự chuyển từ:
dễ chịu
sang:
khát
rồi:
nắm giữ.
11. Vì sao tâm muốn giữ cái dễ chịu?
Bởi tâm thường vận hành theo xu hướng:
gặp dễ chịu → muốn kéo lại.
gặp khó chịu → muốn đẩy đi.
gặp trung tính → dễ rơi vào không biết rõ.
Đối với cảm giác dễ chịu:
lạc thọ
có thể trở thành điều kiện cho:
ái.
Tâm không chỉ kinh nghiệm:
“Dễ chịu.”
Mà thêm:
“Tôi muốn nó tiếp tục.”
Chính chữ:
“tiếp tục”
là nơi vô thường bắt đầu va chạm với ái.
12. Hạnh phúc chưa mất mà ta đã khổ
Đây là một điểm rất đáng chú ý.
Một người đang có:
sức khỏe;
tiền;
gia đình;
địa vị.
Nhưng nghĩ:
“Nếu một ngày tôi mất tất cả thì sao?”
Chưa có gì mất.
Nhưng tâm đã:
khổ vì khả năng sẽ mất.
Như vậy chấp thủ có thể tạo ra:
khổ trước khi mất
↓
khổ trong khi mất
↓
khổ sau khi mất.
Trong khi bản thân đối tượng ban đầu từng mang lại:
hạnh phúc.
13. Vậy muốn hạnh phúc có phải sai?
Không.
Đây phải được phân biệt thật rõ.
Phật giáo không dạy:
“Muốn hạnh phúc là tội lỗi.”
Vấn đề là loại hạnh phúc nào và tâm quan hệ với nó ra sao.
Có những hạnh phúc phụ thuộc mạnh vào:
kích thích và chiếm hữu.
Có những hạnh phúc phát sinh từ:
bố thí;
giới;
không hối hận;
từ bi;
định;
ly tham.
Con đường Phật giáo có thể được hiểu như sự chuyển dịch:
từ những hạnh phúc phụ thuộc mạnh vào nắm giữ
sang:
những hạnh phúc ngày càng ít phụ thuộc vào nắm giữ.
14. Đây là điểm rất khác với chủ nghĩa khổ hạnh cực đoan
Đức Phật không kết luận:
“Dục lạc không bền, vậy phải hành hạ bản thân.”
Trước khi giác ngộ, Ngài đã trải qua khổ hạnh cực đoan và từ bỏ con đường ấy.
Trung đạo tránh hai cực:
chìm đắm trong dục lạc
và:
hành hạ bản thân.
Do vậy mục tiêu không phải:
ghét hạnh phúc.
Mà là:
hiểu hạnh phúc, hiểu giới hạn của nó và không biến nó thành đối tượng chấp thủ.
15. Có thể hưởng hạnh phúc mà không chấp không?
Đó chính là một hướng tu tập quan trọng.
Ví dụ đang uống một tách trà ngon.
Có thể:
biết nó ngon.
thưởng thức.
biết ơn.
biết cảm giác dễ chịu đang có.
Nhưng không cần thêm:
“Tôi phải có cảm giác này mãi.”
Khi trà hết:
trà hết.
Không cần biến nó thành:
một cuộc khủng hoảng.
Đây là ví dụ nhỏ nhưng phản ánh một nguyên lý rất lớn.
16. Trân trọng khác với nắm giữ
Có thể phân biệt:
Trân trọng
“Điều này quý giá vì nó đang có mặt.”
Chấp thủ
“Điều này phải ở lại vì tôi cần nó.”
Một bên nhìn thấy:
giá trị hiện tại.
Một bên đòi hỏi:
sự bảo đảm cho tương lai.
Nghịch lý là:
thấy vô thường có thể làm ta trân trọng sâu hơn, chứ không nhất thiết ít trân trọng hơn.
17. Biết sẽ mất có làm hạnh phúc giảm đi không?
Không nhất thiết.
Hãy tưởng tượng còn một ngày với người mình yêu.
Có hai cách sống.
Cách thứ nhất
Cả ngày nghĩ:
“Ngày mai sẽ mất.”
→ sợ hãi.
Cách thứ hai
Biết:
“Thời gian này hữu hạn.”
→ hiện diện trọn vẹn hơn.
Cùng một nhận thức:
vô thường.
Nhưng một bên bị:
ái và sợ hãi
chi phối.
Một bên phát triển:
chánh niệm và trân trọng.
Do đó quán vô thường không phải luyện tập:
lo mất mọi thứ.
Mà là học:
không sống như thể mọi thứ chắc chắn tồn tại mãi.
18. “Không chấp” có nghĩa không quan tâm?
Không.
Một người mẹ có thể:
chăm sóc con;
bảo vệ con;
hy sinh cho con;
nhưng vẫn hiểu:
con không phải tài sản của mình.
Ngược lại, một người có thể tuyên bố:
“Tôi không chấp.”
nhưng thực chất:
không quan tâm.
Đó không phải cùng một điều.
Có thể phân biệt:
CHẤP
“Con phải sống theo ý tôi.”
THỜ Ơ
“Con thế nào cũng được.”
THƯƠNG MÀ KHÔNG CHIẾM HỮU
“Tôi sẽ làm điều tốt nhất có thể cho con, đồng thời biết con là một con người có đời sống và nhân duyên riêng.”
19. Buông không phải đợi đến khi mất
Đây là một điểm rất sâu.
Thông thường:
có
↓
nắm
↓
bị mất
↓
buộc phải buông.
Phật giáo đề nghị học một cách khác:
có
↓
biết đang có
↓
trân trọng
↓
biết vô thường
↓
không biến thành sở hữu tuyệt đối.
Khi thay đổi xảy ra:
tâm vẫn đau nếu có điều đáng đau, nhưng không nhất thiết thêm toàn bộ tầng chống đối và chiếm hữu.
20. Hai mũi tên
Một hình ảnh kinh điển rất hữu ích là hai mũi tên.
Khi một kinh nghiệm đau xảy ra:
Mũi tên thứ nhất
đau do sự kiện.
Ví dụ:
mất người thân.
Đó là đau.
Mũi tên thứ hai
Tâm thêm:
“Không thể như thế!”
“Tại sao lại là tôi?”
“Điều này không được phép xảy ra!”
Mũi tên thứ hai là tầng phản ứng tâm lý có thể làm khổ tăng lên rất nhiều.
Tu tập không bảo đảm:
không bao giờ trúng mũi tên thứ nhất.
Nhưng có thể giúp:
không liên tục tự bắn thêm mũi tên thứ hai.
21. Có phải người giác ngộ không còn cảm nhận dễ chịu?
Không.
Nếu giải thoát đồng nghĩa:
không cảm giác gì
thì đó gần với trạng thái vô tri hơn là trí tuệ.
Một vị giải thoát khi còn sống vẫn có:
xúc;
thọ;
kinh nghiệm dễ chịu và khó chịu của thân.
Điểm khác biệt nằm ở:
ái và chấp thủ đối với thọ.
Có thể có:
LẠC THỌ
nhưng không nhất thiết:
“Tôi phải có thêm.”
Có thể có:
KHỔ THỌ
mà không nhất thiết:
“Tôi phải tiêu diệt thực tại này ngay.”
Đó là sự tự do trong quan hệ với kinh nghiệm.
22. Hạnh phúc dựa trên điều kiện có vấn đề gì?
Không phải nó:
không tồn tại.
Nó tồn tại.
Vấn đề là nó:
phụ thuộc điều kiện.
Ví dụ:
“Tôi hạnh phúc khi người này yêu tôi.”
Điều kiện:
người ấy yêu tôi.
Nếu điều kiện thay đổi:
hạnh phúc thay đổi.
Hoặc:
“Tôi hạnh phúc khi cơ thể khỏe.”
Điều kiện:
sức khỏe.
Thân thay đổi:
hạnh phúc bị đe dọa.
Vì vậy Phật giáo không phủ nhận hạnh phúc hữu vi.
Nó chỉ chỉ ra:
hạnh phúc có điều kiện không thể cung cấp sự bảo đảm vô điều kiện.
23. Đây là lý do Niết-bàn được đặt ở vị trí đặc biệt
Con đường Phật giáo không chỉ tìm:
một cảm giác dễ chịu kéo dài vô tận.
Nếu Niết-bàn chỉ là:
“lạc thọ không bao giờ hết”
thì vẫn đang định nghĩa cứu cánh bằng cùng logic:
“Tôi muốn một cảm giác dễ chịu và muốn giữ nó mãi.”
Nhưng Niết-bàn được mô tả qua:
đoạn tham;
đoạn sân;
đoạn si;
đoạn ái;
tịch tịnh;
vô vi.
Do đó chiều hướng của con đường là:
không phải tìm một đối tượng hoàn hảo để bám mãi mãi, mà chấm dứt chính cơ chế phải bám vào một đối tượng để được an ổn.
24. Phật giáo sơ kỳ
Trong giáo lý sớm, vấn đề được trình bày rất rõ qua:
thọ → ái → thủ.
Lạc thọ không nhất thiết phải bị phủ nhận.
Nhưng khi không thấy rõ bản chất của thọ:
ái có thể sinh.
Khi ái được nuôi:
thủ phát triển.
Do đó hành giả học:
cảm nhận mà không nhất thiết biến cảm nhận thành nắm giữ.
Đây là một trong những điểm cốt lõi của việc quan sát thọ.
25. Theravāda
Theravāda phát triển mạnh việc quan sát:
vedanā – thọ
và nhận biết:
lạc;
khổ;
xả;
như các pháp:
sinh do duyên và diệt theo duyên.
Mục tiêu không phải:
triệt tiêu lạc thọ.
Mà là:
không để vô minh và ái tự động tiếp quản kinh nghiệm.
Do đó:
có lạc
không nhất thiết phải thành:
tham lạc.
26. Đại thừa
Đại thừa tiếp tục nền tảng:
vô thường;
duyên sinh;
vô ngã;
và phát triển mạnh:
tính Không.
Nếu:
bản thân người hưởng,
đối tượng được hưởng,
cảm giác hạnh phúc
đều duyên sinh và không có tự tính độc lập,
thì việc cố đóng băng chúng thành:
“tôi – của tôi – phải mãi như vậy”
là một dạng chấp trước.
Lý tưởng Bồ-tát vì vậy không phải:
trốn khỏi mọi quan hệ để khỏi đau.
Mà có thể:
dấn thân sâu sắc vào đời sống mà không biến chúng sinh thành đối tượng sở hữu của bản ngã.
27. Kim Cương thừa
Kim Cương thừa kế thừa nền tảng Đại thừa:
vô thường + tính Không + Bồ-đề tâm.
Các kinh nghiệm:
hỷ;
lạc;
sáng tỏ;
phi niệm;
có thể xuất hiện trong tu tập.
Nhưng nếu hành giả nghĩ:
“Tôi phải giữ trạng thái này.”
thì chính kinh nghiệm thiền lại trở thành:
đối tượng chấp thủ.
Vì vậy ngay cả:
hạnh phúc tâm linh
cũng không nên bị biến thành nơi trú của bản ngã.
28. Bảng phân biệt
| Trạng thái | Cách tâm phản ứng |
|---|---|
| Hưởng thụ | “Điều này dễ chịu.” |
| Trân trọng | “Điều này quý giá khi đang có.” |
| Ái | “Tôi muốn thêm.” |
| Thủ | “Tôi phải giữ nó.” |
| Chiếm hữu | “Nó là của tôi.” |
| Sợ mất | “Nó không được thay đổi.” |
| Tuệ vô thường | “Nó do duyên mà có nên sẽ thay đổi.” |
| Không chấp | “Tôi có thể trân trọng mà không đòi nó phải tồn tại mãi.” |
29. Một nghịch lý rất đẹp
Ta thường nghĩ:
Muốn hạnh phúc hơn thì phải giữ nó chặt hơn.
Nhưng càng giữ chặt:
càng sợ mất.
Càng sợ mất:
càng khó hoàn toàn tận hưởng lúc nó đang có.
Do đó đôi khi:
CHẤP HẠNH PHÚC
↓
LO MẤT HẠNH PHÚC
↓
KHÔNG CÒN TRỌN VẸN VỚI HẠNH PHÚC HIỆN TẠI.
Ngược lại:
BIẾT VÔ THƯỜNG
↓
KHÔNG ĐÒI HỎI VĨNH VIỄN
↓
TRÂN TRỌNG HIỆN TẠI
↓
ÍT SỢ MẤT HƠN.
30. Vậy phải sống thế nào?
Không phải:
“Đừng hạnh phúc vì rồi sẽ mất.”
Mà là:
“Khi hạnh phúc có mặt, hãy biết nó đang có mặt.”
Không phải:
“Đừng yêu vì rồi sẽ chia lìa.”
Mà là:
“Hãy yêu mà bớt biến người mình yêu thành tài sản.”
Không phải:
“Đừng có tài sản.”
Mà là:
“Sử dụng tài sản mà biết nó không phải nền tảng vĩnh viễn của bản thân.”
Không phải:
“Đừng tận hưởng cuộc sống.”
Mà là:
“Đừng bắt cuộc sống phải mãi mãi giống khoảnh khắc mình thích.”
31. Một cách thực hành rất đơn giản
Khi một điều dễ chịu xuất hiện:
Bước 1 – Nhận biết
“Đây là lạc thọ.”
Bước 2 – Trân trọng
“Điều này đang có mặt.”
Bước 3 – Nhận biết vô thường
“Nó do điều kiện mà có.”
Bước 4 – Quan sát ái
“Tâm có đang muốn kéo dài nó không?”
Bước 5 – Quan sát thủ
“Tâm có bắt đầu nghĩ ‘nó phải là của tôi’ không?”
Bước 6 – Không chống lại sự thay đổi
Khi nó chấm dứt:
biết nó đã chấm dứt.
Đây không phải thái độ lạnh lùng.
Đó là:
học cách cảm nhận mà không bị cảm nhận sở hữu.
32. Từ hạnh phúc phụ thuộc đến tự do
Có thể hình dung con đường:
“TÔI HẠNH PHÚC NẾU TÔI CÓ...”
↓
phụ thuộc vào đối tượng
↓
“TÔI ĐANG HẠNH PHÚC VÀ BIẾT NÓ VÔ THƯỜNG.”
↓
trân trọng nhưng bớt nắm giữ
↓
“TÔI KHÔNG CẦN MỌI THỨ PHẢI THEO Ý MÌNH MỚI CÓ THỂ AN ỔN.”
↓
xả và trí tuệ tăng trưởng
↓
LY THAM
↓
GIẢI THOÁT
Đây là sự chuyển dịch rất sâu:
từ tìm một thế giới không bao giờ thay đổi
sang:
một tâm không còn đòi thế giới phải không thay đổi.
33. Kết luận
Con người không khổ đơn giản vì có hạnh phúc.
Con người dễ khổ khi biến hạnh phúc thành:
thứ bắt buộc phải tồn tại.
Một kinh nghiệm dễ chịu xuất hiện:
LẠC THỌ
↓
tâm muốn tiếp tục:
ÁI
↓
tâm muốn nắm giữ:
THỦ
↓
tâm bắt đầu lo:
SỢ MẤT
↓
thực tại thay đổi:
VÔ THƯỜNG
↓
tâm chống lại:
KHỔ.
Vì vậy Phật giáo không yêu cầu:
từ bỏ hạnh phúc để khỏi khổ.
Sâu hơn, Phật giáo chỉ ra khả năng:
hạnh phúc mà không biến hạnh phúc thành sở hữu tuyệt đối.
yêu mà không nhất thiết chiếm hữu.
trân trọng mà không đòi hỏi vĩnh viễn.
có mà biết rằng sẽ thay đổi.
mất mà không biến mất mát thành sự sụp đổ của một cái tôi.
Có thể cô đọng toàn bộ vấn đề bằng một câu:
Hạnh phúc không nhất thiết làm ta khổ; chính yêu cầu “hạnh phúc này phải ở lại với tôi” biến một kinh nghiệm dễ chịu vốn vô thường thành nền tảng của bất an.
Và nghịch lý sâu nhất là:
Khi không còn cố bắt hạnh phúc phải tồn tại mãi, ta mới có khả năng thực sự hiện diện với hạnh phúc trong lúc nó đang có mặt.