Người Phật tử có nên làm giàu?
Báo lỗi nội dung
Người Phật tử có nên làm giàu?
Người Phật tử có nên làm giàu?
Một câu hỏi rất thực tế:
Người học Phật có nên làm giàu không?
Nếu nói:
“Có.”
người ta có thể hỏi:
Phật giáo chẳng phải dạy buông bỏ tham ái sao?
Nếu nói:
“Không.”
lại nảy sinh vấn đề:
vậy người Phật tử tại gia phải nghèo mới đúng pháp?
Cả hai cách hiểu đều quá đơn giản.
Phật giáo không nhất thiết đặt câu hỏi:
“BẠN CÓ BAO NHIÊU TIỀN?”
trước tiên.
Một câu hỏi quan trọng hơn là:
“TIỀN ẤY ĐẾN TỪ ĐÂU?”
“BẠN ĐANG LÀM GÌ VỚI NÓ?”
và sâu hơn:
“TÂM BẠN ĐANG QUAN HỆ VỚI NÓ NHƯ THẾ NÀO?”
1. Có tiền ≠ tham tiền
Đây là phân biệt đầu tiên.
Một người có:
nhà,
tiền tiết kiệm,
doanh nghiệp,
tài sản,
không có nghĩa:
người ấy nhất thiết tham lam.
Ngược lại, một người:
gần như không có gì
vẫn có thể:
ngày đêm thèm muốn tiền bạc.
Vì vậy:
SỐ TÀI SẢN
và:
MỨC ĐỘ THAM ÁI
không phải một.
2. Nghèo cũng không đồng nghĩa ít tham
Một người nghèo có thể:
sống thanh thản,
rộng lượng,
biết đủ.
Nhưng cũng có thể:
ganh tị,
tham lam,
ám ảnh tiền bạc.
Một người giàu cũng có thể:
keo kiệt,
ích kỷ,
tham không đáy.
Nhưng cũng có thể:
rộng lượng,
sống có trách nhiệm,
dùng tài sản giúp rất nhiều người.
Do đó:
GIÀU ≠ THAM.
Và:
NGHÈO ≠ VÔ THAM.
3. Phật giáo không lấy nghèo đói làm cứu cánh
Mục tiêu của đạo Phật là:
ĐOẠN KHỔ.
Sâu hơn:
đoạn tham,
đoạn sân,
đoạn si,
đoạn chấp thủ.
Không phải:
TẠO RA NGHÈO ĐÓI.
Thiếu ăn,
bệnh mà không có tiền chữa,
con cái không được học,
nợ nần,
bất an kinh tế
không tự động làm một người:
gần Niết-bàn hơn.
4. Nhưng Phật giáo cũng không lấy giàu có làm cứu cánh
Ở chiều ngược lại:
kiếm được rất nhiều tiền
không có nghĩa:
đời sống đã thành công theo tiêu chuẩn giải thoát.
Một người có thể:
sở hữu rất nhiều
nhưng:
lúc nào cũng sợ mất.
Có thể:
kiếm được 10 tỷ
rồi muốn:
100 tỷ.
Được 100 tỷ:
muốn 1.000 tỷ.
Tâm:
không bao giờ nói “đủ”.
Đây là:
CƠ CHẾ CỦA ÁI.
5. Vậy vấn đề không phải chỉ là tiền
Tiền:
bản thân là một phương tiện quy ước.
Nó có thể dùng để:
nuôi gia đình,
chữa bệnh,
học tập,
tạo doanh nghiệp,
trả lương,
làm từ thiện,
xây trường,
hỗ trợ người khó khăn.
Nhưng cũng có thể được dùng để:
bóc lột,
mua quyền lực,
gây hại,
thỏa mãn tham ái vô tận.
Vì vậy:
TIỀN KHÔNG TỰ ĐỘNG LÀ THIỆN HAY BẤT THIỆN.
Cần nhìn:
cách tạo ra,
động cơ,
cách sử dụng,
và sự chấp thủ.
6. Đức Phật không chỉ dạy người xuất gia
Trong kinh điển Phật giáo sớm có rất nhiều:
cư sĩ,
thương nhân,
gia chủ,
người có tài sản.
Đời sống tại gia:
không được thiết kế giống hoàn toàn đời sống xuất gia.
Một vị xuất gia:
đi theo lý tưởng ly gia, giảm sở hữu và sống theo giới luật của Tăng đoàn.
Một cư sĩ:
còn trách nhiệm kinh tế đối với:
bản thân,
gia đình,
con cái,
cha mẹ,
người lao động,
cộng đồng.
Không nên:
lấy mô hình kinh tế của người xuất gia
rồi áp nguyên xi cho:
tất cả cư sĩ.
7. Anāthapiṇḍika là một ví dụ nổi tiếng
Cấp Cô Độc:
Anāthapiṇḍika
được kinh điển và truyền thống ghi nhận là:
một đại cư sĩ hộ pháp rất quan trọng.
Ông:
có tài sản,
hoạt động kinh tế,
sử dụng tài sản để hộ trì Tăng đoàn và giúp người.
Điểm đáng chú ý:
việc có tài sản không tự động khiến một cư sĩ bị loại khỏi con đường tu tập.
8. Visākhā cũng là một hình ảnh quan trọng
Visākhā:
một nữ đại thí chủ nổi tiếng,
cũng gắn với:
gia đình,
tài sản,
đời sống xã hội
và:
sự hộ trì Phật pháp.
Những trường hợp như vậy cho thấy:
CƯ SĨ PHẬT GIÁO
không đồng nghĩa:
PHẢI TỪ BỎ MỌI TÀI SẢN.
9. Nhưng kiếm tiền bằng cách nào?
Đây mới là câu hỏi quyết định.
Trong:
BÁT CHÁNH ĐẠO
có:
CHÁNH MẠNG.
Nghĩa là:
sinh kế không thể hoàn toàn tách khỏi đạo đức.
Không thể nói:
“Miễn kiếm được nhiều tiền rồi đem một phần đi làm phước thì nghề nào cũng được.”
Phương tiện:
cũng quan trọng.
10. Không thể lấy bố thí để hợp thức hóa sinh kế bất thiện
Ví dụ cực đoan:
kiếm tiền bằng cách gây hại,
sau đó:
đem một phần cúng dường,
không biến:
nguồn thu bất thiện
thành:
Chánh mạng.
Trong Phật giáo:
MỤC ĐÍCH TỐT
không tự động:
THANH TỊNH MỌI PHƯƠNG TIỆN.
11. Một nguyên tắc kinh tế rất đơn giản
Có thể đặt ba câu hỏi:
1. Tôi kiếm tiền bằng cách nào?
Có:
lừa dối?
bóc lột?
gây hại?
phá giới?
2. Tôi dùng tiền để làm gì?
Chỉ:
nuôi tham ái?
Hay còn:
chăm sóc,
đầu tư hữu ích,
chia sẻ,
giúp đỡ?
3. Nếu mất tiền, tâm tôi thế nào?
Đây là:
câu hỏi về chấp thủ.
12. Người Phật tử có thể muốn tăng thu nhập không?
Có.
Muốn:
có công việc tốt hơn,
tăng thu nhập,
mua nhà,
nuôi con tốt,
có quỹ dự phòng,
phát triển doanh nghiệp
không tự động là:
THAM ÁI.
Phật giáo cần phân biệt:
CHANDA
với:
TAṆHĀ.
13. Chanda và taṇhā không hoàn toàn giống nhau
Có thể hiểu đơn giản:
CHANDA
là:
ý muốn,
động lực,
nguyện vọng,
và tùy trường hợp:
có thể thiện hoặc trung tính.
Trong khi:
TAṆHĀ
là:
khát ái,
sự khát khao gắn với nắm giữ và Khổ.
Do đó:
“Tôi muốn phát triển công việc để gia đình ổn định hơn”
không nhất thiết giống:
“Tôi phải giàu hơn người kia thì tôi mới có giá trị.”
14. Cùng kiếm một tỷ nhưng tâm có thể hoàn toàn khác
Người A:
muốn một tỷ
để:
trả nợ,
có quỹ dự phòng,
chăm sóc cha mẹ,
đầu tư công việc.
Người B:
muốn một tỷ
vì:
người hàng xóm vừa mua xe mới.
Người C:
muốn một tỷ
vì:
“Có tiền người khác mới kính tôi.”
Người D:
muốn một tỷ
để:
có vốn tạo thêm việc làm.
Con số:
GIỐNG NHAU.
Nhưng:
TÁC Ý KHÁC NHAU.
15. Phật giáo đặc biệt quan tâm đến tác ý
Trong giáo lý về nghiệp:
tác ý giữ vị trí rất quan trọng.
Vì vậy không thể đánh giá một đời sống kinh tế chỉ bằng:
CON SỐ.
Cần nhìn:
TÂM.
PHƯƠNG TIỆN.
HÀNH VI.
HỆ QUẢ.
16. Làm giàu bằng Chánh mạng
Một người Phật tử có thể hướng đến:
TẠO RA GIÁ TRỊ THẬT.
Ví dụ:
sản phẩm hữu ích,
dịch vụ hữu ích,
công nghệ,
nông nghiệp,
giáo dục,
thương mại chân chính,
lao động chuyên môn.
Trao đổi:
giá trị
để nhận:
thu nhập.
Điều này tự thân:
không mâu thuẫn với Phật pháp.
17. Lợi nhuận không tự động là tham
Một doanh nghiệp:
cần lợi nhuận
để:
tồn tại,
trả lương,
đầu tư,
mở rộng,
dự phòng rủi ro.
Do đó:
LỢI NHUẬN
không thể đơn giản đồng nhất với:
THAM.
Câu hỏi là:
lợi nhuận được tạo bằng cách nào?
Và:
khi nào mong muốn lợi nhuận biến thành bất chấp đạo đức?
18. Đây là ranh giới quan trọng
KIẾM TIỀN
khác:
KIẾM TIỀN BẰNG MỌI GIÁ.
PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP
khác:
BÓC LỘT ĐỂ PHÁT TRIỂN.
CẠNH TRANH
khác:
HÃM HẠI.
MARKETING
khác:
LỪA DỐI.
TỐI ƯU LỢI NHUẬN
khác:
BẤT CHẤP HẬU QUẢ.
Đây là nơi:
CHÁNH MẠNG
trở thành rất thực tế.
19. Kinh điển còn nói đến những sinh kế người cư sĩ nên tránh
Trong một bài kinh thuộc Tăng Chi Bộ, năm loại buôn bán thường được nêu là không thích hợp với người cư sĩ đệ tử:
buôn bán vũ khí,
buôn bán chúng sinh,
buôn bán thịt,
buôn bán chất gây say,
buôn bán độc chất.
Chi tiết cách áp dụng trong nền kinh tế hiện đại:
có thể cần phân tích từng trường hợp.
Nhưng nguyên tắc phía sau khá rõ:
SINH KẾ KHÔNG TÁCH KHỎI HẬU QUẢ ĐẠO ĐỨC.
20. “Hợp pháp” chưa chắc đã đủ để gọi là Chánh mạng
Luật pháp:
là một tiêu chuẩn quan trọng.
Nhưng:
HỢP PHÁP
không phải lúc nào cũng đồng nghĩa:
THIỆN.
Một hoạt động có thể:
chưa bị cấm
nhưng vẫn dựa trên:
thao túng,
lừa người yếu thế,
kích thích nghiện,
cố tình che giấu thông tin,
gây tổn hại nghiêm trọng.
Người học Phật cần hỏi sâu hơn:
“SINH KẾ NÀY ĐANG TẠO NHỮNG HỆ QUẢ GÌ?”
21. Làm giàu không chỉ là kiếm
Một quan điểm lành mạnh về tài sản có ít nhất bốn phần:
TẠO RA.
BẢO VỆ.
SỬ DỤNG.
CHIA SẺ.
Nếu chỉ biết:
TẠO RA
mà không biết ba phần còn lại,
tài sản rất dễ:
biến thành đối tượng của Ái và Thủ.
22. Bảo vệ tài sản không phải tham
Người Phật tử:
không bắt buộc để tài sản bị phá hoại.
Có thể:
tiết kiệm,
mua bảo hiểm,
quản lý rủi ro,
ký hợp đồng,
giữ hồ sơ,
bảo vệ quyền sở hữu,
chống gian lận.
Đó có thể đơn giản là:
TRÍ TUỆ THẾ GIAN.
Không phải:
cứ “buông” là để ai lấy gì cũng được.
23. Buông bỏ ≠ vứt bỏ
Một trong những nhầm lẫn phổ biến nhất:
BUÔNG
bị hiểu thành:
KHÔNG ĐƯỢC CÓ.
Nhưng:
có một vật
và:
bị tâm sở hữu bởi vật ấy
là hai chuyện.
Bạn có thể:
sở hữu một ngôi nhà.
Vấn đề sâu hơn là:
ngôi nhà có đang sở hữu tâm bạn không?
24. “Của tôi” là nơi cần quan sát
Ta mua:
một chiếc xe.
Ban đầu:
phương tiện đi lại.
Một thời gian sau:
chiếc xe trở thành:
“GIÁ TRỊ CỦA TÔI.”
Người khác mua xe tốt hơn:
khó chịu.
Xe bị xước:
nổi giận cả ngày.
Ai chê xe:
cảm thấy mình bị xúc phạm.
Bây giờ:
một vật bên ngoài
đã gắn vào:
CĂN TÍNH.
Đây là nơi:
Thủ xuất hiện.
25. Tài sản có thể chuyển từ phương tiện thành bản ngã
Ban đầu:
“Tôi có tiền.”
Sau:
“Tôi là người giàu.”
Rồi:
“Vì tôi giàu nên tôi thành công.”
Sau nữa:
“Nếu tôi mất tiền, tôi không còn là ai.”
Từ:
TÀI SẢN
đã chuyển thành:
BẢN SẮC.
Đây mới là vấn đề rất sâu của Phật pháp.
26. Giàu mà không biết đủ rất dễ thành nghèo
Một người có:
1 triệu
nhưng cần:
2 triệu
để thấy đủ.
Người khác có:
100 tỷ
nhưng cần:
200 tỷ.
Ai đang:
thiếu?
Phật giáo đặt một giá trị quan trọng vào:
TRI TÚC – BIẾT ĐỦ.
27. Biết đủ không có nghĩa ngừng phát triển
Đây là một nhầm lẫn khác.
Biết đủ không có nghĩa:
“Tôi không cần cố gắng nữa.”
Có thể:
hài lòng với giá trị bản thân hiện tại
nhưng vẫn:
phát triển công việc.
Có thể:
biết đủ trong tiêu dùng
nhưng vẫn:
xây doanh nghiệp lớn hơn.
Có thể:
không thiếu thốn về tâm
nhưng vẫn:
tạo thêm giá trị cho xã hội.
28. Có hai kiểu “muốn nhiều hơn”
Kiểu thứ nhất:
“Nếu không có thêm, tôi không thể hạnh phúc.”
Đây dễ gần với:
ÁI.
Kiểu thứ hai:
“Tôi đã ổn, nhưng tôi có khả năng tạo thêm giá trị nên tôi tiếp tục làm.”
Đây có thể là:
CHÍ NGUYỆN.
Bên ngoài:
đều đang làm việc.
Bên trong:
hoàn toàn khác.
29. Một người có thể rất giàu mà sống đơn giản
Giàu:
không bắt buộc phải tiêu hết.
Tài sản có thể được:
tái đầu tư,
tạo việc làm,
hỗ trợ gia đình,
giúp cộng đồng,
tài trợ giáo dục,
chăm sóc y tế,
hộ trì những hoạt động thiện.
Vấn đề:
không phải cứ có nhiều thì phải tiêu nhiều.
30. Và một người có thể thu nhập thấp nhưng sống rất xa hoa
Nếu:
kiếm 20 triệu
nhưng tiêu:
25 triệu
chỉ để:
thể hiện địa vị,
thì:
vấn đề không nằm ở con số tuyệt đối.
Nó nằm ở:
Ái,
so sánh,
Mạn,
thiếu Chánh niệm trong tiêu dùng.
31. Phật giáo có một cái nhìn khá thực tế về đời sống cư sĩ
Một cư sĩ cần:
nuôi mình.
nuôi gia đình.
thực hiện nghĩa vụ.
chuẩn bị cho khó khăn.
sử dụng tài sản hợp lý.
bố thí khi có khả năng.
Do đó:
quản lý tài chính
không phải chủ đề:
nằm ngoài Phật pháp.
32. Tiền có thể giúp giảm một số loại Khổ
Có tiền không chấm dứt:
già,
bệnh,
chết,
chia lìa,
Vô thường.
Nhưng tiền có thể giúp:
có thức ăn,
nhà ở,
thuốc men,
giáo dục,
thời gian,
điều kiện chăm sóc.
Do đó nói:
“Tiền hoàn toàn không quan trọng”
cũng không thực tế.
33. Nhưng tiền không giải quyết được mọi loại Khổ
Một người có thể:
rất giàu
nhưng:
sợ chết.
sợ mất tài sản.
cô đơn.
ganh tị.
bất an.
nghiện.
trống rỗng.
không biết mình sống để làm gì.
Đây là nơi tiền:
gặp giới hạn.
34. Tiền giải quyết được những vấn đề mà tiền giải quyết được
Nhưng:
không nên yêu cầu tiền
giải quyết:
vấn đề của Vô minh,
Ái,
Thủ,
ngã chấp.
Một tài khoản lớn:
không tự động tạo:
GIẢI THOÁT.
35. Tài sản càng lớn, trách nhiệm có thể càng lớn
Nếu một người có:
doanh nghiệp lớn,
quyết định của họ ảnh hưởng:
hàng trăm,
hàng nghìn
người.
Một quyết định:
trả lương,
môi trường,
chất lượng sản phẩm,
an toàn,
quảng cáo
có thể tạo:
rất nhiều hệ quả.
Do đó:
NHIỀU TÀI SẢN
có thể đồng nghĩa:
NHIỀU KHẢ NĂNG TẠO NGHIỆP VÀ ẢNH HƯỞNG.
36. Tiền khuếch đại khả năng hành động
Một người có:
100 nghìn đồng
có phạm vi sử dụng:
nhỏ.
Một người có:
100 tỷ
có thể:
tạo công ty,
tài trợ bệnh viện,
xây trường,
hoặc:
gây tổn hại ở quy mô lớn.
Tiền:
làm tăng khả năng tác động.
Vì vậy:
TRÍ TUỆ VÀ ĐẠO ĐỨC
càng quan trọng.
37. Bố thí giữ vai trò đặc biệt
DĀNA – BỐ THÍ
là một thực hành rất căn bản.
Tại sao?
Không chỉ vì:
người khác nhận được thứ gì đó.
Mà còn vì:
người cho
đang tập:
MỞ BÀN TAY.
Tài sản:
thường kích hoạt tâm:
“Của tôi.”
Bố thí:
trực tiếp làm việc với:
SỰ NẮM GIỮ.
38. Nhưng bố thí không phải mua công đức
Nếu nghĩ:
“Tôi cho 10 triệu nên phải được 10 đơn vị phước,”
ta lại biến:
bố thí
thành:
GIAO DỊCH.
Bố thí trong tinh thần tu tập:
còn liên hệ với:
tác ý,
sự rộng lượng,
đối tượng,
cách cho,
trạng thái tâm.
39. Cho nhiều tiền chưa chắc tâm rộng
Một người:
có 1.000 tỷ
cho:
1 triệu
có thể gần như:
không ảnh hưởng gì.
Một người:
không giàu
nhưng chia sẻ:
phần mình thực sự có
với tâm:
trong sáng.
Không thể chỉ nhìn:
CON SỐ
để hiểu:
TÂM BỐ THÍ.
40. Ngược lại, không nên bố thí đến mức phá hỏng trách nhiệm
Nếu một người:
đem hết tiền gia đình đi cúng
rồi:
con thiếu học phí,
cha mẹ thiếu thuốc,
gia đình mắc nợ,
thì cần hỏi:
đó có thật sự là trí tuệ không?
Từ thiện:
không nên trở thành:
BỎ BÊ TRÁCH NHIỆM.
41. Người tại gia có trách nhiệm với gia đình
Trong nhiều lời dạy dành cho cư sĩ:
trách nhiệm gia đình,
quan hệ xã hội,
sinh kế,
sử dụng tài sản
được xem xét rất thực tế.
Điều này nhắc rằng:
ĐẠO PHẬT TẠI GIA
không phải:
giả làm người xuất gia trong khi vẫn đang có gia đình.
42. Cúng dường không thay thế trách nhiệm kinh tế
Không nên nghĩ:
“Tôi cúng rất nhiều nên mọi việc khác không quan trọng.”
Nếu:
nợ không trả,
nhân viên bị nợ lương,
gia đình bị bỏ mặc,
nhưng:
cúng dường rất lớn,
thì:
cần xem lại toàn bộ bức tranh đạo đức.
Phước:
không phải tấm vé miễn trách nhiệm.
43. Một đồng tiền có nhiều quan hệ phía sau
Khi nhìn:
một khoản lợi nhuận,
hãy thử nhìn:
người lao động.
khách hàng.
nhà cung cấp.
xã hội.
môi trường.
thuế và nghĩa vụ.
hậu quả sản phẩm.
Đây là:
nhìn kinh tế bằng:
DUYÊN KHỞI.
44. Không có tài sản nào hoàn toàn độc lập
Một doanh nghiệp tồn tại nhờ:
khách hàng,
nhân viên,
đường sá,
điện,
luật pháp,
giáo dục,
hạ tầng,
thị trường,
hàng nghìn điều kiện.
Thấy như vậy:
ý niệm:
“TẤT CẢ DO MỘT MÌNH TÔI TẠO RA”
có thể mềm đi.
Đây là:
một ứng dụng rất thực tế của:
VÔ NGÃ VÀ DUYÊN KHỞI.
45. Thành công cũng do duyên
Nỗ lực cá nhân:
rất quan trọng.
Nhưng không phải:
duyên duy nhất.
Còn:
sức khỏe,
gia đình,
thời điểm,
xã hội,
người giúp đỡ,
thị trường,
cơ hội,
may rủi theo nghĩa đời thường,
vô số điều kiện khác.
Thấy điều này:
không phủ nhận công sức.
Nó giảm:
NGÃ MẠN.
46. Và thất bại cũng không hoàn toàn định nghĩa con người
Nếu doanh nghiệp thất bại:
điều đó không nhất thiết nghĩa:
“TÔI LÀ KẺ THẤT BẠI.”
Một sự kiện kinh tế:
không phải bản thể của con người.
Đây là nơi:
Vô ngã
có thể giúp:
rất nhiều.
47. Giàu có cũng vô thường
Thị trường:
thay đổi.
Công nghệ:
thay đổi.
Sức khỏe:
thay đổi.
Chính sách:
thay đổi.
Doanh nghiệp:
thay đổi.
Tài sản:
thay đổi.
Không phải để:
bi quan.
Mà để:
KHÔNG XÂY TOÀN BỘ SỰ AN TOÀN CỦA TÂM TRÊN MỘT THỨ VÔ THƯỜNG.
48. Có thể sở hữu mà biết nó sẽ thay đổi
Đây là cách tiếp cận khác với:
“Vì vô thường nên không làm gì.”
Ta biết:
nhà sẽ cũ.
Vẫn:
xây nhà.
Biết:
công ty không tồn tại vĩnh viễn.
Vẫn:
phát triển công ty.
Biết:
tiền không mang sang đời sau theo nghĩa vật chất.
Vẫn:
sử dụng tiền khôn ngoan trong đời này.
Vô thường:
không phủ định hành động.
Nó:
THAY ĐỔI CÁCH TA CHẤP VÀO KẾT QUẢ.
49. Người Phật tử có nên đặt mục tiêu tài chính?
Có thể.
Ví dụ:
quỹ khẩn cấp,
trả hết nợ,
mua nhà,
quỹ giáo dục,
quỹ hưu trí,
vốn kinh doanh,
quỹ thiện nguyện.
Những mục tiêu:
cụ thể và hữu ích
không nhất thiết là:
tham.
Điều cần quan sát:
chúng phục vụ điều gì?
50. Một mục tiêu có thể biến thành ái lúc nào?
Khi tâm bắt đầu nói:
“Tôi phải đạt bằng mọi giá.”
“Nếu thất bại, đời tôi vô nghĩa.”
“Ai hơn tôi đều làm tôi khó chịu.”
“Đạo đức có thể bỏ qua miễn có tiền.”
“Tôi sẽ hạnh phúc sau khi đạt con số đó.”
Đây là:
những dấu hiệu đáng quan sát.
51. Cái bẫy “khi nào đủ tiền tôi mới sống”
Khi có 1 tỷ:
tôi sẽ nghỉ.
Có 1 tỷ:
cần 3 tỷ.
Có 3 tỷ:
cần 10 tỷ.
Có 10 tỷ:
cần 30 tỷ.
Cuộc đời:
liên tục bị hoãn.
Ái:
luôn hứa:
“THÊM MỘT CHÚT NỮA LÀ ĐỦ.”
Nhưng:
“một chút nữa”
không có điểm cuối.
52. Tri túc phá vòng lặp này
Tri túc nói:
“Tôi có thể tiếp tục phát triển nhưng hạnh phúc của tôi không phải chờ đến con số tiếp theo.”
Đây là:
một thái độ rất khác.
CÓ MỤC TIÊU
nhưng:
KHÔNG GIAO TOÀN BỘ HẠNH PHÚC CHO MỤC TIÊU.
53. Một phép thử: nếu ngày mai mất một phần tài sản?
Ta sẽ:
buồn?
Điều đó:
bình thường.
Ta sẽ:
xử lý?
Cũng bình thường.
Nhưng nếu tâm nói:
“Tôi không còn giá trị.”
thì:
tài sản đã gắn rất sâu vào:
NGÃ.
Đây là nơi:
thực hành trở nên rõ ràng.
54. Một phép thử khác: thấy người khác giàu hơn
Nếu người khác thành công:
tâm thế nào?
vui?
bình thường?
ganh tị?
khó chịu?
muốn hạ thấp?
Đôi khi:
người giàu hơn ta
là chiếc gương rất tốt để thấy:
MẠN VÀ TẬT ĐỐ.
55. Muditā rất hữu ích trong đời sống kinh tế
MUDITĀ – TÙY HỶ
là:
khả năng vui trước điều tốt đẹp của người khác.
Khi người khác:
thành công bằng phương tiện chân chính,
ta có thể:
vui cùng.
Điều này trực tiếp đối trị:
GANH TỊ.
Trong một xã hội cạnh tranh:
đây là một thực hành rất mạnh.
56. Không phải ai giàu cũng đáng bị nghi ngờ
Một định kiến khác:
“Người giàu chắc chắn tham.”
Không thể biết:
tâm một người
chỉ từ:
tài khoản của họ.
Họ có thể:
tham.
Cũng có thể:
rộng lượng.
Cũng có thể:
cả hai ở những thời điểm khác nhau.
Phật pháp không cần:
biến đấu tranh với tham
thành:
THÙ GHÉT NGƯỜI CÓ TÀI SẢN.
57. Cũng không nên thần thánh hóa người giàu
Ở chiều ngược lại:
giàu không chứng minh:
trí tuệ,
đạo đức,
nghiệp tốt tuyệt đối,
phước đức vượt trội,
hay thành tựu tâm linh.
Một người:
giỏi kinh doanh
có nghĩa trước hết:
họ có những điều kiện và khả năng phù hợp để thành công kinh tế.
Không nên từ đó suy ra:
“GIÀU = CÓ PHƯỚC = ĐÚNG ĐẠO.”
Đó là:
một giản lược nguy hiểm.
58. Nghèo cũng không nên bị giải thích đơn giản bằng nghiệp
Không nên nói:
“Người này nghèo vì nghiệp xấu.”
Nghèo đói có thể liên quan:
gia đình,
giáo dục,
bệnh tật,
chiến tranh,
cấu trúc xã hội,
kinh tế,
thiên tai,
cơ hội,
rất nhiều nhân duyên.
Phật giáo về Duyên khởi:
không khuyến khích rút mọi hiện tượng về:
MỘT NGUYÊN NHÂN DUY NHẤT.
59. “Có phước nên giàu” cũng cần thận trọng
Trong các truyền thống Phật giáo:
bố thí và thiện nghiệp được liên hệ với quả thuận lợi.
Nhưng không nên dùng điều đó để lập phương trình đơn giản:
GIÀU = NGƯỜI TỐT.
NGHÈO = NGƯỜI XẤU.
Đời sống nhân quả:
phức tạp hơn rất nhiều.
60. Người Phật tử làm kinh doanh có thể dùng bốn câu hỏi
Trước một quyết định:
1. CÓ GÂY HẠI KHÔNG?
2. CÓ LỪA DỐI KHÔNG?
3. CÓ NUÔI THAM – SÂN – SI QUÁ MỨC KHÔNG?
4. CÓ TẠO GIÁ TRỊ THẬT KHÔNG?
Bốn câu hỏi này:
không giải quyết mọi tình huống,
nhưng tạo:
một bộ lọc rất hữu ích.
61. Có thể thêm câu hỏi thứ năm
“NẾU KHÔNG AI BIẾT, TÔI CÓ VẪN LÀM VIỆC NÀY KHÔNG?”
Câu hỏi này:
tách đạo đức
khỏi:
danh tiếng.
Nếu chỉ không gian lận vì:
sợ bị phát hiện,
thì:
động cơ đạo đức vẫn còn yếu.
62. Và câu hỏi thứ sáu
“NẾU KHÁCH HÀNG BIẾT TOÀN BỘ SỰ THẬT, HỌ CÓ VẪN ĐỒNG Ý KHÔNG?”
Điều này rất hữu ích với:
quảng cáo,
hợp đồng,
phí ẩn,
dữ liệu,
chất lượng sản phẩm.
Nó đưa:
CHÁNH NGỮ
vào:
KINH DOANH.
63. Chánh mạng không đứng một mình
Trong Bát Chánh Đạo:
Chánh mạng
đi cùng:
CHÁNH KIẾN.
CHÁNH TƯ DUY.
CHÁNH NGỮ.
CHÁNH NGHIỆP.
CHÁNH TINH TẤN.
CHÁNH NIỆM.
CHÁNH ĐỊNH.
Do đó:
kinh tế Phật giáo
không chỉ là:
danh sách nghề được làm hay không được làm.
Nó liên hệ với:
TOÀN BỘ CÁCH SỐNG.
64. Làm việc cũng có thể là nơi tu
Một ngày làm việc:
đầy cơ hội thấy tâm.
Khách hàng khó tính:
thấy sân.
Đối thủ thành công:
thấy tật đố.
Lợi nhuận lớn:
thấy tham.
Thất bại:
thấy chấp.
Được khen:
thấy mạn.
Bị chê:
thấy phản ứng.
Do đó:
THƯƠNG TRƯỜNG
cũng có thể trở thành:
NƠI QUÁN TÂM.
65. Nhưng đừng dùng câu đó để hợp thức hóa bất cứ việc gì
Nói:
“Kinh doanh cũng là tu”
không có nghĩa:
mọi cách kinh doanh đều thành pháp tu.
Nếu:
lừa khách,
bóc lột nhân viên,
phá môi trường,
rồi nói:
“Tôi đang tu giữa đời,”
thì:
khái niệm đã bị đảo ngược.
Tu giữa đời:
càng cần:
GIỚI.
66. Tiền có thể là một bài kiểm tra về Vô thường
Khi kiếm được:
ta có chấp không?
Khi mất:
ta có sụp đổ không?
Khi người khác hơn:
ta có ganh không?
Khi có cơ hội kiếm tiền bất chính:
ta có giữ giới không?
Khi có dư:
ta có chia sẻ không?
Tiền:
làm lộ rất nhiều thứ trong tâm.
67. Có thể nhìn tài sản theo bốn tầng
TẦNG 1 – SINH TỒN
ăn,
ở,
chữa bệnh,
nhu cầu căn bản.
TẦNG 2 – AN TOÀN
tiết kiệm,
dự phòng,
bảo hiểm,
ổn định gia đình.
TẦNG 3 – PHÁT TRIỂN
đầu tư,
kinh doanh,
giáo dục,
tạo việc làm.
TẦNG 4 – CHIA SẺ
bố thí,
cộng đồng,
thiện nguyện,
hộ trì những việc hữu ích.
Một đời sống tài chính lành mạnh:
có thể chứa cả bốn.
68. Nhưng vẫn cần tầng thứ năm
TẦNG 5 – KHÔNG CHẤP THỦ.
Bởi nếu bốn tầng đầu:
rất thành công
nhưng tâm:
hoàn toàn bị tài sản chi phối,
thì:
vấn đề căn bản của Khổ vẫn còn.
Đây là phần:
chỉ quản lý tài chính thôi chưa giải quyết được.
69. Một công thức cho cư sĩ
Có thể hình dung:
CHÁNH MẠNG
↓
SIÊNG NĂNG
↓
TẠO TÀI SẢN CHÂN CHÍNH
↓
QUẢN LÝ KHÔN NGOAN
↓
CHĂM SÓC GIA ĐÌNH
↓
CHIA SẺ
↓
KHÔNG ĐỒNG HÓA TÀI SẢN VỚI CÁI TÔI.
Đây là:
một con đường kinh tế khá khác với cả:
TÔN THỜ TIỀN
và:
KHINH THƯỜNG TIỀN.
70. Người xuất gia và người tại gia có trọng tâm khác nhau
Với đời sống xuất gia:
ly tham,
thiểu dục,
tri túc,
từ bỏ sở hữu cá nhân theo giới luật
giữ vai trò rất lớn.
Với cư sĩ:
vẫn cần:
kiếm sống,
quản lý tài sản,
chăm sóc gia đình.
Do đó không nên hỏi:
“Tại sao cư sĩ có tài sản trong khi Đức Phật xuất gia?”
Hai hình thức đời sống:
có cấu trúc khác nhau.
71. Nhưng lý tưởng giải thoát vẫn gặp nhau
Dù xuất gia hay tại gia:
THAM
vẫn là:
tham.
SÂN
vẫn là:
sân.
SI
vẫn là:
si.
Người cư sĩ:
không được miễn việc quan sát chấp thủ
chỉ vì:
cần tài sản.
72. Đại thừa cũng không đơn giản phủ nhận tài sản
Bồ-tát đạo nhấn mạnh:
bố thí,
lợi ích chúng sinh,
phương tiện thiện xảo.
Tài sản:
có thể trở thành phương tiện lợi sinh.
Nhưng nếu:
bố thí
được dùng để:
xây danh tiếng,
củng cố cái Tôi,
thì:
lại phải nhìn sâu vào động cơ.
73. Bố thí Ba-la-mật sâu hơn việc chuyển tiền
Dāna-pāramitā:
không chỉ là:
cho một món đồ.
Nó liên hệ đến:
SỰ KHÔNG BÁM CHẶT.
Ở các cách trình bày Đại thừa:
người cho,
vật cho,
người nhận
đều được quán trong ánh sáng:
Duyên khởi và Tánh Không.
Vì vậy:
bố thí không nhằm xây một cái Tôi:
“TÔI LÀ ĐẠI THÍ CHỦ.”
74. Trong mọi truyền thống, tiền không thay thế tuệ
Bạn có thể:
xây một trăm ngôi chùa.
Nhưng nếu:
tham,
sân,
si
vẫn nguyên vẹn,
thì:
công việc giải thoát
vẫn chưa hoàn thành.
Ngược lại:
tuệ cũng không phải lý do để xem thường việc giúp đỡ vật chất.
Người đói:
có lúc cần:
THỨC ĂN
trước một bài giảng dài về:
Vô thường.
75. Từ bi phải đi vào kinh tế thực tế
Nếu có khả năng:
tạo việc làm tử tế,
trả lương công bằng,
làm sản phẩm hữu ích,
hỗ trợ người khó khăn,
tạo điều kiện giáo dục,
thì:
tài sản có thể trở thành:
PHƯƠNG TIỆN CỦA TỪ BI.
Không phải chỉ:
vật để hưởng thụ.
76. Một người Phật tử có thể muốn trở thành triệu phú không?
Không thể chỉ dựa vào chữ:
“triệu phú”
để kết luận thiện hay bất thiện.
Hãy hỏi:
tại sao muốn?
bằng cách nào?
để làm gì?
phải đánh đổi điều gì?
nếu không đạt thì sao?
Nếu câu trả lời là:
“Tôi muốn có năng lực tài chính để tự chủ, chăm sóc gia đình, tạo giá trị và giúp người,”
thì cấu trúc tâm khác với:
“Tôi phải giàu để mọi người biết tôi hơn họ.”
77. Vấn đề không nằm ở số 1 triệu hay 1 tỷ
Không có một con số:
từ đó trở lên
thì tự động:
THAM.
Nếu vậy:
mức ấy cũng phải thay đổi theo:
quốc gia,
thời đại,
lạm phát,
hoàn cảnh.
Giáo pháp quan tâm sâu hơn đến:
TÂM NẮM GIỮ.
78. Có thể giàu mà tự do không?
Theo nguyên tắc:
có thể có mức độ tự do rất khác nhau đối với tài sản.
Một người:
dùng tiền.
Người khác:
bị tiền sử dụng.
Một người:
sở hữu tài sản.
Người khác:
dành toàn bộ đời sống để bảo vệ căn tính xây trên tài sản.
Câu hỏi là:
AI ĐANG SỞ HỮU AI?
79. Một bài kiểm tra rất ngắn
Hãy hỏi mình:
Khi kiếm tiền:
tôi có giữ giới không?
Khi có tiền:
tôi có biết đủ không?
Khi tiêu tiền:
tôi có Chánh niệm không?
Khi người khác giàu:
tôi có ganh không?
Khi mất tiền:
tôi có mất luôn chính mình không?
Khi có dư:
tôi có biết chia sẻ không?
Sáu câu ấy:
có thể nói rất nhiều về quan hệ giữa:
TIỀN VÀ TÂM.
80. Bảng phân biệt
| Không nhất thiết là tham | Dễ trở thành tham ái |
|---|---|
| Muốn thu nhập tốt | Phải giàu bằng mọi giá |
| Tiết kiệm | Ám ảnh tích trữ |
| Đầu tư | Đầu cơ bất chấp hậu quả |
| Phát triển doanh nghiệp | Bóc lột để tăng lợi nhuận |
| Mua nhà | Lấy nhà làm thước đo giá trị bản thân |
| Muốn thành công | Phải hơn người khác |
| Bảo vệ tài sản | Sống trong sợ hãi mất tài sản |
| Tạo lợi nhuận | Hy sinh đạo đức cho lợi nhuận |
| Hưởng thành quả | Nghiện hưởng thụ |
| Có tài sản | Đồng hóa bản thân với tài sản |
81. Vậy người Phật tử “nên” làm giàu không?
Câu trả lời chính xác hơn là:
KHÔNG CÓ BỔN PHẬN PHẢI GIÀU.
Nhưng cũng:
KHÔNG CÓ BỔN PHẬN PHẢI NGHÈO.
Một cư sĩ hoàn toàn có thể:
làm việc,
kinh doanh,
tạo tài sản,
phát triển sự nghiệp,
nếu:
KHÔNG HY SINH GIỚI VÀ CHÁNH MẠNG.
82. Mục tiêu tốt hơn “phải giàu”
Có lẽ nên đổi câu hỏi:
“Làm sao để giàu?”
thành:
“LÀM SAO TẠO RA MỘT ĐỜI SỐNG KINH TẾ VỮNG MÀ KHÔNG TRỞ THÀNH NÔ LỆ CỦA TIỀN?”
Câu hỏi này:
gần với Phật pháp hơn.
83. Và có thể đặt bốn nguyên tắc
KIẾM TIỀN CHÂN CHÍNH.
SỬ DỤNG TIỀN CÓ TRÍ TUỆ.
CHIA SẺ KHI CÓ KHẢ NĂNG.
KHÔNG XÂY CÁI TÔI TRÊN TÀI SẢN.
Nếu làm được:
tài sản không nhất thiết cản đường tu.
Nó thậm chí:
có thể trở thành phương tiện để thực hành.
84. Một công thức dễ nhớ
GIÀU + THAM
có thể tạo:
KHỔ.
Nhưng:
NGHÈO + THAM
cũng có thể tạo:
KHỔ.
Trong khi:
TÀI SẢN + CHÁNH MẠNG + TRÍ TUỆ + BỐ THÍ + KHÔNG CHẤP THỦ
có thể trở thành:
ĐIỀU KIỆN HỮU ÍCH CHO ĐỜI SỐNG CƯ SĨ.
Do đó vấn đề:
không nằm đơn giản ở:
CÓ
hay:
KHÔNG CÓ.
Mà nằm ở:
CÁCH CÓ.
CÁCH DÙNG.
VÀ CÁCH BUÔNG.
Kết luận
NGƯỜI PHẬT TỬ CÓ NÊN LÀM GIÀU?
Nếu “làm giàu” nghĩa là:
lừa dối,
bóc lột,
bất chấp giới,
kiếm tiền bằng mọi giá,
dùng tài sản để xây cái Tôi,
xem tiền là cứu cánh,
thì:
KHÔNG.
Nhưng nếu “làm giàu” nghĩa là:
lao động chân chính,
tạo ra giá trị,
phát triển năng lực,
có đời sống tài chính ổn định,
chăm sóc gia đình,
tạo việc làm,
giúp đỡ cộng đồng,
bố thí,
và không để tài sản trở thành ông chủ của tâm,
thì:
việc tạo tài sản của một cư sĩ
không tự động mâu thuẫn với Phật pháp.
Vì vấn đề căn bản không phải:
“TRONG TÀI KHOẢN CÓ BAO NHIÊU?”
Mà là:
“TRONG TÂM CÓ BAO NHIÊU THAM – SÂN – SI?”
Không phải:
“TÔI SỞ HỮU BAO NHIÊU?”
Mà là:
“TÔI ĐANG BỊ NHỮNG GÌ SỞ HỮU?”
Không phải:
“TÔI CÓ ĐƯỢC PHÉP KIẾM NHIỀU TIỀN KHÔNG?”
Mà sâu hơn:
“TÔI KIẾM NÓ BẰNG CÁCH NÀO?”
“TÔI DÙNG NÓ ĐỂ LÀM GÌ?”
“NẾU NÓ MẤT ĐI, TÔI CÓ MẤT LUÔN CHÍNH MÌNH KHÔNG?”
Một cư sĩ có thể:
KIẾM TIỀN MÀ KHÔNG TÔN THỜ TIỀN.
CÓ TÀI SẢN MÀ KHÔNG LẤY TÀI SẢN LÀM CÁI TÔI.
PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP MÀ KHÔNG HY SINH ĐẠO ĐỨC.
HƯỞNG THÀNH QUẢ MÀ KHÔNG BỊ HƯỞNG THỤ TRÓI BUỘC.
BIẾT TẠO RA MÀ CŨNG BIẾT CHIA SẺ.
Và cuối cùng:
BIẾT RẰNG TẤT CẢ NHỮNG GÌ MÌNH ĐANG CÓ ĐỀU VÔ THƯỜNG.
Đó không phải:
chống lại sự giàu có.
Cũng không phải:
tôn thờ sự giàu có.
Đó là: