Tha thứ có đồng nghĩa cho rằng người kia không sai?
Báo lỗi nội dung
Tha thứ có đồng nghĩa cho rằng người kia không sai?
Tha thứ có đồng nghĩa cho rằng người kia không sai?
Một người làm ta tổn thương.
Sau đó có người khuyên:
“Hãy tha thứ.”
Nhưng lời khuyên ấy rất dễ được hiểu thành:
“VẬY TÔI PHẢI CHO RẰNG
HỌ KHÔNG LÀM GÌ SAI?”
Hoặc:
“NẾU THA THỨ,
TÔI PHẢI BỎ QUA MỌI CHUYỆN?”
Hoặc:
“TÔI PHẢI TIN HỌ TRỞ LẠI?”
Hoặc thậm chí:
“TÔI PHẢI TIẾP TỤC ĐỂ HỌ LÀM TỔN THƯƠNG MÌNH?”
Theo tinh thần Phật giáo:
KHÔNG.
Tha thứ, nếu dùng từ này theo nghĩa lành mạnh, có thể là:
BUÔNG BỚT OÁN HẬN
mà vẫn:
NHẬN RÕ HÀNH VI SAI LÀ SAI.
Có thể:
KHÔNG HẬN NGƯỜI
mà vẫn:
KHÔNG CHẤP NHẬN HÀNH VI.
Có thể:
TỪ BI
mà vẫn:
ĐẶT RANH GIỚI.
Có thể:
KHÔNG TRẢ THÙ
mà vẫn:
YÊU CẦU TRÁCH NHIỆM.
Đây là những điều cần được tách ra.
1. Trước hết: “tha thứ” có phải thuật ngữ trung tâm của kinh điển sớm không?
Cần thận trọng ở điểm này.
Trong tiếng Việt hiện đại, “tha thứ” có thể bao hàm nhiều nghĩa:
hết giận;
không trả thù;
miễn trách;
bỏ qua;
hòa giải;
khôi phục quan hệ;
xóa hậu quả;
cho rằng chuyện cũ không còn quan trọng.
Nhưng kinh điển Phật giáo sớm thường phân tích vấn đề bằng những phạm trù cụ thể hơn như:
SÂN.
OÁN HẬN.
TỪ.
BI.
XẢ.
NHẪN.
NGHIỆP.
Vì vậy không nên lấy một khái niệm hiện đại là “tha thứ” rồi giả định rằng nó tương ứng hoàn toàn với một thuật ngữ Pāli duy nhất.
Câu hỏi gần với kinh điển hơn là:
“TÔI CÓ THỂ KHÔNG NUÔI OÁN HẬN
ĐỐI VỚI NGƯỜI ĐÃ LÀM SAI
MÀ VẪN NHẬN RÕ VIỆC HỌ LÀM LÀ SAI KHÔNG?”
Câu trả lời là:
CÓ.
2. AN 5.161 cho một ví dụ rất rõ
AN 5.161 trình bày năm phương pháp để loại bỏ oán hận đối với một người.
Trong đó có:
TU TỪ.
TU BI.
TU XẢ.
KHÔNG TIẾP TỤC ĐẶT TÂM VÀO ĐỐI TƯỢNG ẤY.
Và:
QUÁN XÉT VỀ NGHIỆP.
Điểm cuối đặc biệt quan trọng.
Người ấy:
LÀ CHỦ NHÂN CỦA HÀNH ĐỘNG MÌNH.
LÀ NGƯỜI THỪA TỰ HÀNH ĐỘNG MÌNH.
Điều thiện hay bất thiện họ làm:
có hệ quả tương ứng.
Như vậy chính trong một bài kinh dạy:
ĐOẠN OÁN HẬN,
trách nhiệm về hành động:
KHÔNG BỊ XÓA.
Đây là chìa khóa.
3. Buông sân không đồng nghĩa đổi sai thành đúng
Giả sử một người:
lừa dối ta.
Sau một thời gian, ta không còn muốn:
trả thù.
Ta cũng không còn ngày đêm nghĩ:
“Tôi muốn họ phải đau khổ.”
Điều đó không làm cho:
LỪA DỐI
biến thành:
TRUNG THỰC.
Sự đánh giá đạo đức về hành vi:
vẫn có thể giữ nguyên.
Điều thay đổi là:
TÂM CỦA TA
ĐỐI VỚI NGƯỜI ĐÓ.
4. Đây là hai câu hoàn toàn khác nhau
Câu thứ nhất:
“VIỆC ANH LÀM LÀ SAI.”
Đây là:
NHẬN ĐỊNH VỀ HÀNH VI.
Câu thứ hai:
“VÌ ANH LÀM SAI,
TÔI SẼ HẬN ANH SUỐT ĐỜI.”
Đây là:
PHẢN ỨNG TÂM LÝ CỦA TA.
Phật giáo có thể khuyên buông:
CÂU THỨ HAI
mà không bắt buộc phủ nhận:
CÂU THỨ NHẤT.
5. Không sân không đồng nghĩa không phân biệt thiện – bất thiện
Nếu không sân có nghĩa:
không được nói một hành động là sai,
thì rất nhiều giáo lý đạo đức của Phật giáo sẽ trở nên vô nghĩa.
Kinh điển vẫn phân biệt:
THIỆN – BẤT THIỆN.
CHÁNH NGỮ – TÀ NGỮ.
CHÁNH NGHIỆP – TÀ NGHIỆP.
CHÁNH MẠNG – TÀ MẠNG.
Do đó:
KHÔNG HẬN
≠
KHÔNG CÒN PHÂN BIỆT ĐÚNG SAI.
6. Tha thứ cũng không nhất thiết đồng nghĩa miễn trách nhiệm
Giả sử một người:
lấy trộm tiền.
Ta có thể không còn:
OÁN HẬN.
Nhưng người đó vẫn có thể phải:
TRẢ LẠI TÀI SẢN.
Nếu gây thiệt hại:
BỒI THƯỜNG.
Nếu vi phạm quy định:
CHỊU HỆ QUẢ TƯƠNG ỨNG.
Nếu gây nguy hiểm:
CẦN ĐƯỢC NGĂN CHẶN.
Tha thứ trong tâm:
KHÔNG TỰ ĐỘNG XÓA
TRÁCH NHIỆM TRONG HÀNH ĐỘNG.
7. Nghiệp cũng cho thấy điều đó
Trong Phật giáo:
TÁC Ý VÀ HÀNH ĐỘNG
có hệ quả.
Nếu chỉ cần người bị hại nói:
“Tôi tha thứ”
là mọi nghiệp bất thiện của người gây hại:
BIẾN MẤT,
thì giáo lý nghiệp sẽ trở thành:
một hệ thống xóa nợ bằng lời nói của người khác.
Đó không phải cách nghiệp được trình bày.
Người gây hành vi bất thiện vẫn cần:
NHẬN RA.
DỪNG LẠI.
SỬA ĐỔI.
KHÔNG TÁI PHẠM.
PHÁT TRIỂN THIỆN PHÁP.
8. Tha thứ không phải xóa quá khứ
Một việc đã xảy ra:
ĐÃ XẢY RA.
Ta không thể dùng “tha thứ” để biến:
chuyện đã xảy ra
thành:
chưa từng xảy ra.
Nếu một người từng phản bội:
sự phản bội vẫn thuộc lịch sử của mối quan hệ.
Nếu một người từng bạo hành:
hành vi đó không biến mất khỏi lịch sử chỉ vì người bị hại không còn oán hận.
Do đó:
BUÔNG OÁN
≠
XÓA SỰ THẬT.
9. Tha thứ không nhất thiết đồng nghĩa hòa giải
Đây là phân biệt rất quan trọng.
THA THỨ
nếu hiểu là buông oán hận:
chủ yếu liên hệ đến tâm của người bị tổn thương.
Nhưng:
HÒA GIẢI
cần ít nhất:
hai phía.
Để một mối quan hệ thực sự được phục hồi, thường cần:
thừa nhận điều đã xảy ra;
ngừng hành vi gây hại;
nhận trách nhiệm;
sửa chữa khi có thể;
xây dựng lại sự an toàn;
khôi phục lòng tin.
Vì vậy có thể:
THA THỨ
nhưng:
KHÔNG HÒA GIẢI.
10. Ví dụ rất đơn giản
Một người bạn:
nhiều lần lừa tiền ta.
Ta có thể nói:
“TÔI KHÔNG MUỐN HẬN BẠN NỮA.”
Nhưng đồng thời:
“TÔI SẼ KHÔNG CHO BẠN VAY TIỀN NỮA.”
Hai câu này:
KHÔNG MÂU THUẪN.
Câu đầu:
buông sân.
Câu sau:
trí tuệ và ranh giới.
11. Tha thứ cũng không đồng nghĩa tin tưởng trở lại
TỪ BI
và:
TIN TƯỞNG
không phải cùng một thứ.
Ta có thể mong:
một người được an ổn,
biết sửa sai,
không tiếp tục tạo nghiệp bất thiện.
Nhưng vẫn nhận thấy:
NGƯỜI NÀY HIỆN CHƯA ĐÁNG TIN.
Điều đó không nhất thiết là sân.
Nó có thể là:
ĐÁNH GIÁ DỰA TRÊN KINH NGHIỆM.
12. Lòng tin phải dựa vào điều kiện
Nếu một người:
xin lỗi
nhưng:
tiếp tục cùng hành vi,
thì lời xin lỗi chưa đủ để chứng minh:
HÀNH VI ĐÃ THAY ĐỔI.
Lòng tin có thể cần được xây lại bằng:
THỜI GIAN.
HÀNH ĐỘNG.
SỰ NHẤT QUÁN.
TRÁCH NHIỆM.
Do đó:
THA THỨ CÓ THỂ ĐƯỢC CHO.
Nhưng:
LÒNG TIN CẦN ĐƯỢC XÂY LẠI.
13. Tha thứ không có nghĩa phải tiếp tục quan hệ
Đây đặc biệt quan trọng trong:
bạo lực;
lạm dụng;
thao túng;
lừa đảo;
quan hệ độc hại;
những tình huống nguy hiểm.
Một người có thể:
KHÔNG NUÔI HẬN
nhưng vẫn:
RỜI KHỎI MỐI QUAN HỆ.
Có thể:
MONG NGƯỜI KIA TỐT LÊN
nhưng:
KHÔNG CHO HỌ TIẾP CẬN MÌNH.
Có thể:
TỪ BI
và:
GIỮ KHOẢNG CÁCH.
14. Xả không phải mặc kệ
Điều này nối trực tiếp với:
“XẢ ≠ LẠNH LÙNG.”
Xả không phải:
“Anh muốn làm gì thì làm.”
Mà có thể là:
“TÔI KHÔNG ĐỂ SÂN HẬN
ĐIỀU KHIỂN TÔI.”
Trong trạng thái đó, ta vẫn có thể:
nói rõ sự thật;
đặt ranh giới;
ngăn hành vi gây hại;
tìm sự hỗ trợ;
bảo vệ mình và người khác.
15. Từ bi với người làm sai không đồng nghĩa dung túng
Một người gây hại có thể đang bị:
THAM.
SÂN.
SI
chi phối.
Nhìn thấy điều đó có thể sinh:
BI.
Nhưng lòng bi chân chính không nhất thiết nói:
“Cứ tiếp tục đi.”
Ngược lại, ngăn một người:
TIẾP TỤC GÂY HẠI
có thể đồng thời bảo vệ:
nạn nhân
và:
chính người gây hại khỏi tiếp tục tạo hậu quả bất thiện.
16. Có lúc từ bi phải đi cùng sự cứng rắn
Một đứa trẻ sắp:
chạy ra đường.
Người lớn kéo nó lại.
Đứa trẻ:
có thể khóc.
Nhưng không thể nói:
“Vì từ bi nên cứ để nó chạy.”
Tương tự:
TỪ BI
≠
CHO PHÉP MỌI HÀNH VI.
Có những lúc:
RANH GIỚI
là một phần của:
HÀNH ĐỘNG CÓ TRÍ TUỆ.
17. Không trả thù khác với không có công lý
TRẢ THÙ
thường chứa:
mong muốn người kia đau vì ta muốn họ đau.
Trong khi:
TRÁCH NHIỆM
có thể nhằm:
ngăn tái phạm;
bảo vệ người khác;
sửa chữa thiệt hại;
duy trì quy tắc;
giúp người gây hại đối diện hậu quả.
Hai động cơ:
KHÔNG GIỐNG NHAU.
18. Có thể yêu cầu công lý mà không nuôi hận
Ví dụ một người bị lừa đảo.
Người ấy có thể:
báo cơ quan có thẩm quyền;
cung cấp bằng chứng;
yêu cầu hoàn trả;
cảnh báo người khác;
mà không nhất thiết phải nghĩ:
“TÔI MUỐN HỌ ĐAU KHỔ CÀNG NHIỀU CÀNG TỐT.”
Đây là phân biệt giữa:
NGĂN CÁI HẠI
và:
NUÔI HẬN THÙ.
19. MN 21 đẩy việc không sân đến mức rất sâu
Trong MN 21 – Ví dụ cái cưa, Đức Phật đưa ra một tiêu chuẩn cực mạnh về việc không để tâm rơi vào sân hận ngay cả trước sự đối xử tàn bạo.
Điểm cần hiểu đúng là:
BÀI KINH ĐANG HUẤN LUYỆN TÂM
KHÔNG SINH HẬN.
Nó không có nghĩa:
“HÀNH VI BẠO LỰC KHÔNG SAI.”
Hai vấn đề:
ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI GÂY HẠI
và:
TRẠNG THÁI TÂM CỦA NGƯỜI BỊ HẠI
phải được phân biệt.
20. Đây là điểm rất tinh tế
Giả sử:
A ĐÁNH B.
Có hai câu hỏi.
Câu hỏi 1
HÀNH ĐỘNG CỦA A CÓ BẤT THIỆN KHÔNG?
Có thể đánh giá:
dựa trên tác ý, hành vi và hoàn cảnh.
Câu hỏi 2
B CÓ NÊN NUÔI HẬN A KHÔNG?
Phật giáo hướng đến:
ĐOẠN SÂN.
Việc B không sân:
KHÔNG BIẾN
HÀNH VI CỦA A
THÀNH THIỆN.
21. Đây cũng là cách hiểu đúng Pháp Cú 5
Một nguyên lý nổi tiếng của Pháp Cú là:
OÁN KHÔNG THỂ CHẤM DỨT BẰNG OÁN.
Điều đó không có nghĩa:
“KHÔNG CÓ AI LÀM SAI.”
Nó có nghĩa:
dùng oán hận để nuôi oán hận
không giải quyết được:
CƠ CHẾ OÁN HẬN.
Ta vẫn có thể:
NHẬN DIỆN CÁI SAI
mà:
KHÔNG TIẾP TỤC CHUỖI HẬN THÙ.
22. Tha thứ không phải tự ép mình “không được đau”
Một người bị tổn thương có thể còn:
ĐAU.
BUỒN.
SỢ.
THẤT VỌNG.
Điều đó không có nghĩa:
người ấy thất bại trong tu tập.
Như bài:
“KHỔ ≠ ĐAU”
đã phân biệt:
cảm thọ đau
không hoàn toàn đồng nhất với:
lớp khổ tâm được tạo thêm bởi phản ứng.
Không cần giả vờ:
“TÔI KHÔNG ĐAU.”
23. Tha thứ cũng không phải phủ nhận cảm xúc
Một người có thể nhận ra:
“TÔI ĐANG GIẬN.”
Đó là:
CHÁNH NIỆM.
Khác với:
“TÔI PHẢI NUÔI CƠN GIẬN NÀY
VÌ NẾU KHÔNG TÔI SẼ PHẢN BỘI CHÍNH MÌNH.”
Và cũng khác:
“NGƯỜI TU KHÔNG ĐƯỢC GIẬN,
NÊN TÔI SẼ GIẢ VỜ KHÔNG GIẬN.”
Cả:
NUÔI SÂN
và:
ĐÈ NÉN SÂN
đều cần được nhìn rõ.
24. Có thể có một tiến trình
BỊ TỔN THƯƠNG
↓
ĐAU
↓
SÂN SINH
↓
NHẬN BIẾT SÂN
↓
KHÔNG NUÔI THÊM
↓
HIỂU NGUYÊN NHÂN
↓
ĐẶT RANH GIỚI
↓
BUÔNG DẦN OÁN HẬN.
Tha thứ:
có thể là một tiến trình.
Không nhất thiết:
MỘT NÚT BẤM.
25. Không nên ép người bị hại “tha thứ ngay”
Câu:
“Đã học Phật thì phải tha thứ ngay đi”
có thể trở thành:
MỘT HÌNH THỨC GÂY ÁP LỰC.
Người đang bị tổn thương có thể trước hết cần:
an toàn;
thời gian;
hỗ trợ;
xác nhận sự việc;
khoảng cách;
xử lý hậu quả.
Việc tu tập không đòi hỏi:
PHỦ NHẬN THỰC TẾ.
26. Đặc biệt không nên dùng nghiệp để đổ lỗi nạn nhân
Một cách nói nguy hiểm là:
“Họ làm vậy với bạn chắc vì nghiệp của bạn.”
Từ đó suy ra:
“Bạn phải chấp nhận.”
Đây là cách sử dụng nghiệp:
QUÁ ĐƠN GIẢN
và có thể:
GÂY HẠI.
Kinh điển không cho phép ta biết toàn bộ mạng lưới nhân duyên của một biến cố chỉ bằng việc nhìn kết quả rồi tuyên bố:
“Đó chắc chắn là nghiệp quá khứ của nạn nhân.”
27. Quán nghiệp trong AN 5.161 nhằm làm gì?
Điểm đáng chú ý là:
khi ta đang oán một người,
ta có thể nhớ:
NGƯỜI ẤY LÀ CHỦ NHÂN CỦA HÀNH ĐỘNG MÌNH.
Điều này có thể giúp ta không nghĩ:
“TÔI PHẢI TỰ MÌNH TRẢ THÙ
ĐỂ VŨ TRỤ CÔNG BẰNG.”
Nhưng nó cũng không có nghĩa:
“ĐỪNG BAO GIỜ NGĂN HỌ.”
Nếu hành vi gây hại còn tiếp diễn:
những biện pháp thích hợp vẫn có thể cần thiết.
28. Tha thứ không đồng nghĩa quên
Một câu thường nghe:
“THA THỨ LÀ PHẢI QUÊN.”
Không nhất thiết.
Trí nhớ có thể có chức năng:
BẢO VỆ.
Nếu từng bị:
lừa đảo,
việc nhớ cách sự việc xảy ra có thể giúp:
tránh lặp lại.
Vấn đề không nhất thiết là:
CÒN NHỚ HAY KHÔNG.
Mà là:
MỖI LẦN NHỚ,
TÂM CÓ TIẾP TỤC ĐỐT MÌNH
BẰNG OÁN HẬN HAY KHÔNG?
29. Nhớ mà không hận là điều có thể có
KÝ ỨC:
“Người ấy từng làm việc này.”
Khác với:
OÁN:
“Tôi muốn người ấy đau khổ.”
Khác với:
SỢ:
“Chuyện ấy có thể xảy ra lại.”
Khác với:
TRÍ TUỆ:
“Vì đã xảy ra, tôi sẽ không đặt mình vào cùng tình huống nữa.”
Bốn thứ này:
KHÔNG NÊN ĐÁNH ĐỒNG.
30. Tha thứ cũng không phải bắt buộc phải gặp lại
Một người có thể:
BUÔNG HẬN
từ rất xa.
Không cần:
gặp lại.
Không cần:
nhắn tin.
Không cần:
trở thành bạn.
Không cần:
khôi phục quan hệ cũ.
Đặc biệt khi việc tiếp xúc:
tạo nguy cơ tiếp tục bị tổn thương.
31. Cũng không nhất thiết phải chờ người kia xin lỗi mới buông sân
Nếu việc buông oán hoàn toàn phụ thuộc vào:
NGƯỜI KIA,
thì trạng thái tâm của ta vẫn bị:
họ kiểm soát.
Một người có thể:
không bao giờ xin lỗi.
không thừa nhận.
thậm chí không còn sống.
Ta vẫn có thể:
TU TẬP ĐỂ KHÔNG TIẾP TỤC
MANG OÁN HẬN.
Nhưng điều đó không thay đổi:
SỰ THẬT VỀ HÀNH VI.
32. Ngược lại, lời xin lỗi không tự động tạo ra tha thứ
Người gây hại có thể:
xin lỗi.
Nhưng người bị hại:
chưa thể buông ngay.
Không nên biến lời xin lỗi thành:
QUYỀN ĐÒI HỎI:
“Tôi xin lỗi rồi, bạn phải tha thứ.”
Xin lỗi chân thành:
nhận trách nhiệm.
Nó không phải:
công cụ buộc người khác phải phục hồi cảm xúc theo lịch của mình.
33. Một lời xin lỗi có trách nhiệm khác với lời xin lỗi né tránh
Ví dụ:
“TÔI XIN LỖI VÌ BẠN CẢM THẤY BỊ TỔN THƯƠNG.”
có thể né:
chính hành vi.
Khác với:
“VIỆC TÔI LÀM ĐÃ GÂY HẠI.
TÔI NHẬN TRÁCH NHIỆM.
TÔI SẼ KHÔNG LẶP LẠI
VÀ SẼ SỬA CHỮA PHẦN CÓ THỂ.”
Điểm cốt lõi là:
NHẬN TRÁCH NHIỆM.
34. Nếu người kia không thay đổi thì sao?
Ta vẫn có thể:
BỎ OÁN.
Nhưng:
GIỮ RANH GIỚI.
Đây là một công thức rất quan trọng:
TÂM KHÔNG HẬN
TRÍ KHÔNG MÙ
HÀNH ĐỘNG CÓ RANH GIỚI.
Không có gì mâu thuẫn giữa ba điều này.
35. Tha thứ không đồng nghĩa “người ấy là người tốt”
Phật giáo cũng khuyên tránh:
ĐÓNG ĐINH CON NGƯỜI
VÀO MỘT BẢN CHẤT CỐ ĐỊNH.
Nhưng điều đó không có nghĩa:
phải gắn nhãn ngược lại rằng họ “tốt.”
Ta có thể nói chính xác hơn:
“HỌ ĐÃ LÀM MỘT HÀNH VI GÂY HẠI.”
Thay vì:
“HỌ LÀ CÁI ÁC VĨNH VIỄN.”
Điều này giữ được:
TRÁCH NHIỆM
mà không biến con người thành:
MỘT BẢN THỂ BẤT BIẾN.
36. Vô thường cũng áp dụng cho người làm sai
Một người hôm nay:
có thể rất bất thiện.
Nhưng vì các pháp:
VÔ THƯỜNG,
khả năng thay đổi:
vẫn tồn tại.
Điều này không bảo đảm:
họ sẽ thay đổi.
Nhưng nó ngăn ta tuyệt đối hóa:
“NGƯỜI NÀY VĨNH VIỄN KHÔNG THỂ KHÁC.”
Có thể:
KHÔNG TIN HỌ HIỆN TẠI
mà vẫn:
KHÔNG PHỦ NHẬN KHẢ NĂNG
HỌ CÓ THỂ THAY ĐỔI.
37. Vô ngã cũng giúp tháo oán
Khi bị xúc phạm, tâm rất dễ tạo:
“HỌ XÚC PHẠM TÔI.”
↓
“HỌ HẠ THẤP TÔI.”
↓
“TÔI PHẢI PHỤC HỒI CÁI TÔI.”
↓
TRẢ ĐŨA.
Vô ngã không có nghĩa:
hành vi kia không xảy ra.
Mà giúp nhìn:
CẢM THỌ.
Ý NGHĨ.
SÂN.
CÂU CHUYỆN VỀ “TÔI”
như những tiến trình có điều kiện.
Khi bớt đồng nhất:
ngọn lửa trả thù có thể yếu đi.
38. Mũi tên thứ hai cũng rất liên quan
Mũi tên thứ nhất:
VIỆC NGƯỜI KHÁC ĐÃ LÀM.
Nó có thể thực sự:
đau.
Nhưng sau đó tâm có thể bắn thêm:
“TẠI SAO LẠI LÀ TÔI?”
“TÔI SẼ KHÔNG BAO GIỜ BUÔNG.”
“TÔI MUỐN HỌ ĐAU GẤP MƯỜI LẦN.”
“TỪ NAY TẤT CẢ MỌI NGƯỜI ĐỀU KHÔNG ĐÁNG TIN.”
Đó là những lớp:
KHỔ ĐƯỢC TẠO THÊM.
Buông oán không làm mũi tên thứ nhất:
chưa từng xảy ra.
Nó giúp:
KHÔNG TIẾP TỤC
BẮN MŨI TÊN THỨ HAI
VÀO CHÍNH MÌNH.
39. Tha thứ vì thế không phải món quà chỉ dành cho người gây hại
Nó còn liên hệ trực tiếp đến:
TỰ DO CỦA CHÍNH TÂM MÌNH.
Nếu một người đã làm hại ta một lần,
nhưng sau đó:
mỗi ngày ta tái tạo họ trong tâm,
tiếp tục tranh cãi với họ,
tiếp tục nung nấu trả thù,
thì sự kiện cũ:
tiếp tục chiếm lĩnh hiện tại.
Buông oán là:
KHÔNG CHO HÀNH VI CỦA NGƯỜI KHÁC
TIẾP TỤC ĐIỀU KHIỂN TÂM MÌNH.
40. Nhưng không nên biến điều này thành trách móc người bị hại
Không nên nói:
“Bạn còn đau tức là bạn đang tự làm khổ mình.”
Cách nói ấy:
có thể thiếu từ bi.
Vết thương tâm lý có thể:
cần thời gian.
Phật pháp ở đây nên được dùng như:
CON ĐƯỜNG THÁO GỠ,
không phải:
MỘT CÂY GẬY ĐỂ ĐÁNH NGƯỜI ĐANG ĐAU.
41. Theravāda nhấn mạnh điều gì?
Theravāda đặc biệt nhấn mạnh:
METTĀ – TỪ.
KARUṆĀ – BI.
UPEKKHĀ – XẢ.
KHANTI – NHẪN.
và:
NGHIỆP.
AN 5.161 là ví dụ rất đẹp:
đoạn oán hận
nhưng đồng thời:
nhớ rằng mỗi người vẫn thừa tự nghiệp của chính mình.
Do đó:
TỪ BI
KHÔNG XÓA
TRÁCH NHIỆM NGHIỆP.
42. Đại thừa đẩy lòng từ bi rất xa
Trong con đường Bồ-tát:
TỪ BI
được phát triển rộng đến:
cả những người gây tổn thương.
Nhưng:
BỒ-TÁT HẠNH
≠
DUNG TÚNG BẤT THIỆN.
Bồ-tát hướng đến:
LỢI ÍCH CHÚNG SINH.
Mà để một người:
tiếp tục làm hại mình và người khác
không nhất thiết là:
LỢI ÍCH CHO NGƯỜI ẤY.
43. Tánh Không không xóa trách nhiệm
Trong một số cách trình bày Đại thừa:
người gây hại,
người bị hại,
hành vi
đều không có:
TỰ TÍNH ĐỘC LẬP.
Nhưng:
TÁNH KHÔNG
≠
“CHẲNG CÓ CHUYỆN GÌ XẢY RA.”
Ở bình diện quy ước:
ĐAU VẪN ĐAU.
HÀNH VI VẪN CÓ HỆ QUẢ.
NGHIỆP VẪN VẬN HÀNH.
TRÁCH NHIỆM VẪN CÓ Ý NGHĨA.
Nếu dùng Tánh Không để phủ nhận tổn thương:
đó là hiểu sai Tánh Không.
44. Kim Cương thừa cũng không cho phép dùng “bất nhị” để xóa đúng sai
Vajrayāna kế thừa:
BỒ-ĐỀ TÂM
và:
TÁNH KHÔNG.
Những giáo lý cao về:
bất nhị,
thanh tịnh kiến,
bản tính tâm
không nên bị biến thành:
“AI LÀM GÌ CŨNG ĐÚNG.”
Giới, nguyện, nghiệp và trách nhiệm:
vẫn giữ vai trò rất quan trọng.
Đặc biệt:
KHÔNG ĐƯỢC DÙNG
NGÔN NGỮ “GIÁO PHÁP CAO”
ĐỂ HỢP THỨC HÓA LẠM DỤNG.
45. Bảng đối chiếu SK | TH | ĐT | KC
| Vấn đề | Phật giáo sớm | Theravāda | Đại thừa | Kim Cương thừa |
|---|---|---|---|---|
| Đoạn sân/oán | Rất rõ | Rất rõ | Rất rõ | Rất rõ |
| Từ bi với người gây hại | Có nền tảng rõ | Có | Phát triển mạnh | Phát triển mạnh |
| Hành vi bất thiện vẫn là bất thiện | Có | Có | Có | Có |
| Nghiệp/trách nhiệm bị xóa vì được tha thứ | Không | Không | Không | Không |
| Buông oán = phải hòa giải | Không bắt buộc | Không bắt buộc | Không bắt buộc | Không bắt buộc |
| Buông oán = phải tin lại | Không | Không | Không | Không |
| Có thể đặt ranh giới | Có thể phù hợp | Có | Có | Có |
| Có thể ngăn hành vi gây hại | Có | Có | Có | Có |
| Từ bi = dung túng | Không | Không | Không | Không |
| Cứu cánh | Đoạn tham–sân–si | Niết-bàn | Giải thoát/Phật quả | Phật quả |
46. Năm điều rất dễ bị đánh đồng
Đây là phần quan trọng nhất để nhớ.
1. THA THỨ
Có thể hiểu là:
BUÔNG OÁN HẬN.
2. MIỄN TRÁCH NHIỆM
Là:
KHÔNG YÊU CẦU NGƯỜI KIA
CHỊU HỆ QUẢ.
3. HÒA GIẢI
Là:
KHÔI PHỤC QUAN HỆ.
4. TIN TƯỞNG
Là:
CHẤP NHẬN RỦI RO
DỰA TRÊN ĐỘ TIN CẬY CỦA NGƯỜI KIA.
5. QUÊN
Là:
KÝ ỨC KHÔNG CÒN
HOẶC KHÔNG CÒN ĐƯỢC NHỚ.
Năm điều này:
KHÔNG ĐỒNG NGHĨA.
47. Một người hoàn toàn có thể nói
“TÔI KHÔNG HẬN BẠN.”
Nhưng:
“VIỆC BẠN LÀM LÀ SAI.”
Và:
“BẠN CẦN CHỊU TRÁCH NHIỆM.”
Và:
“TÔI KHÔNG MUỐN TRẢ THÙ.”
Nhưng:
“TÔI CHƯA THỂ TIN BẠN.”
Và:
“TÔI KHÔNG TIẾP TỤC MỐI QUAN HỆ NÀY.”
Toàn bộ những câu ấy:
CÓ THỂ CÙNG ĐÚNG
TRONG MỘT THỜI ĐIỂM.
48. Đây chính là Trung đạo trong một ứng dụng thực tế
Bài trước đã phân biệt:
TRUNG ĐẠO
≠
CÁI GÌ CŨNG CHỌN Ở GIỮA.
Trong vấn đề này cũng vậy.
Không nhất thiết chỉ có hai lựa chọn:
A. HẬN HỌ SUỐT ĐỜI.
hoặc:
B. CHO RẰNG HỌ KHÔNG LÀM GÌ SAI.
Có một hướng khác:
THẤY RÕ CÁI SAI
↓
KHÔNG PHỦ NHẬN TỔN THƯƠNG
↓
NGĂN HÀNH VI NẾU CẦN
↓
GIỮ RANH GIỚI
↓
YÊU CẦU TRÁCH NHIỆM
↓
NHƯNG KHÔNG NUÔI HẬN THÙ.
Đây không phải:
THỎA HIỆP.
Mà là:
TÁCH TRÍ TUỆ
KHỎI SÂN HẬN.
49. Một công thức thực hành rất hữu ích
Khi nghĩ về người đã làm tổn thương mình, có thể lần lượt hỏi:
1.
CHUYỆN GÌ THỰC SỰ ĐÃ XẢY RA?
Không thêm:
tưởng tượng.
Không bớt:
sự thật.
2.
HÀNH VI NÀO LÀ SAI?
Phân biệt:
con người
với:
hành vi.
3.
TÔI ĐANG CẢM THẤY GÌ?
Đau?
Sợ?
Giận?
Thất vọng?
4.
TÔI CÓ ĐANG MUỐN NGƯỜI KIA ĐAU KHỔ
CHỈ ĐỂ THỎA MÃN CƠN GIẬN KHÔNG?
Đây là nơi nhận diện:
SÂN.
5.
CẦN RANH GIỚI NÀO?
Khoảng cách?
Ngừng liên lạc?
Không giao tiền?
Không ở riêng với người ấy?
Tìm hỗ trợ?
6.
TRÁCH NHIỆM NÀO CẦN ĐƯỢC THỰC HIỆN?
Xin lỗi?
Bồi thường?
Sửa chữa?
Ngừng hành vi?
Chịu hậu quả?
7.
TÔI CÓ THỂ BUÔNG OÁN
MÀ KHÔNG BUÔNG TRÍ TUỆ KHÔNG?
Đây chính là câu hỏi trung tâm.
50. Có thể cô đọng bằng bốn dòng
THA THỨ
≠
CHO RẰNG NGƯỜI KIA KHÔNG SAI.
KHÔNG HẬN
≠
KHÔNG CÓ RANH GIỚI.
TỪ BI
≠
DUNG TÚNG.
BUÔNG OÁN
≠
XÓA TRÁCH NHIỆM.
Kết luận
Tha thứ không nhất thiết có nghĩa:
“BẠN KHÔNG SAI.”
Nó có thể có nghĩa:
“VIỆC BẠN LÀM LÀ SAI,
NHƯNG TÔI KHÔNG MUỐN
TIẾP TỤC NUÔI HẬN THÙ.”
Đó là hai việc:
HOÀN TOÀN KHÁC NHAU.
Người kia vẫn:
CHỊU TRÁCH NHIỆM
VỀ HÀNH ĐỘNG CỦA HỌ.
Ta vẫn có thể:
NHỚ.
NHẬN DIỆN CÁI SAI.
NÓI SỰ THẬT.
ĐẶT RANH GIỚI.
YÊU CẦU SỬA CHỮA.
NGĂN HÀNH VI GÂY HẠI.
KHÔNG KHÔI PHỤC QUAN HỆ.
CHƯA TIN TƯỞNG TRỞ LẠI.
Nhưng đồng thời:
KHÔNG NUÔI Ý MUỐN TRẢ THÙ.
KHÔNG ĐỂ OÁN HẬN THIÊU ĐỐT TÂM.
KHÔNG BIẾN MỘT HÀNH VI SAI
THÀNH BẢN CHẤT VĨNH VIỄN CỦA MỘT CON NGƯỜI.
Đây là điểm rất đẹp trong AN 5.161:
HÃY ĐOẠN OÁN HẬN,
nhưng đồng thời nhớ rằng:
MỖI NGƯỜI VẪN LÀ
NGƯỜI THỪA TỰ HÀNH ĐỘNG CỦA CHÍNH MÌNH.
Vì vậy:
BUÔNG SÂN
KHÔNG XÓA NGHIỆP.
TỪ BI
KHÔNG XÓA TRÁCH NHIỆM.
THA THỨ
KHÔNG BIẾN SAI THÀNH ĐÚNG.
Có lẽ cách diễn đạt cô đọng nhất là:
“TÔI KHÔNG CẦN NÓI
BẠN ĐÚNG
ĐỂ TÔI NGỪNG HẬN BẠN.”
Và sâu hơn nữa:
“TÔI CÓ THỂ THẤY RÕ CÁI SAI,
NGĂN CÁI SAI,
BẢO VỆ MÌNH KHỎI CÁI SAI,
MÀ KHÔNG CẦN BIẾN TÂM MÌNH
THÀNH NƠI NUÔI DƯỠNG HẬN THÙ.”
Đó không phải yếu đuối.
Đó là: