Có một “người thấy” đứng phía sau con mắt không?
Báo lỗi nội dung
Có một “người thấy” đứng phía sau con mắt không?
Có một “người thấy” đứng phía sau con mắt không?
Trả lời ngắn: Theo phân tích Vô ngã và Duyên khởi của Phật giáo, không cần giả định có một “người thấy” thường hằng, độc lập đứng phía sau con mắt để thực hiện việc thấy.
Kinh nghiệm thấy phát sinh khi có những điều kiện thích hợp:
MẮT
SẮC
↓
NHÃN THỨC
↓
XÚC
↓
THỌ
và tiếp theo là nhiều tiến trình:
nhận diện – suy nghĩ – thích/ghét – ái – thủ…
Điều chúng ta thường làm là lấy toàn bộ tiến trình ấy rồi thêm vào:
“TÔI đang thấy.”
Trong đời sống thông thường, câu này hoàn toàn sử dụng được.
Nhưng khi tìm một:
“người thấy” độc lập, bất biến và đứng phía sau toàn bộ quá trình
Phật giáo đặt câu hỏi:
Người ấy nằm ở đâu?
1. Trực giác thông thường: mắt giống một chiếc camera
Ta thường hình dung:
mắt thu hình ảnh
↓
gửi vào bên trong
↓
có một “Tôi” nhận hình ảnh
↓
“Tôi thấy.”
Mô hình ngầm là:
THẾ GIỚI
→ MẮT
→ NÃO/TÂM
→ NGƯỜI QUAN SÁT
Và “người quan sát” ấy dường như:
ngồi ở trung tâm;
nhận mọi kinh nghiệm;
sở hữu mọi cảm giác;
điều khiển mọi hành động.
Đây chính là trực giác về:
một chủ thể thường hằng phía sau kinh nghiệm.
2. Phật giáo đặt câu hỏi ngược lại
Thay vì hỏi:
“Ai đang thấy?”
trước tiên hãy quan sát:
việc thấy phát sinh như thế nào?
Phân tích căn bản là:
MẮT – cakkhu
SẮC – rūpa
↓
NHÃN THỨC – cakkhuviññāṇa
Khi ba yếu tố gặp nhau:
↓
XÚC – phassa
↓
THỌ – vedanā
Rồi từ đó có thể tiếp tục:
TƯỞNG
↓
SUY NGHĨ
↓
ÁI
↓
THỦ.
Trong chuỗi này:
không cần thêm một linh hồn đứng phía sau mắt để “nhận” nhãn thức.
3. Nhãn thức không phải “người thấy”
Đây là điểm rất quan trọng.
Phật giáo không đơn giản thay:
linh hồn
bằng:
thức.
Rồi nói:
“Thức chính là người thật đang nhìn.”
Không.
Nhãn thức:
cũng do điều kiện mà sinh.
Có mắt nhưng không có đối tượng thích hợp:
nhãn thức tương ứng không sinh.
Có đối tượng nhưng cơ quan thị giác không hoạt động:
kinh nghiệm thấy tương ứng không phát sinh theo cách bình thường.
Do đó:
nhãn thức cũng duyên sinh.
Nó không phải:
một người quan sát vĩnh cửu.
4. Sáu căn cho thấy vấn đề rõ hơn
Phật giáo không chỉ phân tích mắt.
Có:
| Căn | Cảnh | Thức |
|---|---|---|
| Mắt | Sắc | Nhãn thức |
| Tai | Âm thanh | Nhĩ thức |
| Mũi | Mùi | Tỷ thức |
| Lưỡi | Vị | Thiệt thức |
| Thân | Xúc chạm | Thân thức |
| Ý | Pháp | Ý thức |
Như vậy:
kinh nghiệm không cần một trung tâm bất biến đứng ngoài sáu tiến trình để sở hữu tất cả chúng.
5. Nhưng rõ ràng “tôi” đang thấy mà?
Ở bình diện đời sống thông thường:
Đúng.
Ta hoàn toàn có thể nói:
“Tôi thấy một cái cây.”
“Tôi nghe tiếng chim.”
“Tôi đang suy nghĩ.”
Phật giáo không yêu cầu đổi thành:
“Nhãn thức duyên sắc đang xuất hiện trong tổ hợp năm uẩn này.”
Đó không phải mục đích của Vô ngã.
Vấn đề là phân biệt:
“TÔI” QUY ƯỚC
với:
“TÔI” NHƯ MỘT THỰC THỂ THƯỜNG HẰNG.
6. “Tôi thấy” vẫn đúng theo quy ước
Câu:
“Tôi thấy cái cây.”
hoạt động tốt trong giao tiếp.
Nhưng từ đó không bắt buộc phải suy ra:
“Bên trong cơ thể tồn tại một thực thể bất biến tên là Tôi, và thực thể ấy đang sử dụng mắt như cửa sổ.”
Đó là bước bổ sung về bản thể.
Phật giáo đặt bước bổ sung ấy dưới sự khảo sát.
7. Hãy thử tìm “người thấy”
Nếu thật sự có một:
người thấy
độc lập phía sau mắt,
thì nó là gì?
Có phải:
con mắt?
Không.
Mắt là cơ quan vật chất và có thể tổn thương.
Có phải:
nhãn thức?
Nhưng nhãn thức:
sinh tùy điều kiện.
Có phải:
tưởng?
Tưởng cũng thay đổi.
Có phải:
ý nghĩ “tôi đang nhìn”?
Ý nghĩ ấy cũng:
sinh rồi mất.
Có phải:
toàn bộ năm uẩn?
Nhưng toàn bộ năm uẩn:
cũng là tiến trình duyên sinh.
Vậy:
“người thấy” độc lập nằm ở đâu?
8. Đây không phải lập luận “không có thấy”
Điều này phải phân biệt rất rõ.
Phật giáo không nói:
“Không có ai thấy nên chẳng có việc thấy.”
Kinh nghiệm thấy:
có.
Điều được đặt vấn đề là:
có cần một chủ thể thường hằng đứng ngoài quá trình thấy để giải thích việc thấy hay không?
Theo phân tích Vô ngã:
không cần.
9. Có thấy nhưng không tìm thấy “người thấy” độc lập
Có thể viết:
CÓ VIỆC THẤY
nhưng không nhất thiết có:
MỘT NGƯỜI THẤY TỰ HỮU ĐỨNG PHÍA SAU VIỆC THẤY.
Điều này giống với bài toán trước:
có chiếc xe theo quy ước
nhưng:
không tìm thấy một “tự tính xe” độc lập với các bộ phận và điều kiện.
Tương tự:
có con người thấy
theo quy ước.
Nhưng khi phân tích:
không tìm thấy một tự ngã độc lập đứng ngoài các tiến trình thân–tâm.
10. Vậy “thấy” là một tiến trình?
Có thể hiểu theo hướng đó.
Không phải:
TÔI
↓
dùng mắt
↓
tạo ra thấy.
Mà:
MẮT
SẮC
điều kiện
↓
NHÃN THỨC
↓
XÚC
↓
THỌ
↓
TƯỞNG / NHẬN DIỆN
↓
các phản ứng tiếp theo.
Sau đó tâm có thể tạo thêm:
“Tôi đang thấy cái này.”
11. Một ví dụ rất đơn giản
Bạn đang nhìn một bông hoa.
Ban đầu:
thấy màu sắc và hình dạng.
Rất nhanh:
“Hoa hồng.”
Sau đó:
“Đẹp.”
Tiếp:
“Tôi thích.”
Tiếp:
“Tôi muốn có.”
Ta có thể hình dung:
THẤY
↓
NHẬN DIỆN
↓
ĐÁNH GIÁ
↓
THỌ
↓
ÁI
↓
THỦ
↓
“TÔI thích nó.”
Một kinh nghiệm giác quan rất nhanh trở thành:
câu chuyện về Tôi và của Tôi.
12. Đây là nơi Khổ bắt đầu phát triển
Việc thấy tự nó không nhất thiết là vấn đề.
Nhưng:
thấy
↓
thích
↓
muốn
↓
phải có
↓
của tôi
↓
không được mất
↓
KHỔ.
Vì vậy mục tiêu của việc phân tích sáu căn không chỉ là:
giải quyết một bài toán triết học về “ai đang thấy”.
Nó nhằm phát hiện:
chỗ Ái và Thủ được hình thành.
13. “Trong cái được thấy chỉ là cái được thấy”
Một hướng thực hành rất nổi tiếng trong kinh điển sớm là không để kinh nghiệm giác quan lập tức phát triển thành:
“Tôi”
“của tôi”
“tôi đối với cái đó.”
Ở mức thực hành, có thể diễn đạt:
Trong cái thấy, nhận biết cái thấy như nó đang xảy ra.
Thay vì ngay lập tức:
thấy
↓
Tôi
↓
của Tôi
↓
thích / ghét
↓
nắm giữ.
Điều cần quan sát chính là:
phần tâm thêm vào kinh nghiệm.
14. Nhưng đừng biến “chỉ có cái thấy” thành một học thuyết mới
Có thể lại mắc sai lầm:
“Vậy chỉ có một Ý thức thuần túy tuyệt đối đang thấy.”
Đó là đưa:
người thấy
trở lại dưới một tên khác.
Nếu nói:
“Không có linh hồn, nhưng có một Nhận Biết vĩnh cửu đứng phía sau mọi kinh nghiệm,”
thì phải tiếp tục hỏi:
Nhận Biết ấy có thật sự được kinh điển xác lập như một tự ngã bất biến hay ta vừa đặt lại tên cho tự ngã?
Không nên dùng Vô ngã để lén tái lập một:
Đại Ngã.
15. “Người biết” cũng cần được khảo sát
Trong thiền, có lúc hành giả cảm thấy:
“Mọi thứ thay đổi, nhưng có một cái Biết đứng yên quan sát.”
Đây có thể là một kinh nghiệm rất tinh tế.
Nhưng không nên lập tức kết luận:
“Đây chính là tự ngã thật.”
Cần tiếp tục khảo sát:
kinh nghiệm biết ấy có điều kiện không?
có thay đổi không?
có liên quan đến thức không?
có thể được nhận biết không?
tâm có đang chấp nó là “Ta” không?
Phật giáo không khuyên:
tìm một đối tượng ngày càng tinh tế rồi gọi nó là linh hồn.
16. Thức cũng vô thường
Đây là chìa khóa.
Nếu:
thức
là tự ngã thường hằng,
thì nó phải:
luôn giống nhau.
Nhưng ta có:
nhãn thức;
nhĩ thức;
tỷ thức;
thiệt thức;
thân thức;
ý thức.
Chúng sinh:
theo căn và cảnh tương ứng.
Do đó:
thức cũng nằm trong Duyên khởi.
Và thức cũng thuộc:
năm uẩn.
Không nên biến thức thành:
linh hồn mới.
17. Vậy ai là người kinh nghiệm?
Câu hỏi này có thể chứa sẵn giả định:
phải có một thực thể đứng ngoài kinh nghiệm để kinh nghiệm kinh nghiệm.
Nhưng điều đó chưa được chứng minh.
Có thể hỏi khác:
Kinh nghiệm phát sinh do những điều kiện nào?
Đây là cách tiếp cận của Duyên khởi.
Thay vì:
AI?
ta khảo sát:
DO ĐIỀU KIỆN NÀO?
Sự chuyển đổi câu hỏi này rất quan trọng.
18. Từ “ai?” sang “do đâu?”
Ví dụ:
“Ai sân?”
Theo quy ước:
“Tôi sân.”
Nhưng để tu:
“Sân sinh do đâu?”
Có:
xúc
↓
thọ
↓
nhận định
↓
ái / chống đối
↓
sân.
Khi điều kiện thay đổi:
sân thay đổi.
Đây là thông tin giúp:
giải thoát.
Chỉ tìm một:
“người sân”
không nhất thiết giúp ta đoạn sân.
19. Duyên khởi thay câu hỏi về chủ thể bằng phân tích điều kiện
Ta có thể trình bày:
Cách nhìn tự ngã
TÔI thấy.
TÔI nghe.
TÔI giận.
TÔI muốn.
TÔI đau.
Cách quán Duyên khởi
Do mắt và sắc → nhãn thức.
Do tai và âm thanh → nhĩ thức.
Do xúc → thọ.
Do thọ và vô minh → có thể sinh ái.
Do ái → thủ.
Câu chuyện:
“Tôi”
được phân tích thành:
những tiến trình có điều kiện.
20. Nhưng như vậy con người có biến mất không?
Không.
Ở bình diện quy ước:
vẫn có người.
Bạn vẫn:
đeo kính khi mắt kém;
đi bác sĩ;
chịu trách nhiệm về hành động;
nhận ra người thân;
học tập;
tu tập.
Vô ngã không phủ nhận:
con người quy ước.
Nó phủ định việc chấp con người ấy thành:
một thực thể thường hằng, độc lập và hoàn toàn làm chủ.
21. Đây chính là Hai sự thật trong thực hành
Bài trước đã phân biệt:
Tục đế
“Tôi đang nhìn cái cây.”
Hoàn toàn sử dụng được.
Khi phân tích sâu
Ta thấy:
mắt
sắc
nhãn thức
xúc
thọ
tưởng
các điều kiện
mà không tìm thấy:
một chủ thể tự hữu đứng ngoài toàn bộ tiến trình.
Hai cách nói:
không cần trở thành hai thế giới.
22. Vô ngã không có nghĩa “không có chủ thể quy ước”
Điểm này rất quan trọng.
Nếu ai hỏi:
“Ai đang đọc?”
Ta có thể trả lời:
“Tôi.”
Không có vấn đề gì.
Nhưng nếu hỏi:
“Cái Tôi ấy có phải một thực thể bất biến, độc lập với thân, cảm giác, ký ức, ý thức và tất cả điều kiện không?”
Đó là:
một câu hỏi khác.
Phật giáo phân biệt hai tầng này.
23. Ví dụ dòng sông
Ta nói:
“Sông Hồng.”
Tên ấy có ý nghĩa.
Nhưng dòng sông hôm nay:
không phải đúng từng phân tử nước của hôm qua.
Nước:
chảy.
Bờ:
thay đổi.
Phù sa:
thay đổi.
Dòng chảy:
thay đổi.
Không cần một:
“linh hồn sông”
đứng phía sau để dòng sông tồn tại theo quy ước.
Con người cũng có thể được hiểu:
như một dòng tiến trình
mà không cần một thực thể bất biến đứng phía sau.
24. Nhưng con người không chỉ là dòng sông
Ẩn dụ chỉ dùng để minh họa:
tính liên tục mà không cần bất biến.
Không nên suy rộng rằng:
con người hoàn toàn giống dòng nước.
Điểm cần lấy là:
LIÊN TỤC
không đồng nghĩa:
BẤT BIẾN.
Đây là chìa khóa cho cả:
Vô ngã;
nghiệp;
tái sinh;
trách nhiệm.
25. Nếu không có người thấy thường hằng, ký ức giải thích thế nào?
Có người hỏi:
“Nếu không có Tôi cố định, tại sao hôm nay tôi nhớ việc hôm qua?”
Nhưng:
ký ức không chứng minh một tự ngã bất biến.
Một tiến trình có thể:
ảnh hưởng tiến trình tiếp theo.
Ví dụ:
kinh nghiệm hôm qua
↓
tạo dấu ấn / điều kiện
↓
ký ức hôm nay.
Có:
tính liên tục nhân quả
mà không cần:
một thực thể bất biến xuyên suốt.
26. Nếu không có người thấy, ai chịu nghiệp?
Cũng vậy.
Không cần:
một linh hồn bất biến
để có:
quan hệ nhân quả.
Hành động hiện tại:
↓
thay đổi điều kiện thân–tâm
↓
ảnh hưởng kinh nghiệm tương lai.
Người tương lai:
không hoàn toàn đồng nhất
nhưng cũng:
không hoàn toàn không liên quan
với người hiện tại.
Duyên khởi tránh cả:
đồng nhất tuyệt đối
và:
đứt đoạn tuyệt đối.
27. Nếu không có người thấy, ai giác ngộ?
Theo quy ước:
một người giác ngộ.
Nhưng giác ngộ không có nghĩa:
một linh hồn tên “Tôi” sở hữu thêm vật phẩm tên “giác ngộ”.
Mà là:
vô minh được đoạn
↓
ái được đoạn
↓
thủ được đoạn
↓
giải thoát.
Có tiến trình giải thoát.
Không cần:
một tự ngã thường hằng sở hữu giải thoát.
28. Phật giáo sơ kỳ
Trong kinh điển sớm, sáu căn, sáu cảnh và sáu thức được phân tích rất kỹ.
Đây là một trong những nơi giáo lý Vô ngã trở nên:
cực kỳ thực tế.
Không chỉ nói:
“Không có Ta.”
Mà quan sát trực tiếp:
Mắt + sắc → nhãn thức.
Tai + tiếng → nhĩ thức.
Xúc → thọ.
Thọ → có thể dẫn đến ái nếu có vô minh.
Do đó:
cái gọi là “Tôi đang kinh nghiệm thế giới” được tháo ra thành các tiến trình có điều kiện.
29. Theravāda
Theravāda phát triển rất chi tiết việc phân tích:
tâm;
tâm sở;
sắc;
các căn;
cảnh;
thức;
tiến trình nhận thức.
Mục tiêu không phải chỉ để:
xây một mô hình tâm lý học.
Mà nhằm thấy:
không có một atta đứng ngoài các pháp để điều khiển chúng.
Các pháp:
sinh theo điều kiện và diệt khi điều kiện thay đổi.
30. Đại thừa
Đại thừa tiếp tục Vô ngã và phát triển mạnh:
tính Không.
Không chỉ:
“người thấy” Không tự tính
mà:
mắt;
sắc;
nhãn thức;
việc thấy;
đối tượng được thấy
cũng:
Không tự tính.
Không có một cực:
chủ thể tự hữu
đứng đối diện với một:
khách thể tự hữu.
Cả hai:
đều duyên khởi.
31. Nhưng “chủ thể và khách thể đều Không” không nghĩa không có kinh nghiệm
Lại phải tránh hư vô.
Có:
thấy.
Có:
nghe.
Có:
đau.
Có:
vui.
Có:
Khổ.
Nhưng khi phân tích:
không cần biến bất kỳ thành phần nào thành một thực thể tự hữu.
Đó là:
tồn tại theo Duyên khởi mà Không tự tính.
32. Kim Cương thừa
Một số truyền thống Kim Cương thừa nói nhiều đến:
bản tính tâm;
tính biết;
quang minh;
trí tuệ nguyên sơ.
Những thuật ngữ này rất dễ bị người mới học hiểu thành:
“Đây chính là người thấy vĩnh cửu.”
Cần thận trọng.
Trong các hệ thống này, các mô tả ấy được đặt cùng với:
tính Không.
Không nên tách “tính biết” khỏi tính Không rồi biến nó thành:
một linh hồn thường hằng.
33. Đối chiếu các truyền thống
| Câu hỏi | Phật giáo sơ kỳ | Theravāda | Đại thừa | Kim Cương thừa |
|---|---|---|---|---|
| Có kinh nghiệm thấy? | Có | Có | Có | Có |
| Có “Ta” thường hằng đứng sau mắt? | Không được xác lập | Không | Không | Không nên hiểu như vậy |
| Nhãn thức có điều kiện? | Có | Có | Có | Có |
| Thức là linh hồn? | Không | Không | Không | Không |
| Chủ thể có tự tính? | Vô ngã | Vô ngã | Không tự tính | Không tự tính |
| “Tính biết” = Đại Ngã? | — | Không dùng theo cách đó | Tùy hệ thống nhưng không nên tái lập ātman | Không nên tách khỏi tính Không |
34. Một thí nghiệm quan sát rất đơn giản
Không cần tin ngay bất kỳ học thuyết nào.
Hãy nhìn một vật trước mặt.
Rồi quan sát:
Bước 1
Có:
hình ảnh.
Bước 2
Tâm nhận:
“cái điện thoại.”
Bước 3
Có thể xuất hiện:
“điện thoại của tôi.”
Bước 4
Có thể xuất hiện:
“tôi thích nó.”
Bây giờ hỏi:
Trong toàn bộ tiến trình ấy, “người thấy” xuất hiện ở bước nào?
Có phải nó:
được trực tiếp thấy?
Hay:
ý niệm “Tôi đang thấy” cũng là một hiện tượng xuất hiện trong kinh nghiệm?
Đây là một câu hỏi để quán sát, không phải để trả lời vội bằng triết học.
35. Một điểm cực kỳ tinh tế
Ta thường tưởng:
“Tôi phải tồn tại trước, rồi Tôi mới kinh nghiệm.”
Nhưng khi quan sát trực tiếp, cái ta tìm thấy thường là:
thấy
nghe
cảm giác
ý nghĩ
ký ức
ý muốn
và:
ý nghĩ về Tôi.
Vậy câu hỏi trở thành:
Có cần đặt thêm một thực thể ngoài tất cả những thứ ấy không?
Phật giáo Vô ngã trả lời bằng cách:
không tìm thấy cơ sở để chấp một tự ngã thường hằng như vậy.
36. Nhưng đừng biến Vô ngã thành một niềm tin mới
Sai lầm có thể xảy ra ở cả hai phía.
Một bên khẳng định:
“Chắc chắn có một linh hồn người thấy.”
Bên kia lại chỉ thuộc lòng:
“Không có người thấy!”
Rồi biến nó thành:
một tín điều.
Con đường Phật giáo nhấn mạnh:
quan sát các pháp như chúng sinh khởi do điều kiện.
Vấn đề không phải thắng cuộc tranh luận:
“Có Ta hay không có Ta?”
Mà là thấy:
chấp “Ta” đang hình thành và gây Khổ như thế nào.
37. Ý nghĩa thực hành thực sự
Một người nhìn thấy thứ mình thích.
THẤY
↓
LẠC THỌ
↓
“Tôi thích.”
↓
“Tôi muốn.”
↓
“Tôi phải có.”
↓
“Của tôi.”
↓
THỦ.
Hoặc:
THẤY
↓
KHỔ THỌ
↓
“Tôi ghét.”
↓
“Tôi phải loại bỏ.”
↓
SÂN.
Nếu có chánh niệm và trí tuệ:
THẤY
↓
BIẾT THẤY
↓
THỌ
↓
BIẾT THỌ
↓
không nhất thiết:
ÁI
↓
không nhất thiết:
THỦ.
Đây mới là lý do câu hỏi:
“Ai đang thấy?”
có giá trị trên con đường giải thoát.
38. Bản đồ dễ nhớ
Cách hiểu theo một chủ thể thường hằng:
“TÔI”
↓
dùng:
MẮT
↓
để:
THẤY THẾ GIỚI.
Phân tích Duyên khởi:
MẮT + SẮC
↓
NHÃN THỨC
↓
XÚC
↓
THỌ
↓
TƯỞNG / NHẬN DIỆN
↓
nếu thiếu trí tuệ:
ÁI
↓
THỦ
↓
“TÔI – CỦA TÔI.”
Điều đáng chú ý là:
cái “Tôi” mà ta tưởng đứng đầu chuỗi có thể lại được tâm củng cố trong chính tiến trình kinh nghiệm và chấp thủ.
Kết luận
Có một “người thấy” đứng phía sau con mắt không?
Theo phân tích Duyên khởi và Vô ngã của Phật giáo:
không cần giả định một người thấy thường hằng, độc lập đứng phía sau mắt để giải thích kinh nghiệm thấy.
Có:
MẮT.
Có:
SẮC.
Khi các điều kiện thích hợp:
NHÃN THỨC SINH.
Ba yếu tố tương hội:
XÚC.
Từ xúc:
THỌ.
Rồi có thể xuất hiện:
Tưởng
↓
phân biệt
↓
ái
↓
thủ
↓
“Tôi thấy.”
“Tôi thích.”
“Tôi ghét.”
“Cái này của tôi.”
Trong đời sống thông thường:
“Tôi đang thấy”
hoàn toàn là một cách nói hợp lệ.
Nhưng điều đó không chứng minh có:
một tự ngã bất biến đang ngồi phía sau con mắt như người xem ngồi trước màn hình.
Quan trọng hơn nữa:
đừng thay linh hồn bằng “thức”, “cái biết”, “người quan sát” hay “tính biết” rồi xem thực thể mới ấy là một cái Ta vĩnh cửu.
Nếu một cái gì được đề nghị là:
“Ta thật sự”,
hãy tiếp tục khảo sát:
Nó có do duyên không?
Nó có biến đổi không?
Nó có hoàn toàn theo ý muốn không?
Nó có thể được nhận biết như một hiện tượng không?
Tâm có đang chấp nó là “Ta” không?
Cuối cùng, giáo lý không nhằm buộc ta lặp lại:
“Không có người thấy.”
Mà nhằm giúp ta trực tiếp thấy:
CÓ SỰ THẤY — NHƯNG KHÔNG CẦN CHẤP MỘT “NGƯỜI THẤY” THƯỜNG HẰNG ĐỨNG PHÍA SAU SỰ THẤY.
Và khi:
thấy chỉ được biết như thấy,
thọ được biết như thọ,
ý nghĩ được biết như ý nghĩ,
thì chuỗi:
“TÔI” → “CỦA TÔI” → ÁI → THỦ
không còn bắt buộc phải phát triển theo cách cũ.
Đây là nơi một câu hỏi tưởng như thuần triết học:
“Ai đang nhìn qua đôi mắt này?”
trở thành một câu hỏi thực hành trực tiếp về: