Ngón tay và mặt trăng – Phương tiện không phải cứu cánh
Báo lỗi nội dung
Ngón tay và mặt trăng – Phương tiện không phải cứu cánh
Ngón tay và mặt trăng – Phương tiện không phải cứu cánh
Có một hình ảnh rất nổi tiếng trong Phật giáo:
Ngón tay chỉ mặt trăng.
Ngón tay:
giúp ta nhìn về phía mặt trăng.
Nhưng:
NGÓN TAY KHÔNG PHẢI MẶT TRĂNG.
Nếu chỉ nhìn:
ngón tay,
rồi tranh luận:
ngón tay dài hay ngắn;
đẹp hay xấu;
thuộc bàn tay nào;
cách chỉ nào đúng nhất;
mà quên nhìn:
MẶT TRĂNG,
thì:
phương tiện đã che mất điều nó muốn chỉ tới.
Ẩn dụ này thường được dùng để nói về:
kinh điển;
ngôn ngữ;
khái niệm;
giáo lý;
nghi lễ;
pháp môn;
thiền pháp;
hệ thống triết học.
Tất cả đều có thể:
CHỈ ĐƯỜNG.
Nhưng:
CHỈ ĐƯỜNG
không đồng nghĩa
ĐÃ ĐẾN ĐÍCH.
Tuy nhiên, cũng có một hiểu lầm ngược lại:
“Nếu ngón tay không phải mặt trăng thì kinh điển, giới luật, giáo lý và phương pháp đều không cần thiết.”
Đó cũng không phải kết luận thích hợp.
Bởi:
không chấp phương tiện không có nghĩa vứt bỏ phương tiện.
1. Trước hết: Đức Phật có thực sự nói “ngón tay chỉ mặt trăng” không?
Cần thận trọng.
Không nên viết:
“Đức Phật dạy trong kinh Nikāya rằng đừng nhìn ngón tay mà hãy nhìn mặt trăng.”
như thể đây là một câu nguyên văn của Đức Phật được bảo tồn trong kinh điển sớm.
Trong Nikāya/Āgama, có những hình ảnh mang ý nghĩa rất gần:
CHIẾC BÈ.
LÕI CÂY.
CON ĐƯỜNG.
PHƯƠNG THUỐC.
Nhưng hình ảnh:
NGÓN TAY – MẶT TRĂNG
trở nên nổi bật trong các truyền thống Đại thừa và đặc biệt phổ biến trong văn học Thiền về sau.
Do đó cần phân biệt:
Ý TƯỞNG CÓ GỐC SỚM
với:
HÌNH ẢNH VĂN HỌC XUẤT HIỆN VÀ PHÁT TRIỂN VỀ SAU.
2. Một nguồn Đại thừa quan trọng: Kinh Lăng Già
Laṅkāvatāra Sūtra – Kinh Lăng Già sử dụng hình ảnh liên hệ giữa:
NGÓN TAY
và:
VẬT ĐƯỢC CHỈ.
Điểm chính là:
người ngu có thể bám vào lời nói giống như người nhìn ngón tay mà không nhận ra điều ngón tay đang chỉ.
Ở đây:
NGÔN NGỮ
là:
phương tiện biểu đạt.
Nhưng:
Ý NGHĨA / THỰC TẠI ĐƯỢC NHẬN RA
không thể bị giản lược thành:
chính những từ ngữ ấy.
Từ đây, hình ảnh ngón tay chỉ mặt trăng trở thành một ẩn dụ rất mạnh trong Phật giáo Đông Á.
3. Nhưng nguyên tắc “phương tiện không phải cứu cánh” có từ rất sớm
Một trong những ví dụ quan trọng nhất nằm trong:
MN 22 – ALAGADDŪPAMA SUTTA
KINH VÍ DỤ CON RẮN.
Đức Phật đưa ra:
VÍ DỤ CHIẾC BÈ.
Một người cần vượt qua dòng nước nguy hiểm.
Không có:
cầu.
Không có:
thuyền.
Người ấy gom:
cỏ;
cành;
lá;
vật liệu;
làm thành:
CHIẾC BÈ.
Nhờ chiếc bè:
người ấy qua được bờ bên kia.
Sau đó câu hỏi là:
người ấy có nên đội chiếc bè lên đầu rồi mang nó đi khắp nơi vì biết ơn nó không?
KHÔNG.
Chiếc bè:
rất hữu ích.
Nhưng:
công dụng của nó nằm ở việc giúp vượt sông.
4. Giáo pháp giống chiếc bè
Điểm đặc biệt của ví dụ này là:
Đức Phật đem chính Dhamma – Pháp ra làm ví dụ.
Giáo pháp:
ĐỂ VƯỢT QUA,
không phải:
ĐỂ NẮM GIỮ.
Đây là một trong những nền tảng kinh điển sớm quan trọng nhất cho nguyên tắc:
PHƯƠNG TIỆN
≠
CỨU CÁNH.
5. Nhưng đừng hiểu sai ví dụ chiếc bè
Có người nghe:
“Pháp giống chiếc bè, cuối cùng phải bỏ.”
rồi kết luận:
“Vậy khỏi cần học kinh.”
Đó giống như người đang đứng:
BỜ NÀY
nói:
“Sang bờ rồi phải bỏ bè, vậy tôi vứt bè ngay.”
Kết quả:
CHƯA QUA SÔNG
ĐÃ
VỨT BÈ.
Đây không phải:
buông chấp.
Mà có thể chỉ là:
bỏ phương tiện trước khi hoàn thành chức năng của phương tiện.
6. Không chấp Pháp khác với không cần Pháp
Cần phân biệt:
HỌC PHÁP
và:
CHẤP PHÁP.
Học Pháp:
để hiểu đường.
Chấp Pháp:
biến cách hiểu của mình thành tài sản của cái Ta.
Ví dụ:
“Tôi hiểu kinh đúng.”
↓
“Truyền thống tôi đúng.”
↓
“Tôi cao hơn người khác.”
↓
“Ai khác tôi đều sai.”
Lúc ấy:
PHÁP
vốn dùng để giảm chấp thủ
lại bị dùng để:
XÂY CHẤP THỦ.
7. Đây chính là vấn đề “ngón tay”
Một giáo lý nói:
VÔ THƯỜNG.
Mục đích là:
giúp ta quan sát các pháp sinh diệt.
Nhưng ta có thể chỉ học thuộc:
“sabbe saṅkhārā aniccā.”
Rồi tranh luận:
dịch chữ saṅkhāra thế nào.
Việc nghiên cứu ấy:
có giá trị.
Nhưng nếu cả đời chỉ dừng ở:
KHÁI NIỆM “VÔ THƯỜNG”
mà không thấy:
những gì mình đang chấp thực sự đang biến đổi,
thì:
ta đang nghiên cứu rất kỹ ngón tay nhưng chưa nhìn mặt trăng.
8. Biết “Vô ngã” không đồng nghĩa thấy Vô ngã
Ta có thể thuộc:
SẮC KHÔNG PHẢI TA.
THỌ KHÔNG PHẢI TA.
TƯỞNG KHÔNG PHẢI TA.
HÀNH KHÔNG PHẢI TA.
THỨC KHÔNG PHẢI TA.
Nhưng khi người khác phản bác:
“quan điểm của tôi,”
ta nổi giận.
Khi mất:
“tài sản của tôi,”
ta tuyệt vọng.
Khi bị xúc phạm:
“danh dự của tôi,”
ta muốn trả thù.
Điều đó cho thấy:
BIẾT TỪ “VÔ NGÔ
≠
TRỰC TIẾP THẤY CƠ CHẾ CHẤP NGÃ.
9. Bản đồ không phải lãnh thổ
Có thể dùng một ví dụ hiện đại.
Một ứng dụng bản đồ hiển thị:
HÀ NỘI → HUẾ.
Ta có thể:
phóng to;
thu nhỏ;
xem đường;
đo khoảng cách;
nghiên cứu từng nút giao.
Nhưng:
BẢN ĐỒ HUẾ
không phải
HUẾ.
Tương tự:
KHÁI NIỆM VỀ NIẾT-BÀN
không phải:
NIẾT-BÀN.
Một người có thể viết:
một nghìn trang về Niết-bàn
nhưng điều đó không chứng minh:
người ấy đã giải thoát.
10. Vậy kinh điển có quan trọng không?
RẤT QUAN TRỌNG.
Bản đồ không phải nơi đến.
Nhưng nếu đi trong vùng đất mình không biết:
một bản đồ tốt cực kỳ hữu ích.
Vấn đề không phải:
CÓ BẢN ĐỒ HAY KHÔNG.
Mà là:
có biết bản đồ dùng để làm gì hay không.
Kinh điển:
định hướng.
Thực hành:
đưa định hướng vào thân tâm.
Trí tuệ:
trực tiếp thấy.
Giải thoát:
là cứu cánh.
11. Có thể hình dung bốn tầng
KINH ĐIỂN
↓
HIỂU
↓
THỰC HÀNH
↓
TRỰC TIẾP THẤY.
Nếu chỉ có:
KINH ĐIỂN
mà không hiểu:
dễ thành tụng đọc máy móc.
Nếu hiểu nhưng không thực hành:
thành kiến thức.
Nếu thực hành nhưng thiếu Chánh kiến:
có thể đi sai hướng.
Nếu Chánh kiến và thực hành trưởng thành:
có thể phát sinh trí tuệ trực tiếp.
Do đó:
CÁC TẦNG HỖ TRỢ NHAU.
12. Đây là nơi “ngón tay” gặp Chánh kiến
Bài Đại Kinh Bốn Mươi – MN 117 cho thấy:
CHÁNH KIẾN
định hướng con đường.
Chánh kiến giống:
BIỂN CHỈ ĐƯỜNG.
Nếu biển nói:
“Huế →”
thì chức năng của nó là:
giúp ta đi về Huế.
Không phải:
đứng trước tấm biển suốt đời.
Nhưng nếu không có biển:
ta cũng có thể đi nhầm.
Do đó:
CHÁNH KIẾN RẤT CẦN.
Nhưng:
CHÁNH KIẾN KHÁI NIỆM
không phải
CỨU CÁNH CUỐI CÙNG.
13. Đây cũng là nơi ngón tay gặp Lõi Cây
Trong MN 29 – Đại Kinh Ví Dụ Lõi Cây, người tu có thể dừng ở:
lợi dưỡng;
danh tiếng;
giới;
định;
tri kiến/chứng nghiệm.
Nhưng cứu cánh của bài kinh được đặt ở:
TÂM GIẢI THOÁT BẤT ĐỘNG.
Hai hình ảnh gặp nhau rất đẹp:
NGÓN TAY
→ đừng nhầm phương tiện với điều được chỉ.
LÕI CÂY
→ đừng nhầm thành tựu trung gian với cứu cánh.
CHIẾC BÈ
→ đừng biến phương tiện vượt qua thành vật để chấp giữ.
Ba hình ảnh cùng cảnh báo:
ĐỪNG DỪNG GIỮA ĐƯỜNG.
14. Nhưng có một nguy cơ tinh tế hơn
Ta có thể chấp:
kinh.
Nhưng cũng có thể chấp:
“KHÔNG CHẤP KINH.”
Ví dụ:
“Tôi không cần kinh điển.”
“Tôi chỉ cần trực giác.”
“Ngôn ngữ đều vô nghĩa.”
“Ai học kinh là chấp chữ.”
Đây có thể trở thành:
MỘT LOẠI CHẤP KHÁC.
Ta đã biến câu:
“ngón tay không phải mặt trăng”
thành lý do:
không cần biết mặt trăng ở hướng nào.
15. Thiền tông đặc biệt nổi tiếng với hình ảnh này
Trong lịch sử Phật giáo Đông Á, Thiền thường nhấn mạnh:
KHÔNG DỪNG Ở VĂN TỰ.
Mục đích là:
trực tiếp nhận ra điều giáo pháp đang chỉ tới.
Nhưng câu này thường bị biến thành:
“Thiền không cần kinh điển.”
Lịch sử thực tế phức tạp hơn rất nhiều.
Các truyền thống Thiền:
phát triển trong môi trường Phật giáo có kinh điển rất phong phú.
Các Thiền sư:
thường xuyên dẫn kinh, luận và sử dụng ngôn ngữ Phật học.
Do đó:
“KHÔNG CHẤP VĂN TỰ”
không đồng nghĩa:
“KHÔNG HỌC VĂN TỰ.”
16. Một vị thầy cũng là ngón tay
Thầy:
có thể chỉ đường.
Nhưng:
THẦY KHÔNG THỂ GIÁC NGỘ THAY HỌC TRÒ.
Một vị thầy giỏi có thể:
giải thích;
sửa sai;
hướng dẫn;
cảnh báo;
truyền phương pháp.
Nhưng học trò vẫn phải:
TỰ THỰC HÀNH.
Do đó nguy hiểm xảy ra khi:
người học biến sự kính trọng thầy thành sự phụ thuộc tuyệt đối.
17. Tôn kính không đồng nghĩa thần thánh hóa
Ta có thể:
kính trọng người hướng dẫn.
Nhưng nếu nghĩ:
“Thầy nói gì cũng đúng.”
thì:
NGÓN TAY
đã trở thành:
ĐỐI TƯỢNG TUYỆT ĐỐI.
Một nguyên tắc rất quan trọng là:
giá trị của người chỉ đường nằm ở khả năng giúp người học thấy đường, không phải ở việc biến người học thành người lệ thuộc vĩnh viễn.
18. Nghi lễ cũng có thể là ngón tay
Lễ Phật.
Tụng kinh.
Cúng dường.
Niệm Phật.
Thiền hành.
Lễ sám hối.
Mandala.
Mantra.
Tất cả có thể:
đóng vai trò phương tiện trong những hệ thống tu tập tương ứng.
Câu hỏi quan trọng không chỉ là:
“Nghi lễ này có đúng hình thức không?”
Mà còn:
NÓ ĐANG CHUYỂN HÓA ĐIỀU GÌ?
Nếu lễ Phật làm:
giảm ngã mạn,
nó đang thực hiện chức năng.
Nếu lễ Phật trở thành:
“Tôi lễ đúng hơn người khác,”
thì:
bản ngã đã chiếm lấy nghi lễ.
19. Giới cũng là phương tiện sao?
CÓ,
nhưng phải nói thật cẩn thận.
Nói:
“Giới là phương tiện”
không có nghĩa:
có thể bỏ giới tùy ý.
Giới giúp:
ngăn hại;
tạo đời sống ổn định;
giảm hối hận;
hỗ trợ định;
tạo điều kiện cho trí tuệ.
Vì vậy:
PHƯƠNG TIỆN
không có nghĩa:
KHÔNG QUAN TRỌNG.
Một cây cầu là:
phương tiện qua sông.
Nhưng vì nó chỉ là phương tiện:
không có nghĩa ta có thể phá cầu trước khi qua.
20. Thiền cũng là phương tiện
Một trạng thái thiền:
rất an lạc.
Ta có thể nghĩ:
“ĐÂY CHÍNH LÀ CỨU CÁNH.”
Nhưng như bài Lõi Cây đã cho thấy:
định chưa tự động đồng nghĩa giải thoát.
Nếu ta bắt đầu:
muốn trạng thái ấy quay lại,
↓
giữ nó,
↓
tiếc nó,
↓
tự hào về nó,
thì:
THIỀN
đã trở thành:
ĐỐI TƯỢNG CHẤP THỦ.
Ngón tay lại che mặt trăng.
21. Ngay cả “trải nghiệm giác ngộ” cũng cần thận trọng
Một người có thể trải qua:
ánh sáng;
hỷ lạc;
cảm giác nhất thể;
mất cảm giác thân;
sự tĩnh lặng sâu;
cảm giác không còn cái Tôi;
những kinh nghiệm rất khác bình thường.
Không nên vội kết luận:
“TÔI ĐÃ GIÁC NGỘ.”
Một kinh nghiệm:
có sinh
và:
có diệt
không tự động chứng minh:
tham, sân, si đã được đoạn tận.
Thước đo phải sâu hơn:
CHẤP THỦ CÒN KHÔNG?
22. Phương tiện thiện xảo đi vào đây thế nào?
Đại thừa phát triển mạnh khái niệm:
UPĀYA-KAUŚALYA
PHƯƠNG TIỆN THIỆN XẢO.
Ý tưởng căn bản:
chúng sinh khác nhau về căn cơ, hoàn cảnh và vấn đề.
Do đó:
cách trình bày giáo pháp có thể khác nhau.
Ví dụ:
người tham mạnh:
cần một phương pháp.
Người sân mạnh:
có thể cần phương pháp khác.
Người thiên về tín:
có cách tiếp cận khác.
Người thiên về phân tích:
có thể tiếp cận khác.
Vì vậy:
NHIỀU NGÓN TAY
có thể:
chỉ về một hướng giải thoát,
mà không nhất thiết:
có cùng hình dạng.
23. Nhưng “phương tiện thiện xảo” không có nghĩa muốn nói gì cũng được
Đây là một ranh giới quan trọng.
Không thể nói:
“Mọi thứ đều là phương tiện.”
rồi hợp thức hóa:
lừa dối;
lạm dụng;
tham;
sân;
quyền lực cá nhân.
Một phương tiện chỉ có thể gọi là:
THIỆN XẢO
khi nó thực sự:
phục vụ hướng chuyển hóa và giải thoát,
chứ không phải:
phục vụ bản ngã của người sử dụng nó.
24. Đại thừa đẩy vấn đề ngôn ngữ đi xa hơn
Trong nhiều hệ Đại thừa, đặc biệt Trung quán:
khái niệm không được xem là có khả năng nắm bắt một tự tính cố định của sự vật.
Tên gọi:
không phải bản chất.
Khái niệm:
không phải thực tại tự hữu.
Điều này rất gần tinh thần:
NGÓN TAY
≠
MẶT TRĂNG.
Nhưng Trung quán không vì vậy:
vứt bỏ ngôn ngữ.
Nāgārjuna vẫn:
sử dụng lập luận và ngôn ngữ.
Vấn đề là:
DÙNG KHÁI NIỆM
MÀ
KHÔNG TỰ THỂ HÓA KHÁI NIỆM.
25. Tục đế và Chân đế giúp hiểu vấn đề
Ta nói:
“Tôi.”
“Người.”
“Xe.”
“Con đường.”
“Sinh.”
“Diệt.”
Những khái niệm ấy:
hoạt động ở cấp quy ước.
Không cần:
vứt bỏ chúng.
Nhưng không nên từ đó suy ra:
phía sau mỗi tên gọi phải có một thực thể độc lập, bất biến tương ứng.
Ngôn ngữ:
CÓ CÔNG DỤNG
nhưng:
KHÔNG NHẤT THIẾT NẮM MỘT TỰ TÍNH.
Đây là một cách rất sâu để hiểu:
NGÓN TAY.
26. Tánh Không cũng chỉ là ngón tay
Đây là một cảnh báo cực kỳ quan trọng.
Một người học Trung quán có thể nghĩ:
“Mọi thứ đều Không.”
Rồi biến:
KHÔNG
thành:
một thực tại tuyệt đối đứng phía sau mọi thứ.
Khi ấy:
TÁNH KHÔNG
đã bị biến thành:
MỘT BẢN THỂ.
Trong Trung quán:
chính Tánh Không cũng không nên bị tự thể hóa.
Nói cách khác:
ĐỪNG BIẾN NGÓN TAY “TÁNH KHÔNG”
THÀNH
MỘT MẶT TRĂNG SIÊU HÌNH MỚI.
27. Phật tính cũng có nguy cơ tương tự
Một số văn bản Đại thừa sử dụng:
NHƯ LAI TẠNG
PHẬT TÍNH
với ngôn ngữ rất tích cực.
Nếu đọc thiếu bối cảnh, người ta có thể nghĩ:
“Đây chính là linh hồn thật của Phật giáo.”
Nhưng nhiều truyền thống Đại thừa đặc biệt cảnh giác với cách hiểu ấy.
Do đó:
ngôn ngữ Phật tính cũng phải được đọc trong hệ thống giáo lý tương ứng,
không nên lập tức biến thành:
MỘT CÁI TA VĨNH CỬU.
28. Kim Cương thừa làm vấn đề phương tiện càng rõ
Vajrayāna sử dụng rất nhiều:
hình ảnh;
mantra;
mudrā;
mandala;
bổn tôn;
quán tưởng;
nghi quỹ.
Nếu nhìn bên ngoài:
chúng có thể rất khác những phương pháp trong Nikāya.
Trong hệ thống Vajrayāna, chúng được sử dụng như:
PHƯƠNG TIỆN TU TẬP.
Nhưng:
mandala không phải món đồ ma thuật tự nó giải thoát.
Mantra:
không phải câu thần chú tự động xóa vô minh.
Bổn tôn:
không nên đơn giản hóa thành một vị thần sáng tạo bên ngoài.
Phương tiện chỉ có ý nghĩa:
trong toàn bộ cấu trúc Chánh kiến, Bồ-đề tâm, trí tuệ và thực hành của hệ thống ấy.
29. Rigpa cũng không nên biến thành “mặt trăng là linh hồn”
Trong một số cách trình bày Dzogchen, người học có thể nghe:
bản tính của tâm,
rigpa,
quang minh.
Nếu lập tức nghĩ:
“ĐÂY CHÍNH LÀ CÁI TA VĨNH HẰNG,”
thì đã đem:
một mô hình linh hồn
đặt lên:
thuật ngữ Vajrayāna.
Các hệ thống ấy cần được hiểu:
trong chính nền tảng Vô ngã và Tánh Không của chúng.
Nếu không:
ngón tay mới lại trở thành một cái Ta mới.
30. Các truyền thống khác nhau có phải những ngón tay khác nhau?
Có thể dùng hình ảnh ấy:
NHƯ MỘT ẨN DỤ SƯ PHẠM,
nhưng không nên đẩy quá xa.
Theravāda.
Trung quán.
Duy thức.
Thiền.
Tịnh độ.
Vajrayāna.
Có nhiều:
phương pháp và cách diễn giải.
Nhưng không nên vì vậy tuyên bố:
“Tất cả nói chính xác cùng một điều.”
Có:
ĐIỂM CHUNG.
Có:
KHÁC BIỆT THỰC SỰ.
Có cả:
BẤT ĐỒNG TRIẾT HỌC.
Do đó “nhiều ngón tay”:
không phải lý do để xóa mọi khác biệt.
31. Vậy làm sao so sánh các “ngón tay”?
Thay vì chỉ hỏi:
“Pháp môn nào cao nhất?”
có thể hỏi:
1. Nó đang giải quyết vấn đề gì?
2. Nó dựa trên Chánh kiến nào?
3. Nó được dùng cho đối tượng nào?
4. Nó nhằm tạo ra chuyển hóa gì?
5. Nó đặt cứu cánh ở đâu?
6. Nó thuộc lớp lịch sử nào của Phật giáo?
Cách hỏi này:
chính xác hơn nhiều.
32. Phật giáo sớm nói gì?
Trong lớp kinh điển sớm, hình ảnh mạnh nhất cho chủ đề này là:
CHIẾC BÈ.
Giáo pháp:
để vượt qua.
Không phải:
để chấp thủ.
Đồng thời:
ĐẠI KINH VÍ DỤ LÕI CÂY
cảnh báo:
đừng dừng ở những thành tựu trung gian.
Và nhiều bài kinh nhấn mạnh:
giáo pháp phải được biết, tu tập và trực tiếp chứng nghiệm.
Như vậy:
NGUYÊN TẮC
đã có rất sớm,
dù:
HÌNH ẢNH NGÓN TAY – MẶT TRĂNG
không nên được chiếu ngược nguyên dạng vào Nikāya.
33. Theravāda nhìn vấn đề thế nào?
Theravāda nhấn mạnh:
PARIYATTI
học pháp,
PAṬIPATTI
thực hành,
và trong những cách trình bày truyền thống:
PAṬIVEDHA
chứng ngộ/thâm nhập.
Có thể minh họa:
HỌC
↓
biết đường.
HÀNH
↓
đi đường.
CHỨNG
↓
trực tiếp thâm nhập điều được dạy.
Nếu chỉ:
học
mà không:
hành,
ta có thể biết rất nhiều về:
NGÓN TAY.
34. Đại thừa nhấn mạnh gì?
Đại thừa phát triển đặc biệt mạnh:
UPĀYA
và:
PRAJÑĀ.
Có thể tạm dịch:
PHƯƠNG TIỆN
và:
TRÍ TUỆ.
Phương tiện giúp:
dẫn dắt chúng sinh.
Trí tuệ giúp:
không chấp phương tiện thành thực thể tuyệt đối.
Trong Bồ-tát đạo, hai mặt này cần hỗ trợ nhau.
Chỉ có phương tiện mà thiếu trí tuệ:
dễ chấp.
Chỉ nói trí tuệ mà không có phương tiện:
có thể không biết giúp chúng sinh thế nào.
35. Kim Cương thừa đẩy “phương tiện” rất xa
Vajrayāna có thể sử dụng:
chính thân,
lời nói,
hình ảnh,
biểu tượng,
quán tưởng
như những phương tiện trên đường tu.
Nhưng càng có:
PHƯƠNG TIỆN MẠNH,
càng cần:
CHÁNH KIẾN.
Nếu không:
phương pháp có thể trở thành nghi lễ thuần túy, mê tín hoặc công cụ củng cố bản ngã.
Do đó:
PHƯƠNG TIỆN
không thể tách khỏi
TRÍ TUỆ.
36. Bảng đối chiếu
| Vấn đề | Phật giáo sớm | Theravāda | Đại thừa | Kim Cương thừa |
|---|---|---|---|---|
| Giáo pháp là phương tiện dẫn đến giải thoát | Có | Có | Có | Có |
| Ví dụ chiếc bè | Có | Bảo tồn trong MN 22 | Tiếp nhận tinh thần | Tiếp nhận |
| Hình ảnh ngón tay–điều được chỉ/mặt trăng | Không nên gán nguyên dạng cho Nikāya | Không phải ẩn dụ trung tâm của kinh Pāli | Xuất hiện/phát triển trong văn học Đại thừa | Tiếp nhận qua nền Đại thừa |
| Phương tiện thiện xảo | Có những tiền đề/phương pháp thích ứng | Có cách dạy tùy căn cơ | Upāya được hệ thống hóa mạnh | Rất quan trọng |
| Ngôn ngữ là cứu cánh | Không | Không | Không | Không |
| Giới có thể bỏ tùy ý | Không | Không | Không | Không |
| Định là cứu cánh tự thân | Không | Không | Không | Không |
| Trực tiếp chứng nghiệm quan trọng | Có | Có | Có | Có |
| Tánh Không kiểu Madhyamaka | Chưa có nguyên hệ | Không dùng nguyên hệ | Có trong nhiều hệ | Nền tảng trong nhiều hệ |
| Bồ-đề tâm | Chưa có nguyên hệ Đại thừa | Không phải hệ trung tâm | Trung tâm Bồ-tát đạo | Trung tâm |
| Tantra | Không | Không | Không phải toàn Đại thừa | Phương tiện đặc thù |
37. Những điểm dễ hiểu lầm
“Ngón tay không phải mặt trăng nên kinh điển vô ích.”
Sai.
Ngón tay có chức năng:
chỉ hướng.
“Không chấp giáo pháp nghĩa là không cần học giáo pháp.”
Sai.
Đây là:
bỏ bè trước khi qua sông.
“Chỉ cần trải nghiệm, không cần Chánh kiến.”
Nguy hiểm.
Một trải nghiệm có thể bị:
diễn giải sai.
Chánh kiến giúp:
định hướng thực hành và hiểu kinh nghiệm.
“Kinh điển là chân lý tuyệt đối từng chữ.”
Cần phân biệt:
giáo pháp được truyền đạt qua ngôn ngữ
với:
điều giáo pháp muốn người tu trực tiếp nhận ra.
Đồng thời cần nghiên cứu:
lịch sử văn bản;
ngôn ngữ;
truyền bản;
bối cảnh.
“Không chấp chữ nghĩa nghĩa là muốn giải thích kinh sao cũng được.”
Không.
Không chấp:
không đồng nghĩa tùy tiện.
“Tất cả pháp môn đều giống nhau.”
Không chính xác.
Chúng có thể:
chia sẻ mục tiêu và nền tảng nhất định,
nhưng vẫn:
khác nhau về phương pháp, triết học và cách xác định con đường.
“Mọi tôn giáo đều là những ngón tay chỉ cùng một mặt trăng.”
Đó là:
một tuyên bố triết học hiện đại,
không phải điều có thể tự động suy ra từ ẩn dụ Phật giáo này.
Các truyền thống tôn giáo có:
những khẳng định và cứu cánh khác nhau.
“Tánh Không là mặt trăng cuối cùng.”
Cần thận trọng.
Nếu biến:
Tánh Không
thành một bản thể tuyệt đối,
thì:
đã chấp chính khái niệm dùng để phá chấp.
“Thiền sư không cần kinh.”
Đây là:
sự đơn giản hóa lịch sử Thiền.
Không chấp văn tự:
không đồng nghĩa không học kinh điển.
38. Một cách sử dụng giáo pháp đúng hơn
Khi đọc:
“CÁC HÀNH VÔ THƯỜNG”
đừng chỉ hỏi:
câu Pāli là gì?
Hãy hỏi thêm:
Tôi đang chấp cái gì như thể nó sẽ không thay đổi?
Khi đọc:
“CÁC PHÁP VÔ NGÔ
đừng chỉ hỏi:
trường phái nào giải thích đúng hơn?
Hãy hỏi thêm:
Tôi đang biến điều gì thành “Ta” và “của Ta”?
Khi học:
DUYÊN KHỞI
đừng chỉ thuộc:
mười hai chi.
Hãy quan sát:
khổ đang sinh do những điều kiện nào ngay trong kinh nghiệm này?
Khi học:
TỨ THÁNH ĐẾ
đừng chỉ thuộc:
Khổ – Tập – Diệt – Đạo.
Hãy hỏi:
Khổ nào cần được hiểu?
Ái nào cần được đoạn?
Diệt nào cần được chứng?
Đạo nào cần được phát triển?
Khi ấy:
NGÓN TAY
đang thực hiện đúng chức năng.
39. Một bản đồ rất ngắn
LỜI DẠY
↓
HIỂU LỜI DẠY
↓
THỰC HÀNH
↓
QUAN SÁT TRỰC TIẾP
↓
TUỆ GIÁC
↓
BUÔNG CHẤP
↓
GIẢI THOÁT.
Sai lầm thứ nhất:
DỪNG Ở LỜI DẠY.
Sai lầm thứ hai:
VỨT LỜI DẠY TRƯỚC KHI HIỂU.
Con đường nằm giữa hai cực đoan:
DÙNG PHƯƠNG TIỆN
nhưng:
KHÔNG CHẤP PHƯƠNG TIỆN.
40. Ngón tay cuối cùng cần buông là gì?
Có lẽ khó nhận ra nhất là:
“TÔI LÀ NGƯỜI ĐÃ HIỂU.”
Ban đầu:
ta chấp tài sản.
Sau đó:
chấp quan điểm.
Rồi:
chấp giáo lý.
Rồi:
chấp phương pháp thiền.
Cuối cùng có thể:
chấp chính kinh nghiệm “buông chấp” của mình.
Ta nghĩ:
“TÔI ĐÃ THẤY MẶT TRĂNG.”
Và:
một cái Ta mới lập tức xuất hiện.
Do đó con đường không chỉ đòi hỏi:
nhìn qua ngón tay.
Nó còn đòi hỏi:
không biến “người đã nhìn thấy” thành một tự ngã mới.
Kết luận
Hình ảnh:
NGÓN TAY CHỈ MẶT TRĂNG
không nên được đơn giản hóa thành:
“Kinh điển không quan trọng.”
Ngược lại:
ngón tay có giá trị chính vì nó chỉ hướng.
Sai lầm không nằm ở:
NGÓN TAY.
Sai lầm nằm ở:
NHẦM NGÓN TAY VỚI MẶT TRĂNG.
Trong Phật giáo, “ngón tay” có thể là:
kinh điển;
khái niệm;
giáo lý;
nghi lễ;
pháp môn;
thiền pháp;
triết học;
người thầy;
thậm chí một kinh nghiệm tâm linh.
Chúng có thể:
RẤT QUAN TRỌNG.
Nhưng:
KHÔNG PHẢI CỨU CÁNH TỰ THÂN.
Kinh điển sớm đã diễn đạt nguyên tắc này bằng một hình ảnh rất mạnh:
CHIẾC BÈ.
Bè:
để qua sông.
Không phải:
để đội lên đầu.
Đại Kinh Ví Dụ Lõi Cây diễn đạt theo cách khác:
đừng nhầm cành lá, vỏ hay giác gỗ với lõi cây.
Các truyền thống Đại thừa về sau phát triển mạnh:
PHƯƠNG TIỆN THIỆN XẢO
và hình ảnh:
NGÓN TAY – MẶT TRĂNG.
Nhưng tất cả có thể gặp nhau ở một nguyên tắc thực hành:
PHƯƠNG TIỆN PHẢI ĐƯỢC SỬ DỤNG.
KHÔNG PHẢI BỊ THẦN THÁNH HÓA.
Vì vậy:
ĐỪNG VỨT NGÓN TAY.
Nếu chưa biết:
mặt trăng ở đâu.
Nhưng:
ĐỪNG DỪNG Ở NGÓN TAY.
Khi mục đích của nó là:
giúp ta nhìn xa hơn chính nó.
Tương tự:
ĐỪNG BỎ KINH ĐIỂN VÌ “KHÔNG CHẤP”.
ĐỪNG CHẤP KINH ĐIỂN MÀ QUÊN THỰC HÀNH.
ĐỪNG BỎ GIỚI VÌ “GIỚI CHỈ LÀ PHƯƠNG TIỆN”.
ĐỪNG GIỮ GIỚI ĐỂ XÂY DỰNG “TA THANH TỊNH”.
ĐỪNG BỎ THIỀN VÌ “ĐỊNH CHƯA PHẢI CỨU CÁNH”.
ĐỪNG CHẤP TRẠNG THÁI THIỀN LÀ GIẢI THOÁT.
Và cuối cùng:
ĐỪNG BIẾN NGAY CẢ “KHÔNG CHẤP”
THÀNH MỘT THỨ ĐỂ CHẤP.
Có thể cô đọng toàn bộ bằng một câu:
HÃY DÙNG GIÁO PHÁP ĐỂ THẤY.
ĐỪNG DÙNG GIÁO PHÁP ĐỂ CHE MẤT ĐIỀU GIÁO PHÁP ĐANG CHỈ TỚI.
Đó là ý nghĩa sâu nhất của:
NGÓN TAY VÀ MẶT TRĂNG.
Và cũng là lý do:
PHƯƠNG TIỆN RẤT QUAN TRỌNG,
nhưng: