Ví dụ con rùa và khúc gỗ – Thân người khó được đến mức nào?
Báo lỗi nội dung
Ví dụ con rùa và khúc gỗ – Thân người khó được đến mức nào?
Ví dụ con rùa và khúc gỗ – Thân người khó được đến mức nào?
Trong Phật giáo có một hình ảnh rất nổi tiếng:
CON RÙA MÙ
sống giữa:
ĐẠI DƯƠNG MÊNH MÔNG.
Trên mặt biển có:
MỘT CHIẾC ÁCH GỖ CÓ MỘT LỖ
trôi theo gió.
Gió đông:
thổi nó về phía tây.
Gió tây:
thổi nó về phía đông.
Gió bắc:
thổi nó về phía nam.
Gió nam:
thổi nó về phía bắc.
Còn con rùa:
MỘT TRĂM NĂM
mới nổi lên mặt nước:
MỘT LẦN.
Câu hỏi được đặt ra:
Khi con rùa mù ấy nổi lên, liệu cổ nó có tình cờ chui đúng vào lỗ của chiếc ách đang trôi giữa đại dương hay không?
Khả năng ấy:
CỰC KỲ HIẾM.
Đức Phật dùng hình ảnh này để nói đến một điều còn đáng suy nghĩ hơn:
CƠ HỘI ĐƯỢC LÀM NGƯỜI.
Nhưng ý nghĩa của bài kinh không dừng ở câu:
“Thân người khó được.”
Nó dẫn đến một câu hỏi quan trọng hơn:
NẾU CƠ HỘI NÀY ĐÃ CÓ,
TA SỬ DỤNG NÓ ĐỂ LÀM GÌ?
1. Ví dụ này nằm ở đâu?
Hình ảnh con rùa mù và chiếc ách có một lỗ xuất hiện trong:
SAṂYUTTA NIKĀYA 56
thuộc:
SACCA-SAṂYUTTA
Tương Ưng Sự Thật.
Đặc biệt là:
SN 56.47
và:
SN 56.48.
Điều này rất quan trọng.
Bởi ví dụ:
THÂN NGƯỜI KHÓ ĐƯỢC
không chỉ là:
một câu tục ngữ Phật giáo về sau.
Nó có cơ sở rõ ràng trong:
KINH ĐIỂN PĀLI SỚM.
2. Chính xác hơn: không phải chỉ là một “khúc gỗ”
Trong cách kể phổ biến ở Việt Nam, người ta thường nói:
“Con rùa mù và khúc gỗ có lỗ.”
Điều này giúp dễ hình dung.
Nhưng nguyên bản nói đến:
YUGA
thường được dịch là:
ách,
gông,
ách gỗ,
tức một vật có:
MỘT LỖ.
Do đó hình ảnh chính xác hơn là:
CON RÙA MÙ
CHIẾC ÁCH GỖ MỘT LỖ
ĐẠI DƯƠNG
GIÓ THỔI KHÔNG NGỪNG
MỖI TRĂM NĂM RÙA MỚI NỔI LÊN MỘT LẦN.
Chính tất cả những điều kiện ấy làm cho hình ảnh trở nên:
GẦN NHƯ KHÔNG THỂ GẶP NHAU.
3. Hãy hình dung quy mô của ví dụ
Không phải:
một con rùa trong cái ao.
Mà là:
CẢ ĐẠI DƯƠNG.
Không phải:
một tấm gỗ đứng yên.
Mà là:
MỘT VẬT TRÔI THEO GIÓ.
Không phải:
con rùa nhìn thấy cái lỗ rồi bơi đến.
Mà là:
RÙA MÙ.
Không phải:
vài phút lại nổi lên.
Mà là:
MỘT TRĂM NĂM MỚI NỔI MỘT LẦN.
Và khi nổi:
đầu nó phải xuất hiện đúng vị trí chiếc lỗ.
Đức Phật hỏi các Tỳ-kheo:
chuyện đó có xảy ra không?
Câu trả lời về cơ bản là:
nếu có thì cũng chỉ là một sự trùng hợp cực kỳ hiếm.
4. Đức Phật dùng ví dụ ấy để nói điều gì?
Trong SN 56.48, sau ví dụ con rùa, bài kinh chuyển sang:
ĐƯỢC LÀM NGƯỜI LÀ HIẾM.
Nhưng bài kinh không dừng ở đó.
Nó còn nói:
MỘT ĐỨC NHƯ LAI,
A-LA-HÁN,
CHÁNH ĐẲNG GIÁC
XUẤT HIỆN Ở ĐỜI LÀ HIẾM.
Và:
GIÁO PHÁP VÀ GIỚI LUẬT
DO NHƯ LAI TUYÊN THUYẾT
XUẤT HIỆN Ở ĐỜI CŨNG LÀ HIẾM.
Như vậy có thể thấy:
BA CƠ HỘI HIẾM
được đặt cạnh nhau.
5. Ba điều hiếm
Có thể trình bày:
1. ĐƯỢC THÂN NGƯỜI.
2. PHẬT XUẤT HIỆN Ở ĐỜI.
3. GIÁO PHÁP DẪN ĐẾN GIẢI THOÁT ĐƯỢC TUYÊN THUYẾT.
Điều đáng chú ý là:
người nghe bài kinh lúc ấy đã có cả ba.
Họ:
đã được làm người.
Họ sống trong thời:
Đức Phật xuất hiện.
Và:
Pháp đã được tuyên thuyết.
Vì vậy kết luận của Đức Phật không phải:
“HÃY NGỒI SUY NGHĨ XEM MÌNH MAY MẮN ĐẾN MỨC NÀO.”
Mà là:
HÃY TINH TẤN.
6. Tinh tấn để làm gì?
Đây là phần thường bị bỏ mất khi người ta kể câu chuyện con rùa.
Bài kinh kết thúc bằng lời thúc giục hướng đến:
TỨ THÁNH ĐẾ.
Tức là cần nỗ lực để hiểu:
ĐÂY LÀ KHỔ.
ĐÂY LÀ NGUYÊN NHÂN CỦA KHỔ.
ĐÂY LÀ SỰ CHẤM DỨT KHỔ.
ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN CHẤM DỨT KHỔ.
Như vậy:
THÂN NGƯỜI KHÓ ĐƯỢC
không phải một giáo lý độc lập.
Nó phục vụ cho:
SỰ KHẨN THIẾT CỦA VIỆC TU TẬP.
7. Trọng tâm không phải “con người cao quý hơn mọi loài”
Đây là một hiểu lầm cần tránh.
Câu:
“THÂN NGƯỜI KHÓ ĐƯỢC”
không nhất thiết có nghĩa:
con người là loài được Thượng đế ưu ái,
hay:
con người có giá trị tuyệt đối cao hơn mọi dạng sống.
Trong thế giới quan Phật giáo:
chúng sinh luân chuyển qua nhiều cảnh giới tùy nghiệp và duyên.
Thân người đặc biệt có giá trị vì:
NÓ TẠO RA MỘT CƠ HỘI TU TẬP QUAN TRỌNG.
8. Vì sao cõi người được xem là thuận lợi cho tu tập?
Theo các hệ thống Phật giáo truyền thống, đời người có một sự kết hợp đặc biệt:
CÓ KHỔ
nhưng:
KHÔNG NHẤT THIẾT BỊ KHỔ LẤN ÁT HOÀN TOÀN.
Có:
DỤC LẠC
nhưng:
KHÔNG NHẤT THIẾT BỊ DỤC LẠC CHE LẤP HOÀN TOÀN.
Con người có thể:
nhận biết khổ;
suy tư;
học Pháp;
giữ giới;
thiền tập;
phát triển trí tuệ;
thay đổi hành vi.
Do đó:
ĐỜI NGƯỜI LÀ MỘT CƠ HỘI THỰC HÀNH.
9. Quá khổ cũng có thể trở thành trở ngại
Nếu một chúng sinh liên tục bị:
đau đớn,
sợ hãi,
đói khát,
đe dọa,
thì phần lớn năng lượng có thể phải dành cho:
SINH TỒN.
Khi ấy:
việc nghe Pháp và tu tập trở nên rất khó.
Đây là một trong những cách truyền thống giải thích:
vì sao các cảnh giới khổ không thuận lợi bằng cõi người.
10. Nhưng quá sung sướng cũng có thể trở thành trở ngại
Ngược lại:
nếu kinh nghiệm quá dễ chịu,
tâm có thể nghĩ:
“CÓ GÌ CẦN GIẢI THOÁT?”
Không thấy:
vô thường.
Không thấy:
nguy hiểm của chấp thủ.
Không có động lực:
tìm con đường ra khỏi sinh tử.
Do đó trong nhiều cách trình bày Phật giáo:
CÕI NGƯỜI
được xem như nằm trong một vị trí đặc biệt:
đủ khổ để nhận ra vấn đề,
nhưng:
vẫn có đủ khả năng để tu tập.
11. Nhưng đừng biến điều này thành một quy luật cứng
Không nên hiểu:
mọi người đều có điều kiện tu tập như nhau.
Một người sinh làm người nhưng:
chiến tranh;
đói nghèo;
bệnh tật;
áp bức;
thiếu giáo dục;
không tiếp cận được giáo pháp;
có thể có điều kiện:
rất khác một người khác.
Do đó:
ĐƯỢC LÀM NGƯỜI
là một điều kiện quan trọng,
nhưng:
KHÔNG PHẢI ĐIỀU KIỆN DUY NHẤT.
12. Đây là lý do Phật giáo về sau nói đến “thân người quý báu”
Đặc biệt trong Phật giáo Tây Tạng, người ta thường gặp khái niệm:
PRECIOUS HUMAN REBIRTH
hay:
THÂN NGƯỜI QUÝ BÁU.
Điều này không đơn giản đồng nghĩa:
CÓ CƠ THỂ CON NGƯỜI.
Một đời người đặc biệt thuận lợi cho Pháp còn cần:
khả năng học;
có cơ hội tiếp xúc giáo pháp;
có tự do nhất định để thực hành;
có người hướng dẫn;
có hứng thú với con đường;
có thời gian và điều kiện.
Các truyền thống Tây Tạng về sau hệ thống hóa điều này thành những danh mục cụ thể như:
TÁM TỰ DO
và:
MƯỜI THUẬN DUYÊN.
Đây là:
SỰ HỆ THỐNG HÓA VỀ SAU,
không nên gán nguyên danh mục ấy cho SN 56.48.
13. Theravāda hiểu “thân người khó được” thế nào?
Theravāda giữ rất rõ:
TÁI SINH
và:
NHIỀU CẢNH GIỚI.
Trong khung ấy:
được sinh làm người không phải điều đương nhiên.
Nghiệp và các điều kiện của dòng sinh tử có thể đưa đến:
nhiều loại tái sinh khác nhau.
Vì vậy:
MANUSSATTA
trạng thái làm người,
được xem là:
một cơ hội quý.
Nhưng SN 56.48 lập tức nối cơ hội ấy với:
TỨ THÁNH ĐẾ.
Điều này cho thấy giá trị của thân người không nằm ở:
danh hiệu “con người”,
mà ở:
KHẢ NĂNG SỬ DỤNG ĐỜI SỐNG ĐỂ THẤY VÀ ĐOẠN KHỔ.
14. Đại thừa tiếp nhận ý tưởng này thế nào?
Đại thừa tiếp tục thừa nhận:
ĐỜI NGƯỜI KHÓ ĐƯỢC.
Nhưng trong khuôn khổ Bồ-tát đạo, cơ hội ấy còn có thể được nhìn theo chiều:
PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM.
Không chỉ:
“Tôi phải thoát khổ.”
Mà còn:
sử dụng đời sống này để phát triển trí tuệ và từ bi vì lợi ích của chúng sinh.
Do đó:
THÂN NGƯỜI
trở thành nền tảng để:
học Pháp;
hành Bồ-tát đạo;
tu các Ba-la-mật;
phát triển trí tuệ;
hướng đến Phật quả.
15. Kim Cương thừa nhấn mạnh mạnh hơn nữa
Trong nhiều hệ thống Tây Tạng, quán niệm:
THÂN NGƯỜI QUÝ BÁU VÀ KHÓ ĐƯỢC
là một trong những suy niệm nền tảng trước khi bước sâu vào thực hành.
Nó thường đi cùng:
VÔ THƯỜNG VÀ CÁI CHẾT.
NGHIỆP VÀ QUẢ.
NHỮNG BẤT TOẠI NGUYỆN CỦA LUÂN HỒI.
Logic là:
ĐÃ CÓ CƠ HỘI
↓
NHƯNG CƠ HỘI KHÔNG KÉO DÀI MÃI
↓
VÌ VẬY HÃY SỬ DỤNG NÓ.
Đây là tinh thần rất gần với hình ảnh con rùa mù.
16. “Khó được” có phải một xác suất toán học?
KHÔNG.
Đây là điểm cực kỳ quan trọng.
Kinh không đưa ra:
0,000001%
hay:
một phần một tỷ.
Hình ảnh:
RÙA MÙ + ĐẠI DƯƠNG + MỘT LỖ + MỘT TRĂM NĂM
là:
MỘT VÍ DỤ NHẤN MẠNH SỰ CỰC KỲ HIẾM.
Không nên biến nó thành:
PHÉP TÍNH XÁC SUẤT KHOA HỌC.
17. Vì vậy không thể lấy kích thước đại dương để tính xác suất tái sinh làm người
Đôi khi người ta thử tính:
diện tích lỗ / diện tích đại dương
rồi suy ra:
xác suất được thân người.
Đó không phải mục đích của bài kinh.
Ví dụ này:
có chức năng giáo hóa.
Nó muốn tạo ra:
SAṂVEGA
một cảm thức khẩn thiết trước:
sinh tử;
vô thường;
cơ hội đang trôi qua.
Nó không phải:
một mô hình thống kê.
18. “Một trăm năm” cũng không nên biến thành công thức
Kinh nói con rùa:
MỘT TRĂM NĂM
mới nổi lên một lần.
Không nên suy luận:
“Vậy chu kỳ tái sinh chính xác là một trăm năm.”
Hoàn toàn không phải.
Một trăm năm:
thuộc cấu trúc của ví dụ.
Nó làm nổi bật:
SỰ HIẾM HOI CỦA CUỘC GẶP GỠ.
19. Cũng không nên dùng bài kinh để dọa người
Một cách sử dụng không tốt là:
“Không tu ngay thì chắc chắn kiếp sau làm súc sinh.”
Bài kinh nhấn mạnh:
SỰ KHẨN THIẾT.
Nhưng không trao cho ta khả năng:
đoán chắc tái sinh của từng cá nhân.
Nghiệp trong Phật giáo:
phức tạp.
Không nên biến giáo lý:
THÂN NGƯỜI KHÓ ĐƯỢC
thành:
CÔNG CỤ GÂY SỢ HÃI.
20. Cảm thức đúng hơn là trân trọng
Thay vì:
“TÔI PHẢI TU VÌ SỢ.”
có thể hiểu:
“TÔI ĐANG CÓ MỘT CƠ HỘI RẤT QUÝ.”
Tôi có thể:
đọc;
suy nghĩ;
học;
phân biệt thiện ác;
sửa sai;
xin lỗi;
giữ giới;
thiền;
phát triển từ bi;
phát triển trí tuệ.
Và:
CƠ HỘI NÀY KHÔNG VÔ HẠN.
21. Đây là nơi ví dụ con rùa gặp Vô thường
Giả sử:
thân người khó được.
Nhưng thân này:
KHÔNG THƯỜNG.
Ta không biết chính xác:
còn bao nhiêu năm.
Ngay cả nếu sống lâu:
tuổi già cũng thay đổi khả năng của thân.
Do đó:
THÂN NGƯỜI KHÓ ĐƯỢC
ĐỜI NGƯỜI VÔ THƯỜNG
tạo nên:
TÍNH KHẨN THIẾT CỦA THỰC HÀNH.
22. Không phải khẩn thiết nghĩa là hoảng loạn
Phật giáo không nhất thiết yêu cầu:
sống trong lo âu rằng mình sắp chết.
Khẩn thiết ở đây gần hơn với:
ĐỪNG PHUNG PHÍ.
Ví dụ:
nếu biết mình chỉ có một ngày ở một thư viện chứa cuốn sách mình tìm cả đời,
ta không cần:
hoảng loạn.
Nhưng ta cũng sẽ không:
dành cả ngày tranh cãi vô nghĩa ngoài cửa.
Đó là tinh thần:
BIẾT GIÁ TRỊ CỦA CƠ HỘI.
23. Điều gì thực sự làm đời người quý?
Không chỉ vì:
TA CÓ THỂ HƯỞNG THỤ.
Động vật cũng tìm:
thức ăn;
an toàn;
giao phối;
nghỉ ngơi.
Con người cũng làm những việc ấy.
Nhưng giá trị đặc biệt được Phật giáo nhấn mạnh là:
KHẢ NĂNG NHẬN RA KHỔ.
↓
TÌM NGUYÊN NHÂN CỦA KHỔ.
↓
BIẾT KHỔ CÓ THỂ CHẤM DỨT.
↓
THỰC HÀNH CON ĐƯỜNG.
Đó chính là lý do SN 56.48 kết thúc bằng:
TỨ THÁNH ĐẾ.
24. Một người có thân người nhưng có thể sống như chưa từng nhận được cơ hội ấy
Ta có thể:
sống tám mươi năm.
Nhưng cả đời chỉ xoay quanh:
KIẾM.
GIỮ.
HƠN THUA.
GHÉT.
LO.
SỢ MẤT.
RỒI CHẾT.
Theo góc nhìn của bài kinh:
vấn đề không chỉ là sống bao lâu.
Mà là:
ĐỜI SỐNG ẤY ĐÃ ĐƯỢC DÙNG VÀO VIỆC GÌ?
25. “Có Pháp” cũng chưa đủ
SN 56.48 còn nhấn mạnh:
Giáo pháp xuất hiện là hiếm.
Nhưng ngay cả khi:
PHÁP ĐANG CÓ,
một người vẫn có thể:
không quan tâm.
Hoặc:
chỉ đọc.
Hoặc:
tranh luận.
Hoặc:
dùng Pháp để chứng minh mình giỏi hơn người khác.
Do đó:
GẶP PHÁP
chưa đồng nghĩa:
THẤY PHÁP.
26. Đây là nơi Pháp học – Pháp hành – Pháp thành gặp nhau
Có thân người.
↓
gặp Pháp.
↓
PHÁP HỌC.
Nhưng phải:
THỰC HÀNH.
↓
Giới.
↓
Định.
↓
Tuệ.
↓
tham sân si suy giảm.
↓
PHÁP THÀNH.
Nếu chỉ:
sưu tập kiến thức,
thì cơ hội quý:
chưa được sử dụng trọn vẹn.
27. Có phải phải xuất gia mới không phí thân người?
KHÔNG NHẤT THIẾT.
Kinh điển ghi nhận:
cả xuất gia và cư sĩ đều có khả năng tu tập ở những mức độ khác nhau.
Một cư sĩ có thể:
giữ giới;
bố thí;
tu tâm;
học Pháp;
thực hành Chánh niệm;
phát triển trí tuệ.
Do đó:
TRÂN QUÝ THÂN NGƯỜI
không đồng nghĩa:
MỌI NGƯỜI PHẢI LẬP TỨC XUẤT GIA.
28. Cũng không có nghĩa phải bỏ hết đời sống thế tục
Nuôi con.
Chăm cha mẹ.
Làm việc.
Giúp người.
Thực hiện trách nhiệm.
Tất cả có thể trở thành:
môi trường thực hành.
Vấn đề là:
TA ĐANG NUÔI DƯỠNG ĐIỀU GÌ?
Tham?
Sân?
Si?
Hay:
giới;
từ;
bi;
Chánh niệm;
trí tuệ?
29. Ví dụ con rùa không hạ thấp đời sống hiện tại
Ngược lại.
Nó nói:
ĐỜI SỐNG NÀY RẤT ĐÁNG QUÝ.
Không phải vì:
“Tôi đặc biệt.”
Mà vì:
ĐIỀU KIỆN HIỆN TẠI CHO PHÉP TU TẬP.
Đây là khác biệt giữa:
TRÂN QUÝ THÂN NGƯỜI
và:
TỰ TÔN LOÀI NGƯỜI.
30. Có một nghịch lý rất đẹp
Phật giáo dạy:
THÂN NÀY VÔ THƯỜNG.
Nhưng đồng thời:
HÃY TRÂN QUÝ THÂN NÀY.
Hai điều:
không mâu thuẫn.
Chính vì:
NÓ KHÔNG KÉO DÀI MÃI
nên:
NÓ ĐÁNG ĐƯỢC SỬ DỤNG CẨN THẬN.
Giống như:
một cơ hội chỉ xuất hiện trong thời gian ngắn.
Giá trị của nó:
tăng lên chính vì nó không vĩnh viễn.
31. Không chấp thân nhưng vẫn chăm sóc thân
Một hiểu lầm khác:
“Nếu thân vô thường và vô ngã thì không cần chăm sóc.”
SAI.
Thân là:
PHƯƠNG TIỆN TU TẬP.
Vì vậy:
ăn uống thích hợp;
ngủ nghỉ;
chữa bệnh;
giữ sức khỏe;
có thể là:
những việc hoàn toàn hợp lý.
Không chấp thân:
KHÔNG ĐỒNG NGHĨA
với:
GHÉT THÂN.
32. Trung đạo xuất hiện ở đây
Một cực:
TÔN THỜ THÂN.
“Mục đích đời người chỉ là làm thân này sung sướng.”
Cực kia:
HÀNH HẠ THÂN.
“Thân là xấu nên phải làm nó đau.”
Con đường của Đức Phật không chọn:
hai cực ấy.
Thân:
KHÔNG PHẢI TỰ NGÃ.
Nhưng:
LÀ MỘT ĐIỀU KIỆN QUÝ CHO TU TẬP.
Do đó:
CHĂM SÓC NHƯNG KHÔNG CHẤP THỦ.
33. Thân người khó được và nghiệp
Trong thế giới quan Phật giáo truyền thống:
TÁI SINH
không diễn ra:
hoàn toàn ngẫu nhiên.
Nghiệp:
là một yếu tố quan trọng.
Nhưng không nên giản lược thành:
“LÀM MỘT VIỆC TỐT = KIẾP SAU CHẮC CHẮN LÀM NGƯỜI.”
Nghiệp:
phức tạp hơn một bảng điểm đơn giản.
Do đó điều hợp lý hơn là:
TẠO CÁC ĐIỀU KIỆN THIỆN
thay vì:
cố tính toán chính xác kiếp sau.
34. Và nghiệp không phải số phận
Nếu thân người hiện tại:
là kết quả của những điều kiện trước đó,
điều đó không có nghĩa:
CUỘC ĐỜI HIỆN TẠI ĐÃ ĐƯỢC LẬP TRÌNH SẴN.
Ngay bây giờ:
TÁC Ý MỚI
↓
HÀNH ĐỘNG MỚI
↓
ĐIỀU KIỆN MỚI
đang được tạo.
Do đó:
THÂN NGƯỜI KHÓ ĐƯỢC
không dẫn đến định mệnh luận.
Nó dẫn đến:
TRÁCH NHIỆM VỚI HIỆN TẠI.
35. Đây là nơi ví dụ gặp Duyên khởi
Ta đã thấy:
KHI CÁI NÀY CÓ, CÁI KIA CÓ.
Được thân người:
cũng do điều kiện.
Gặp Pháp:
cũng do điều kiện.
Có khả năng tu:
cũng do điều kiện.
Nhưng những điều kiện ấy:
KHÔNG BẤT BIẾN.
Do đó:
cơ hội hiện tại cũng sẽ thay đổi.
Duyên khởi vì vậy dẫn trực tiếp đến:
VÔ THƯỜNG
và:
TINH TẤN.
36. “Ngày mai tôi sẽ tu” có vấn đề gì?
Không phải vì:
ngày mai chắc chắn không đến.
Mà vì:
TA KHÔNG BIẾT.
Ta thường trì hoãn:
“Khi công việc ổn tôi sẽ tu.”
“Khi con lớn tôi sẽ tu.”
“Khi về hưu tôi sẽ tu.”
Nhưng:
điều kiện của ngày mai chưa chắc giống hôm nay.
Vì vậy tinh thần của ví dụ con rùa là:
KHI ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI ĐANG CÓ,
HÃY SỬ DỤNG NÓ.
37. Nhưng “tu ngay” không có nghĩa làm điều cực đoan
Không cần:
bỏ việc ngày mai.
Không cần:
ép mình thiền mười giờ.
Không cần:
cắt đứt gia đình.
Tinh tấn có thể bắt đầu rất thực tế:
BỚT MỘT LỜI NÓI GÂY HẠI.
GIỮ MỘT GIỚI TỐT HƠN.
NHẬN RA MỘT CƠN SÂN.
QUAN SÁT MỘT CẢM THỌ.
HIỂU SÂU HƠN MỘT PHÁP.
BỚT MỘT LẦN CHẠY THEO THAM ÁI.
Đó cũng là:
KHÔNG PHÍ THÂN NGƯỜI.
38. Thân người quý không có nghĩa đời người lúc nào cũng đẹp
Đây là điểm quan trọng.
Phật giáo không nói:
vì thân người quý nên mọi trải nghiệm của đời người đều dễ chịu.
Con người vẫn:
bệnh;
già;
mất người thân;
thất bại;
đau;
chết.
Chính những điều ấy:
làm cho Tứ Thánh Đế trở thành vấn đề thực tế.
Giá trị của đời người không phải:
KHÔNG CÓ KHỔ.
Mà là:
CÓ KHẢ NĂNG HIỂU KHỔ.
39. Người đang đau khổ không nên bị bảo “hãy biết quý thân người”
Nếu một người:
đang bệnh nặng,
mất người thân,
tuyệt vọng,
thì dùng giáo lý này để nói:
“Anh phải biết mình may mắn”
có thể trở thành:
THIẾU TỪ BI.
Giáo lý:
không phải công cụ phủ nhận nỗi đau.
Có thể đồng thời nói:
KHỔ ĐANG CÓ THẬT.
và:
ĐỜI SỐNG NÀY VẪN CÓ KHẢ NĂNG CHUYỂN HÓA.
Hai điều:
không loại trừ nhau.
40. Bảng đối chiếu các truyền thống
| Vấn đề | Phật giáo sớm | Theravāda | Đại thừa | Kim Cương thừa |
|---|---|---|---|---|
| Thân người khó được | Có rõ | Nhấn mạnh | Tiếp nhận | Nhấn mạnh mạnh |
| Ví dụ rùa mù | Có | Giữ nguyên | Được tiếp nhận rộng | Thường dùng trong giáo pháp sơ khởi |
| Tái sinh nhiều cảnh giới | Có | Có | Có | Có |
| Thân người thuận lợi cho tu | Có cơ sở rõ | Có | Có | Rất nhấn mạnh |
| Gặp Phật/Pháp là hiếm | Có | Có | Có | Có |
| Tứ Thánh Đế | Kết luận trực tiếp của SN 56.48 | Trung tâm | Tiếp nhận | Tiếp nhận |
| Bồ-đề tâm | Chưa có hệ Đại thừa | Không phải cấu trúc nền | Rất quan trọng | Nền tảng |
| Tám tự do, mười thuận duyên | Chưa có hệ thống này | Không dùng nguyên hệ | Có trong truyền thống Tây Tạng | Rất quan trọng |
| “Khó được” = xác suất toán học | Không | Không | Không | Không |
| Mục đích | Thúc đẩy tinh tấn và thấy Tứ Đế | Tu giải thoát | Bồ-tát đạo/Phật quả trong nhiều hệ | Dùng đời người quý báu để hướng đến Phật quả |
41. Những điểm dễ hiểu lầm
“Con rùa nổi lên mỗi trăm năm là mô tả khoa học.”
KHÔNG.
Đây là:
một ví dụ giáo pháp.
“Có thể tính xác suất được làm người từ diện tích cái lỗ.”
KHÔNG.
Kinh không cung cấp:
mô hình xác suất toán học.
“Thân người khó được nghĩa là con người cao quý tuyệt đối hơn mọi sinh vật.”
KHÔNG NHẤT THIẾT.
Điểm nhấn nằm ở:
CƠ HỘI TU TẬP.
“Đã được làm người tức là chắc chắn có điều kiện tu tốt.”
KHÔNG.
Hoàn cảnh của mỗi người:
rất khác nhau.
“Thân người quý báu với tám tự do, mười thuận duyên được trình bày nguyên như vậy trong SN 56.48.”
KHÔNG.
Đó là:
sự hệ thống hóa nổi bật trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng về sau.
“Phải sợ kiếp sau mới chịu tu.”
KHÔNG.
Động lực cũng có thể đến từ:
TRÍ TUỆ VÀ SỰ TRÂN TRỌNG.
“Thân người quý nên phải bám lấy sự sống bằng mọi giá.”
KHÔNG PHẢI Ý NGHĨA CỦA KINH.
Thân vẫn:
VÔ THƯỜNG.
“Vì thân vô ngã nên không cần chăm sóc.”
SAI.
Thân là:
điều kiện quan trọng cho đời sống và tu tập.
“Chỉ cần được thân người là đủ.”
KHÔNG.
SN 56.48 dẫn thẳng đến:
TỨ THÁNH ĐẾ.
42. Điều đáng quý nhất không phải chỉ là “tôi đang sống”
Sâu hơn là:
TÔI CÓ THỂ HỌC.
TÔI CÓ THỂ NHẬN RA SAI LẦM.
TÔI CÓ THỂ THAY ĐỔI.
TÔI CÓ THỂ GIỮ GIỚI.
TÔI CÓ THỂ PHÁT TRIỂN TỪ BI.
TÔI CÓ THỂ QUAN SÁT TÂM.
TÔI CÓ THỂ THẤY VÔ THƯỜNG.
TÔI CÓ THỂ HIỂU KHỔ.
Và quan trọng nhất:
CÁC NGUYÊN NHÂN CỦA KHỔ
CÓ THỂ ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ.
Đó mới là:
GIÁ TRỊ GIẢI THOÁT CỦA THÂN NGƯỜI.
43. Một bản đồ toàn bài
ĐẠI DƯƠNG MÊNH MÔNG
↓
MỘT CHIẾC ÁCH CÓ MỘT LỖ
↓
trôi theo:
BỐN HƯỚNG GIÓ
↓
MỘT CON RÙA MÙ
↓
100 NĂM NỔI LÊN MỘT LẦN
↓
cổ tình cờ chui đúng:
CHIẾC LỖ.
↓
CỰC KỲ HIẾM.
Đức Phật dùng hình ảnh ấy để nhắc:
ĐƯỢC LÀM NGƯỜI – HIẾM.
PHẬT XUẤT HIỆN – HIẾM.
CHÁNH PHÁP ĐƯỢC TUYÊN THUYẾT – HIẾM.
Và khi những điều kiện ấy gặp nhau:
ĐỪNG PHUNG PHÍ.
↓
HÃY HIỂU KHỔ.
↓
HÃY HIỂU NGUYÊN NHÂN KHỔ.
↓
HÃY CHỨNG NGỘ SỰ CHẤM DỨT KHỔ.
↓
HÃY TU TẬP CON ĐƯỜNG.
Đó chính là:
TỨ THÁNH ĐẾ.
44. Câu hỏi cuối cùng không phải “xác suất bao nhiêu?”
Nếu hỏi:
“Chính xác cơ hội được làm người là một phần bao nhiêu tỷ?”
ta đã đưa ví dụ:
sang một lĩnh vực mà bài kinh không định giải quyết.
Câu hỏi Đức Phật hướng người nghe đến gần hơn là:
“BÂY GIỜ CƠ HỘI ĐÃ CÓ,
BẠN SẼ LÀM GÌ VỚI NÓ?”
Đây là sự chuyển hướng rất quan trọng.
Từ:
TÒ MÒ VỀ XÁC SUẤT
sang:
TRÁCH NHIỆM VỚI HIỆN TẠI.
45. Một đời người nhìn từ ví dụ con rùa
Ta có thể dùng đời người để:
TÍCH LŨY THÊM.
HƠN THUA THÊM.
SÂN HẬN THÊM.
CHẤP THỦ THÊM.
Và rồi:
MẤT TẤT CẢ KHI CÁC DUYÊN TAN.
Hoặc dùng chính đời sống ấy để:
HIỂU VÔ THƯỜNG.
HIỂU KHỔ.
HIỂU VÔ NGÃ.
THẤY DUYÊN KHỞI.
GIẢM THAM.
GIẢM SÂN.
GIẢM SI.
Hai người:
đều có thân người.
Nhưng cách sử dụng cơ hội ấy:
HOÀN TOÀN KHÁC NHAU.
Kết luận
Ví dụ con rùa mù và chiếc ách gỗ một lỗ là một trong những hình ảnh mạnh nhất của kinh điển về:
SỰ HIẾM CÓ CỦA CƠ HỘI LÀM NGƯỜI.
Hãy hình dung:
MỘT ĐẠI DƯƠNG.
Trên đó:
MỘT CHIẾC ÁCH CÓ MỘT LỖ
trôi theo gió.
Dưới đáy biển:
MỘT CON RÙA MÙ.
Nó chỉ:
MỘT TRĂM NĂM
mới nổi lên:
MỘT LẦN.
Và đúng khoảnh khắc ấy:
cổ nó phải lọt đúng vào chiếc lỗ đang trôi.
Hình ảnh không nhằm cho chúng ta:
một tỷ lệ xác suất.
Nó muốn làm nổi bật:
MỘT CƠ HỘI CỰC KỲ HIẾM.
Nhưng SN 56.48 còn đi xa hơn.
Không chỉ:
THÂN NGƯỜI KHÓ ĐƯỢC.
Mà:
PHẬT XUẤT HIỆN Ở ĐỜI CŨNG HIẾM.
Và:
GIÁO PHÁP DẪN ĐẾN GIẢI THOÁT ĐƯỢC TUYÊN THUYẾT CŨNG HIẾM.
Khi:
CÓ THÂN NGƯỜI
CÓ CƠ HỘI GẶP PHÁP
CÓ KHẢ NĂNG HỌC VÀ THỰC HÀNH,
thì câu hỏi quan trọng không còn là:
“Tôi may mắn đến mức nào?”
mà là:
“TÔI SẼ SỬ DỤNG CƠ HỘI NÀY NHƯ THẾ NÀO?”
Bởi thân này:
KHÓ ĐƯỢC
nhưng đồng thời:
VÔ THƯỜNG.
Vì vậy:
TRÂN QUÝ THÂN NGƯỜI
KHÔNG PHẢI CHẤP THỦ THÂN NGƯỜI.
Nó là:
DÙNG THÂN NÀY ĐÚNG MỤC ĐÍCH.
Không phải chỉ:
sống lâu hơn.
Mà:
SỐNG TỈNH THỨC HƠN.
Không phải chỉ:
sở hữu nhiều hơn.
Mà:
CHẤP THỦ ÍT HƠN.
Không phải chỉ:
học nhiều Phật pháp hơn.
Mà:
THAM – SÂN – SI ÍT HƠN.
Và đó là lý do bài kinh cuối cùng không kết thúc ở:
CON RÙA.
Cũng không kết thúc ở:
THÂN NGƯỜI.
Nó kết thúc ở:
TỨ THÁNH ĐẾ.
Bởi giá trị lớn nhất của thân người, theo logic của bài kinh, chính là:
KHẢ NĂNG NHẬN RA KHỔ,
HIỂU NGUYÊN NHÂN CỦA KHỔ,
CHỨNG NGỘ SỰ CHẤM DỨT KHỔ,
và:
TU TẬP CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN CHẤM DỨT KHỔ.
Vì vậy thông điệp của ví dụ có thể cô đọng thành:
THÂN NGƯỜI KHÓ ĐƯỢC.
CƠ HỘI GẶP PHÁP KHÓ ĐƯỢC.
ĐỜI NGƯỜI LẠI VÔ THƯỜNG.
Cho nên: