Thế giới hữu hạn hay vô hạn có giúp chấm dứt khổ không?
Báo lỗi nội dung
Thế giới hữu hạn hay vô hạn có giúp chấm dứt khổ không?
Thế giới hữu hạn hay vô hạn có giúp chấm dứt khổ không?
Vũ trụ có:
HỮU HẠN
hay:
VÔ HẠN?
Thế giới:
VĨNH CỬU
hay:
KHÔNG VĨNH CỬU?
Con người sau khi chết:
còn tồn tại?
không tồn tại?
Thân và cái được gọi là “sinh mạng”:
là một?
hay hoàn toàn khác nhau?
Những câu hỏi như vậy đã xuất hiện:
từ thời Đức Phật.
Nhưng phản ứng của Ngài rất đáng chú ý.
Ngài không xây dựng con đường giải thoát dựa trên việc:
GIẢI QUYẾT TOÀN BỘ NHỮNG CÂU HỎI SIÊU HÌNH ẤY.
Một trong những bài kinh nổi tiếng nhất về vấn đề này là:
MN 63 – CŪḶAMĀLUṄKYA SUTTA
thường được biết đến qua:
VÍ DỤ MŨI TÊN ĐỘC.
Thông điệp căn bản không phải:
“ĐỪNG SUY NGHĨ.”
Mà là:
“HÃY BIẾT CÂU HỎI NÀO THỰC SỰ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC CHẤM DỨT KHỔ.”
1. Māluṅkyaputta muốn Đức Phật trả lời điều gì?
Tỳ-kheo Māluṅkyaputta suy nghĩ về một số vấn đề mà Đức Phật không xác quyết.
Trong đó có:
THẾ GIỚI LÀ VĨNH CỬU?
hay:
THẾ GIỚI KHÔNG VĨNH CỬU?
THẾ GIỚI HỮU HẠN?
hay:
THẾ GIỚI VÔ HẠN?
Ngoài ra còn những vấn đề liên quan đến:
thân và sinh mạng;
Như Lai sau khi chết.
Māluṅkyaputta muốn:
Đức Phật phải trả lời.
Nếu không:
ông sẽ không tiếp tục đời sống tu hành dưới sự hướng dẫn của Ngài.
2. Đức Phật hỏi lại một điều rất quan trọng
Về đại ý, Đức Phật hỏi:
Khi ông xuất gia theo Ta, Ta có từng hứa rằng nếu ông sống đời Phạm hạnh thì Ta sẽ giải đáp cho ông thế giới hữu hạn hay vô hạn không?
Câu trả lời:
KHÔNG.
Ngược lại, Māluṅkyaputta cũng chưa từng đặt điều kiện:
“Con chỉ tu nếu Ngài giải đáp toàn bộ các vấn đề ấy.”
Điểm này cho thấy:
MỤC ĐÍCH CỦA ĐỜI SỐNG PHẠM HẠNH
không được xác lập như một dự án:
GIẢI MỌI BÀI TOÁN VŨ TRỤ HỌC.
3. Rồi Đức Phật kể ví dụ mũi tên độc
Hãy tưởng tượng một người:
BỊ BẮN TRÚNG MŨI TÊN TẨM ĐỘC.
Gia đình đưa:
thầy thuốc
đến cứu.
Nhưng người bị thương nói:
“Tôi chưa cho rút mũi tên.”
Trước tiên tôi phải biết:
ai bắn tôi?
người đó thuộc tầng lớp nào?
tên gì?
cao hay thấp?
sống ở đâu?
dùng loại cung gì?
dây cung làm bằng gì?
mũi tên thuộc loại nào?
lông gắn vào tên thuộc loài chim nào?
đầu tên được chế tạo ra sao?
Chỉ khi:
tất cả những câu hỏi ấy được trả lời,
người đó mới cho:
RÚT MŨI TÊN.
4. Chuyện gì sẽ xảy ra?
Người ấy có thể:
CHẾT
trước khi:
nhận được tất cả câu trả lời.
Đây chính là điểm của ví dụ.
Một số câu hỏi:
có thể thú vị.
Một số:
thậm chí có thể có câu trả lời.
Nhưng khi:
MŨI TÊN ĐANG Ở TRONG NGỰC,
thì ưu tiên trước mắt là:
RÚT MŨI TÊN.
5. Mũi tên trong ví dụ là gì?
Không nên hiểu máy móc:
mỗi chi tiết trong câu chuyện phải tương ứng chính xác với một giáo lý.
Nhưng ý nghĩa tổng thể rất rõ.
Con người đang đối diện:
SINH.
GIÀ.
BỆNH.
CHẾT.
SẦU.
KHỔ.
THAM.
SÂN.
SI.
Trong tình trạng ấy, nếu nói:
“Tôi sẽ chưa thực hành cho đến khi biết chắc vũ trụ hữu hạn hay vô hạn,”
thì theo logic của MN 63:
vấn đề căn bản của khổ vẫn chưa được giải quyết.
6. Nếu thế giới hữu hạn, khổ có tự chấm dứt không?
Giả sử ngày mai ta chứng minh chắc chắn:
VŨ TRỤ HỮU HẠN.
Sau khi biết điều đó:
tham có tự biến mất không?
KHÔNG NHẤT THIẾT.
Sân?
KHÔNG.
Chấp thủ?
KHÔNG.
Sợ chết?
KHÔNG.
Vô minh về cơ chế sinh khổ?
KHÔNG NHẤT THIẾT.
Ta có thể:
biết một sự thật rất lớn về vũ trụ
mà vẫn:
nổi giận vì một câu nói.
7. Nếu thế giới vô hạn thì sao?
Giả sử ngược lại:
VŨ TRỤ VÔ HẠN.
Ta biết điều ấy với:
độ chắc chắn tuyệt đối.
Nhưng sáng hôm sau:
một người xúc phạm ta.
Ta vẫn có thể:
SÂN.
Mất thứ mình yêu:
KHỔ.
Được thứ mình thích:
THAM GIỮ.
Bị đe dọa:
SỢ.
Do đó:
KIẾN THỨC VŨ TRỤ HỌC
≠
GIẢI THOÁT.
8. Đức Phật không nói đáp án nào cũng giống nhau
Đây là một phân biệt quan trọng.
Từ việc Đức Phật không xác quyết một câu hỏi, không nên suy ra:
“Cả hai đáp án đều đúng.”
Hoặc:
“Cả hai đều sai.”
Hoặc:
“Đức Phật bí mật biết đáp án nhưng cố tình giấu.”
MN 63 nhấn mạnh một điểm thực hành khác:
DÙ CHẤP NHẬN MỘT SỐ LẬP TRƯỜNG SIÊU HÌNH NÀO ĐÓ,
VẤN ĐỀ SINH – GIÀ – CHẾT – KHỔ VẪN CÒN.
9. Đây là ý nghĩa của “bất định”
Pāli thường dùng:
AVYĀKATA
cho những vấn đề:
không được Đức Phật xác quyết theo các phương án được đặt ra.
Có thể dịch:
không được tuyên bố;
không được xác định;
không được giải đáp theo khuôn hỏi ấy.
Nhưng:
AVYĀKATA
không nên bị hiểu đơn giản là:
“ĐỨC PHẬT KHÔNG BIẾT.”
Đó là một kết luận vượt quá văn bản.
10. Cũng không nên dịch thành “câu hỏi vô nghĩa”
Một câu hỏi có thể:
có ý nghĩa trong một lĩnh vực,
nhưng:
không phục vụ mục tiêu cụ thể của một lĩnh vực khác.
Ví dụ:
một bệnh nhân bị xuất huyết.
Hỏi:
“Bệnh viện này xây năm nào?”
không phải câu hỏi:
hoàn toàn vô nghĩa.
Nhưng trong tình huống ấy:
NÓ KHÔNG PHẢI CÂU HỎI CẤP THIẾT NHẤT.
Tương tự:
“VŨ TRỤ HỮU HẠN HAY VÔ HẠN?”
có thể là câu hỏi triết học hoặc khoa học đáng nghiên cứu.
Nhưng:
MN 63 ĐANG HỎI VỀ CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT.
11. Đức Phật không chống lại tri thức
Nếu hiểu ví dụ mũi tên thành:
“ĐẠO PHẬT CHỐNG KHOA HỌC”
thì sai.
Kinh điển chứa rất nhiều:
phân tích;
quan sát;
phân loại;
lập luận;
khảo sát nhân duyên.
Đức Phật nhiều lần yêu cầu:
hiểu rõ.
Chánh kiến:
là một chi của Bát Chánh Đạo.
Trí tuệ:
là yếu tố cốt lõi của giải thoát.
Do đó vấn đề không phải:
TRI THỨC LÀ XẤU.
Mà là:
LOẠI TRI THỨC NÀO CÓ CHỨC NĂNG GÌ?
12. Khoa học có thể hỏi về vũ trụ
Nếu thiên văn học hỏi:
vũ trụ quan sát được lớn đến đâu?
hình học không-thời gian thế nào?
vũ trụ tiến hóa ra sao?
đó là:
NHỮNG CÂU HỎI HỢP LỆ CỦA KHOA HỌC.
Phật giáo không cần ngăn cản:
việc nghiên cứu chúng.
Nhưng nếu hỏi:
“Biết kích thước vũ trụ có tự động đoạn tham, sân, si không?”
thì:
ĐÓ LÀ MỘT CÂU HỎI KHÁC.
13. Đây là khác biệt giữa “biết nhiều” và “biết để giải thoát”
Một người có thể biết:
vật lý;
thiên văn;
triết học;
lịch sử;
Phật học.
Nhưng:
vẫn tham.
vẫn sân.
vẫn chấp ngã.
Ngược lại, điều đó cũng không có nghĩa:
người tu phải ngu dốt.
Điểm cần phân biệt là:
KIẾN THỨC
và:
TUỆ GIẢI THOÁT
không hoàn toàn đồng nghĩa.
14. Đức Phật đã tuyên bố điều gì?
MN 63 tạo ra một đối lập rất rõ:
Có những điều:
KHÔNG ĐƯỢC NGÀI XÁC QUYẾT.
Và có những điều:
ĐƯỢC NGÀI TUYÊN THUYẾT.
Ngài tuyên thuyết:
ĐÂY LÀ KHỔ.
ĐÂY LÀ KHỔ TẬP.
ĐÂY LÀ KHỔ DIỆT.
ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN KHỔ DIỆT.
Tức:
TỨ THÁNH ĐẾ.
15. Vì sao Tứ Thánh Đế được dạy?
Bởi chúng:
LIÊN QUAN ĐẾN MỤC ĐÍCH.
Chúng dẫn đến:
yếm ly theo nghĩa hết mê đắm;
ly tham;
đoạn diệt;
an tịnh;
thắng trí;
giác ngộ;
Niết-bàn.
Đây chính là tiêu chuẩn quan trọng:
GIÁO PHÁP ĐƯỢC CHỌN THEO CHỨC NĂNG GIẢI THOÁT.
16. Đức Phật không cố xây một “bách khoa toàn thư về mọi thứ”
Điều này rất quan trọng để hiểu Phật pháp.
Mục tiêu của Đức Phật không phải:
GIẢI THÍCH TẤT CẢ MỌI HIỆN TƯỢNG TRONG VŨ TRỤ.
Ngài tập trung vào:
KHỔ
và:
SỰ CHẤM DỨT KHỔ.
Do đó Phật pháp có thể được hiểu gần với:
MỘT CON ĐƯỜNG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ.
Không phải:
BỘ BÁCH KHOA TOÀN THƯ VŨ TRỤ.
17. Ví dụ người thầy thuốc
Tứ Thánh Đế thường có thể được minh họa:
KHỔ
→ bệnh.
TẬP
→ nguyên nhân bệnh.
DIỆT
→ khả năng khỏi bệnh.
ĐẠO
→ phương pháp điều trị.
Người bệnh có thể đồng thời nghiên cứu:
cấu tạo của các thiên hà.
Không có gì sai.
Nhưng để chữa bệnh:
cần xử lý nguyên nhân bệnh.
Đó là:
ĐÚNG CÂU HỎI CHO ĐÚNG MỤC ĐÍCH.
18. Những câu hỏi bất định nổi tiếng
Các danh sách kinh điển có thể được nhóm quanh những vấn đề như:
Về thế giới
THẾ GIỚI VĨNH CỬU?
THẾ GIỚI KHÔNG VĨNH CỬU?
THẾ GIỚI HỮU HẠN?
THẾ GIỚI VÔ HẠN?
Về thân và sinh mạng
SINH MẠNG VÀ THÂN LÀ MỘT?
SINH MẠNG VÀ THÂN LÀ KHÁC?
Về Như Lai sau khi chết
TỒN TẠI?
KHÔNG TỒN TẠI?
VỪA TỒN TẠI VỪA KHÔNG TỒN TẠI?
KHÔNG PHẢI TỒN TẠI CŨNG KHÔNG PHẢI KHÔNG TỒN TẠI?
Nhưng không nên gom mọi câu hỏi khó trong Phật giáo vào:
AVYĀKATA.
Đó là một nhóm vấn đề có ngữ cảnh văn bản cụ thể.
19. Tại sao không trả lời có/không?
Có nhiều tầng để hiểu.
Ở MN 63, lý do thực hành nổi bật là:
DÙ GIẢI ĐÁP THEO NHỮNG PHƯƠNG ÁN ẤY,
VẤN ĐỀ KHỔ VẪN CÒN.
Nhưng ở những kinh khác, đặc biệt khi bàn về Như Lai sau khi chết, còn xuất hiện vấn đề sâu hơn:
chính khung khái niệm dùng để hỏi có thể không thích hợp.
Đây là điểm cần phân biệt.
Không phải mọi sự im lặng:
đều có cùng một lý do duy nhất.
20. Ví dụ lửa giúp hiểu vấn đề về Như Lai
Trong MN 72 – Aggivacchagotta Sutta, Vacchagotta hỏi về Như Lai sau khi chết.
Đức Phật sử dụng hình ảnh:
NGỌN LỬA.
Khi lửa tắt vì:
nhiên liệu không còn,
hỏi:
“Lửa đi về phía đông?”
Không thích hợp.
“Phía tây?”
Không.
“Bắc?”
Không.
“Nam?”
Không.
Vấn đề không nhất thiết là:
lửa đã chuyển sang một nơi bí mật.
Mà là:
CÁC PHẠM TRÙ ĐANG DÙNG ĐỂ HỎI KHÔNG CÒN ÁP DỤNG THEO CÁCH ẤY.
21. Đây là lý do không nên giải thích mọi bất định bằng “Đức Phật không quan tâm”
Ngài không chỉ nói:
“Tôi không thích chủ đề này.”
Trong một số trường hợp:
CÂU HỎI KHÔNG PHỤC VỤ GIẢI THOÁT.
Trong một số trường hợp khác:
TIỀN ĐỀ CỦA CÂU HỎI CÓ VẤN ĐỀ.
Ví dụ:
nếu câu hỏi giả định sẵn một tự ngã tồn tại độc lập,
thì trả lời “có” hay “không”:
có thể đều tiếp tục giữ nguyên giả định sai ấy.
22. Duyên khởi đưa ra một cách hỏi khác
Thay vì:
“MỌI THỨ THẬT SỰ CÓ HAY KHÔNG?”
Duyên khởi hỏi:
“CÁI NÀY SINH DO ĐIỀU KIỆN NÀO?”
Thay vì:
“Cái Ta tồn tại vĩnh viễn hay bị tiêu diệt?”
Phật giáo khảo sát:
NĂM UẨN
↓
DUYÊN SINH
↓
VÔ THƯỜNG
↓
KHÔNG THÍCH HỢP CHẤP LÀ TỰ NGÃ.
Đây là sự thay đổi rất lớn trong phương pháp.
23. Trung đạo giữa “có” và “không”
Trong SN 12.15 – Kaccānagotta Sutta, Đức Phật nói thế gian thường dựa vào hai cực:
CÓ
và:
KHÔNG.
Duyên khởi tránh việc đóng khung thực tại đơn giản bằng hai cực ấy:
KHI CÁI NÀY CÓ,
CÁI KIA CÓ.
DO CÁI NÀY SINH,
CÁI KIA SINH.
Và:
KHI CÁI NÀY KHÔNG CÓ,
CÁI KIA KHÔNG CÓ.
DO CÁI NÀY DIỆT,
CÁI KIA DIỆT.
Trọng tâm chuyển từ:
BẢN THỂ CỐ ĐỊNH
sang:
QUAN HỆ ĐIỀU KIỆN.
24. Vì vậy Duyên khởi có giá trị giải thoát
Giả sử ta đang sân.
Câu hỏi:
“Vũ trụ hữu hạn hay vô hạn?”
không trực tiếp cho ta biết:
cơn sân đang được nuôi bởi cái gì.
Nhưng Duyên khởi có thể cho thấy:
XÚC
↓
THỌ
↓
ÁI / CHỐNG ĐỐI
↓
THỦ
↓
KHỔ.
Khi thấy:
cơ chế đang vận hành,
ta có thể:
THAY ĐỔI CÁC ĐIỀU KIỆN.
Đây là tri thức có:
CHỨC NĂNG GIẢI THOÁT TRỰC TIẾP.
25. “Biết vũ trụ” và “biết thế giới” trong Phật giáo có thể khác nhau
Trong một số kinh, “thế giới”:
LOKA
không chỉ được khảo sát như:
toàn bộ không gian vật lý.
Nó còn được đưa trở lại:
KINH NGHIỆM.
Mắt.
Sắc.
Nhãn thức.
Xúc.
Thọ.
Và tương tự với:
tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Do đó câu hỏi chuyển từ:
“Thế giới rộng bao nhiêu?”
sang:
“THẾ GIỚI NÀY ĐANG TRỞ THÀNH ĐỐI TƯỢNG CỦA ÁI VÀ THỦ NHƯ THẾ NÀO?”
26. Rohitassa và “tận cùng thế giới”
Trong AN 4.45 – Rohitassa Sutta, một vấn đề rất thú vị được đặt ra:
có thể bằng cách đi mà đến tận cùng thế giới, nơi không còn sinh già chết, hay không?
Câu trả lời:
KHÔNG.
Nhưng Đức Phật cũng nói rằng trong chính:
thân thể có tri giác và tâm này,
Ngài tuyên bố:
THẾ GIỚI.
SỰ SINH KHỞI CỦA THẾ GIỚI.
SỰ CHẤM DỨT CỦA THẾ GIỚI.
CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN SỰ CHẤM DỨT THẾ GIỚI.
Đây là một sự chuyển hướng cực kỳ quan trọng.
27. Không phải “vũ trụ nằm trong cơ thể”
Đừng đọc AN 4.45 theo nghĩa:
các thiên hà nằm vật lý trong người.
Điểm bài kinh liên quan đến:
VẤN ĐỀ GIẢI THOÁT.
“Tận cùng thế giới” mà hành giả cần đạt:
không phải tọa độ ở rìa không gian.
Nó liên hệ với:
SỰ CHẤM DỨT KHỔ.
28. Đi hàng tỷ năm ánh sáng vẫn mang theo tham sân si
Giả sử một người có thể:
bay đến tận rìa vũ trụ.
Nếu người đó vẫn có:
THAM
SÂN
SI
ÁI
THỦ,
thì:
VẤN ĐỀ CỦA KHỔ VẪN ĐI CÙNG.
Đây là ý nghĩa rất mạnh của việc:
đưa con đường trở lại chính kinh nghiệm.
29. Nhưng đừng biến Phật giáo thành “chỉ quan tâm nội tâm”
Đó cũng là một cực đoan.
Phật giáo có:
đạo đức;
quan hệ con người;
cộng đồng;
hành động thân khẩu;
từ bi;
trách nhiệm.
Tu tâm không có nghĩa:
thế giới bên ngoài không quan trọng.
Điều được nhấn mạnh là:
GIẢI THOÁT KHÔNG THỂ ĐƯỢC THAY THẾ BẰNG KIẾN THỨC VỀ THẾ GIỚI BÊN NGOÀI.
30. Kiến thức đúng vẫn có thể rất có ích
Ví dụ:
kiến thức y học có thể cứu mạng.
kiến thức khí hậu có thể giảm thiệt hại.
khoa học có thể giúp con người hiểu tự nhiên.
Phật giáo không cần phủ nhận:
GIÁ TRỊ THẾ GIAN CỦA TRI THỨC.
Nhưng phải phân biệt:
HỮU ÍCH CHO ĐỜI SỐNG
với:
TRỰC TIẾP ĐOẠN TRỪ THAM – SÂN – SI.
Không phải mọi điều hữu ích:
đều có cùng chức năng.
31. Chánh kiến không có nghĩa biết mọi thứ
Một vị giải thoát không cần:
biết mọi phương trình vật lý.
Không cần:
biết số lượng thiên hà.
Không cần:
biết mọi ngôn ngữ.
Chánh kiến hướng đến:
HIỂU KHỔ.
HIỂU NGUYÊN NHÂN KHỔ.
HIỂU KHẢ NĂNG CHẤM DỨT KHỔ.
HIỂU CON ĐƯỜNG.
Vì vậy:
TRÍ TUỆ GIẢI THOÁT
không đồng nghĩa:
TOÀN TRI KIỂU BÁCH KHOA.
32. Đây là nơi ví dụ Lõi Cây gặp ví dụ Mũi Tên
Trong MN 29 – Đại Kinh Ví Dụ Lõi Cây, ngay cả:
lợi dưỡng;
danh tiếng;
giới;
định;
tri kiến
cũng không nên bị nhận lầm là:
CỨU CÁNH.
MN 63 bổ sung một góc khác:
ngay cả những câu hỏi trí thức lớn lao cũng không nên làm ta quên:
MŨI TÊN VẪN ĐANG CẮM.
Một bên cảnh báo:
ĐỪNG DỪNG Ở THÀNH TỰU.
Một bên cảnh báo:
ĐỪNG TRÌ HOÃN VIỆC CHỮA KHỔ VÌ MUỐN GIẢI HẾT MỌI CÂU HỎI.
33. Điều này cũng liên hệ với “ngón tay và mặt trăng”
Giáo pháp:
là phương tiện dẫn đến thấy biết.
Khái niệm:
giúp định hướng.
Nhưng nếu biến Phật học thành:
MỘT HỆ THỐNG ĐỂ TRANH LUẬN VÔ TẬN,
thì phương tiện có thể:
che mất cứu cánh.
Biết:
hàng trăm thuật ngữ
không nhất thiết làm:
THAM GIẢM.
SÂN GIẢM.
SI GIẢM.
Đó vẫn là phép thử thực hành rất quan trọng.
34. Phật giáo sớm có phải chống siêu hình học?
Nói:
“ĐỨC PHẬT CHỐNG MỌI SIÊU HÌNH HỌC”
là quá rộng.
Kinh điển sớm vẫn có nhiều tuyên bố về:
nghiệp;
tái sinh;
các cảnh giới;
chư thiên;
Niết-bàn;
Duyên khởi.
Do đó Đức Phật không đơn giản:
từ chối nói về mọi vấn đề vượt kinh nghiệm đời thường.
Chính xác hơn:
NGÀI KHÔNG XEM VIỆC GIẢI QUYẾT MỌI TRANH LUẬN SIÊU HÌNH LÀ ĐIỀU KIỆN CẦN CHO GIẢI THOÁT.
35. Theravāda tiếp nhận vấn đề này thế nào?
Theravāda bảo tồn:
MN 63
và các danh sách:
AVYĀKATA.
Các truyền thống chú giải tiếp tục phân tích:
vì sao Đức Phật không xác quyết những vấn đề ấy.
Nhưng Theravāda không vì vậy:
từ bỏ toàn bộ vũ trụ luận.
Truyền thống vẫn có những hệ thống mô tả:
cảnh giới;
nghiệp;
tái sinh;
chu kỳ thế giới.
Do đó:
AVYĀKATA
không đồng nghĩa
KHÔNG ĐƯỢC PHÉP BÀN VỀ VŨ TRỤ.
36. Đại thừa phát triển vấn đề thế nào?
Đại thừa tiếp nhận:
VÔ NGÃ
DUYÊN KHỞI
và phát triển mạnh:
TÁNH KHÔNG.
Đặc biệt Trung quán cho thấy:
nhiều câu hỏi trở nên rắc rối khi ta giả định các pháp có tự tính độc lập.
Nếu:
“CÓ”
bị hiểu là:
tự hữu tuyệt đối,
và:
“KHÔNG”
bị hiểu là:
hư vô tuyệt đối,
thì cả hai đều có thể trở thành:
CỰC ĐOAN.
37. Trung quán không đơn giản trả lời mọi câu hỏi bằng “Không”
Đây là một lỗi rất phổ biến.
TÁNH KHÔNG
không phải:
đáp án “không có gì.”
Nó là sự phủ định:
TỰ TÍNH ĐỘC LẬP.
Các pháp:
CÓ DO DUYÊN
nhưng:
KHÔNG TỰ HỮU.
Vì vậy tư duy Trung quán có thể xem việc mắc kẹt trong các cực:
tồn tại tuyệt đối / không tồn tại tuyệt đối
là biểu hiện của:
CHẤP TỰ TÍNH.
38. Kim Cương thừa thì sao?
Kim Cương thừa kế thừa nền tảng Đại thừa:
TÁNH KHÔNG
BỒ-ĐỀ TÂM
DUYÊN KHỞI.
Các thực hành Mật thừa rất phức tạp nhưng mục tiêu không phải:
thu thập thêm những câu trả lời vũ trụ học để thỏa mãn tò mò.
Trong khuôn khổ truyền thống:
phương pháp phải phục vụ con đường hướng đến Phật quả.
Do đó tiêu chuẩn:
PHƯƠNG TIỆN PHẢI HƯỚNG ĐẾN CỨU CÁNH
vẫn còn nguyên.
39. Bảng đối chiếu
| Vấn đề | Phật giáo sớm | Theravāda | Đại thừa | Kim Cương thừa |
|---|---|---|---|---|
| Câu hỏi thế giới hữu hạn/vô hạn | Thuộc nhóm bất định trong các kinh liên quan | Bảo tồn | Tiếp nhận nền tảng | Tiếp nhận |
| Giải đáp vũ trụ học là điều kiện để giải thoát | Không | Không | Không | Không |
| Tứ Thánh Đế | Trọng tâm | Trọng tâm | Tiếp nhận | Tiếp nhận |
| Duyên khởi | Nền tảng | Nền tảng | Nền tảng | Nền tảng |
| Vô ngã | Nền tảng | Nền tảng | Nền tảng | Nền tảng |
| Tánh Không kiểu Madhyamaka | Chưa có nguyên hệ | Không dùng nguyên hệ | Phát triển mạnh | Nền tảng trong nhiều hệ |
| Nghiên cứu thế giới/vũ trụ bị cấm | Không | Không | Không | Không |
| Mục tiêu | Đoạn khổ | Niết-bàn | Giải thoát/Phật quả tùy hệ | Phật quả |
| Tiêu chuẩn thực hành | Có dẫn đến ly tham, đoạn diệt, giải thoát không? | Tương tự | Thêm khung Bồ-tát đạo trong nhiều hệ | Bồ-đề tâm + trí tuệ + phương tiện |
40. Những điểm dễ hiểu lầm
“Đức Phật không trả lời vì Ngài không biết.”
KHÔNG THỂ KẾT LUẬN NHƯ VẬY TỪ VĂN BẢN.
Điểm được nhấn mạnh là:
các vấn đề ấy không được Ngài xác quyết theo khuôn hỏi đó.
“Đức Phật biết nhưng cố tình giấu đáp án.”
CŨNG KHÔNG NÊN TỰ ĐỘNG KHẲNG ĐỊNH.
Nếu văn bản không nói:
không nên thêm một câu chuyện mà ta không có bằng chứng.
“Các câu hỏi ấy hoàn toàn vô nghĩa.”
QUÁ MẠNH.
Chúng có thể có ý nghĩa:
triết học hoặc khoa học.
Nhưng không phải vì thế mà chúng:
trực tiếp đưa đến đoạn tận khổ.
“Phật giáo chống khoa học.”
SAI.
Phân biệt:
NGHIÊN CỨU THẾ GIỚI
với:
CON ĐƯỜNG ĐOẠN KHỔ.
“Người tu không được hỏi.”
SAI.
Chánh kiến đòi hỏi:
khảo sát và hiểu đúng.
Vấn đề là:
ĐỪNG BIẾN NHỮNG CÂU HỎI KHÔNG CẦN THIẾT THÀNH ĐIỀU KIỆN ĐỂ BẮT ĐẦU TU.
“Chỉ cần thực hành, không cần hiểu gì.”
SAI.
Bát Chánh Đạo bắt đầu với:
CHÁNH KIẾN.
Tu tập Phật giáo không phải:
chống trí tuệ.
“Mọi câu hỏi siêu hình đều thuộc avyākata.”
SAI.
Avyākata trong ngữ cảnh này chỉ:
những vấn đề cụ thể không được xác quyết.
“Im lặng nghĩa là cả hai đáp án đều đúng.”
KHÔNG.
Không xác quyết:
không đồng nghĩa xác nhận cả hai.
“Im lặng nghĩa là cả hai đáp án đều sai.”
CŨNG KHÔNG NHẤT THIẾT.
Phải xem:
ngữ cảnh của từng bài kinh.
41. Một ví dụ hiện đại
Giả sử một người:
mất ngủ vì hận một người khác.
Anh ta dành cả đêm để nghiên cứu:
VŨ TRỤ CÓ HÌNH DẠNG GÌ?
Đến sáng:
anh có thể hiểu thêm rất nhiều về vũ trụ học.
Nhưng khi gặp người kia:
SÂN VẪN BÙNG LÊN.
Nếu thay vào đó anh quan sát:
XÚC
↓
KHỔ THỌ
↓
SÂN
↓
CÂU CHUYỆN “TÔI BỊ XÚC PHẠM”
↓
THỦ
↓
Ý MUỐN TRẢ ĐŨA,
thì anh đang nhìn:
CƠ CHẾ CỦA KHỔ.
Điều đó không làm kiến thức thiên văn:
vô giá trị.
Nó chỉ cho thấy:
HAI LOẠI TRI THỨC ĐANG GIẢI QUYẾT HAI VẤN ĐỀ KHÁC NHAU.
42. Câu hỏi nào Đức Phật đặt vào trung tâm?
Không phải:
VŨ TRỤ LỚN BAO NHIÊU?
Mà:
KHỔ LÀ GÌ?
Không phải:
RÌA THẾ GIỚI Ở ĐÂU?
Mà:
KHỔ SINH TỪ ĐÂU?
Không phải:
THẾ GIỚI TỒN TẠI BAO LÂU?
Mà:
KHỔ CÓ THỂ CHẤM DỨT KHÔNG?
Và cuối cùng:
PHẢI LÀM GÌ ĐỂ KHỔ CHẤM DỨT?
Đó chính là:
TỨ THÁNH ĐẾ.
43. Bản đồ của ví dụ mũi tên
BỊ TRÚNG TÊN
↓
đang:
ĐAU
↓
thầy thuốc đến.
Nhưng:
“CHỜ ĐÃ.”
↓
Ai bắn?
↓
Cung gì?
↓
Tên gì?
↓
Người ấy ở đâu?
↓
Dây cung làm bằng gì?
↓
Mũi tên làm thế nào?
↓
tiếp tục hỏi…
↓
CHẾT TRƯỚC KHI RÚT TÊN.
Đức Phật chuyển điều đó sang đời sống:
SINH – GIÀ – CHẾT – KHỔ ĐANG CÓ.
↓
nhưng:
“CHỜ ĐÃ.”
↓
Vũ trụ hữu hạn?
↓
Vũ trụ vô hạn?
↓
Vũ trụ vĩnh cửu?
↓
Vũ trụ không vĩnh cửu?
↓
Như Lai sau chết thế nào?
↓
tranh luận…
↓
KHỔ VẪN CHƯA ĐƯỢC ĐOẠN.
Trong khi con đường trực tiếp là:
NHẬN DIỆN MŨI TÊN.
↓
HIỂU NGUYÊN NHÂN.
↓
RÚT MŨI TÊN.
↓
KHÔNG TỰ BẮN THÊM MŨI TÊN THỨ HAI.
44. Điều Đức Phật không dạy và điều Đức Phật dạy
Có thể cô đọng MN 63 thành hai cột:
| Không đặt làm điều kiện của giải thoát | Được đặt vào trung tâm |
|---|---|
| Thế giới vĩnh cửu hay không | Khổ |
| Thế giới hữu hạn hay vô hạn | Nguyên nhân của khổ |
| Các suy đoán bản thể luận liên quan | Sự chấm dứt khổ |
| Một số vấn đề về Như Lai sau chết | Con đường chấm dứt khổ |
| Tranh luận không dẫn đến cứu cánh | Giới – Định – Tuệ / Bát Chánh Đạo |
Đây không phải:
CHỐNG LẠI CÂU HỎI.
Mà là:
XẾP CÂU HỎI THEO MỤC ĐÍCH.
45. Một câu hỏi rất tốt vẫn có thể không phải câu hỏi cấp thiết nhất
Đây có lẽ là bài học rộng nhất của MN 63.
Một câu hỏi không cần:
ngu ngốc
mới có thể:
không cấp thiết.
“Vũ trụ hữu hạn hay vô hạn?”
là:
MỘT CÂU HỎI LỚN.
Nhưng khi mục tiêu là:
ĐOẠN TẬN KHỔ,
câu hỏi khác quan trọng hơn:
“Tại sao ngay bây giờ tôi đang chấp?”
“Ái này sinh từ đâu?”
“Cơn sân này được nuôi bởi gì?”
“Cái gì tôi đang nhận là ‘Ta’?”
“Có thể buông nó không?”
Đó là sự chuyển hướng:
TỪ VŨ TRỤ XA XÔI
về:
CƠ CHẾ CỦA KHỔ NGAY TRONG KINH NGHIỆM.
Kết luận
THẾ GIỚI HỮU HẠN HAY VÔ HẠN?
Đây có thể là:
một câu hỏi triết học lớn.
Nó cũng có thể liên hệ đến:
những vấn đề khoa học rất thú vị.
Phật giáo không cần:
CẤM HỎI.
Nhưng MN 63 đặt ra một câu hỏi khác:
“BIẾT ĐƯỢC ĐIỀU ẤY CÓ PHẢI ĐIỀU KIỆN CẦN ĐỂ CHẤM DỨT KHỔ KHÔNG?”
Và ở đây:
VÍ DỤ MŨI TÊN ĐỘC
trở nên quyết định.
Người đang bị trúng tên có thể hỏi:
ai bắn?
cung gì?
tên gì?
người ấy từ đâu đến?
Những câu hỏi ấy:
không nhất thiết hoàn toàn vô nghĩa.
Nhưng:
MŨI TÊN VẪN ĐANG CẮM.
Tương tự, con người vẫn đang đối diện:
SINH.
GIÀ.
BỆNH.
CHẾT.
ÁI.
THỦ.
THAM.
SÂN.
SI.
KHỔ.
Giả sử:
VŨ TRỤ HỮU HẠN.
Khổ:
vẫn cần được hiểu.
Giả sử:
VŨ TRỤ VÔ HẠN.
Khổ:
vẫn cần được hiểu.
Giả sử:
THẾ GIỚI VĨNH CỬU.
Tham:
vẫn phải được đoạn.
Giả sử:
THẾ GIỚI KHÔNG VĨNH CỬU.
Sân:
vẫn phải được đoạn.
Do đó Đức Phật đưa trọng tâm về:
ĐÂY LÀ KHỔ.
ĐÂY LÀ KHỔ TẬP.
ĐÂY LÀ KHỔ DIỆT.
ĐÂY LÀ CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN KHỔ DIỆT.
Đây không phải:
PHỦ NHẬN TRI THỨC.
Mà là:
PHÂN BIỆT TRI THỨC THEO CHỨC NĂNG.
Có tri thức giúp:
xây cầu.
Có tri thức giúp:
chữa bệnh.
Có tri thức giúp:
hiểu các thiên hà.
Và có trí tuệ nhằm:
ĐOẠN THAM – SÂN – SI.
Không nên bắt:
một loại tri thức
làm công việc của:
loại kia.
Vì vậy thông điệp của MN 63 không phải:
“ĐỪNG HỎI.”
Mà gần hơn với:
“ĐỪNG ĐỂ NHỮNG CÂU HỎI CHƯA CẦN GIẢI QUYẾT
TRỞ THÀNH LÝ DO TRÌ HOÃN VIỆC GIẢI QUYẾT KHỔ.”
Vũ trụ có thể:
lớn hơn mọi điều ta tưởng tượng.
Nhưng nơi Đức Phật yêu cầu người tu bắt đầu lại rất gần:
XÚC.
↓
THỌ.
↓
ÁI.
↓
THỦ.
↓
KHỔ.
Và nếu thấy được:
KHỔ SINH NHƯ THẾ NÀO,
ta cũng có thể thấy:
KHỔ DIỆT NHƯ THẾ NÀO.
Đó là lý do, đối với con đường giải thoát: