Như Lai còn tồn tại sau khi chết không? – Giới hạn của bốn mệnh đề
Báo lỗi nội dung
Như Lai còn tồn tại sau khi chết không? – Giới hạn của bốn mệnh đề
Như Lai còn tồn tại sau khi chết không? – Giới hạn của bốn mệnh đề
Trả lời ngắn
Khi được hỏi về Như Lai sau khi thân hoại mạng chung, kinh điển Phật giáo sớm ghi lại bốn khả năng:
Như Lai tồn tại sau khi chết.
Như Lai không tồn tại sau khi chết.
Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết.
Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.
Điều đáng chú ý là:
ĐỨC PHẬT KHÔNG XÁC NHẬN CẢ BỐN.
Trong SN 44.1 – Khemā Sutta, Tỳ-kheo-ni Khemā trả lời vua Pasenadi rằng cả bốn mệnh đề đều không được Đức Phật tuyên bố. Sau đó chính nhà vua hỏi Đức Phật và nhận được câu trả lời tương ứng.
Điều này không nên bị biến thành:
“Đức Phật bí mật muốn nói Như Lai vẫn tồn tại.”
Cũng không nên biến thành:
“Đức Phật thực ra muốn nói Như Lai hoàn toàn biến mất.”
Hai cách ấy đều:
LÉN CHỌN LẠI MỘT ĐÁP ÁN
MÀ KINH KHÔNG XÁC NHẬN.
Vấn đề sâu hơn nằm ở chính cách đặt câu hỏi:
TA ĐANG GIẢ ĐỊNH CÓ MỘT “CÁI GÌ”
ĐỂ SAU ĐÓ HỎI NÓ CÒN HAY MẤT.
Trong khi giáo lý Vô ngã đặt vấn đề ngay với tiền đề ấy.
1. Bốn mệnh đề là gì?
Có thể trình bày dưới dạng:
| Mệnh đề | Nội dung |
|---|---|
| 1 | Như Lai tồn tại sau khi chết |
| 2 | Như Lai không tồn tại sau khi chết |
| 3 | Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại |
| 4 | Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại |
Thoạt nhìn:
dường như bốn khả năng đã bao phủ toàn bộ logic.
Vì vậy người hỏi dễ nghĩ:
“Chắc chắn phải có một đáp án.”
Nhưng Đức Phật:
KHÔNG NHẬN CẢ BỐN.
Tại sao?
Đó mới là câu hỏi quan trọng.
2. Không trả lời không nhất thiết là không biết
Cách hiểu đầu tiên cần loại bỏ là:
“Đức Phật không biết nên không trả lời.”
SN 44.1 không trình bày vấn đề theo hướng ấy.
Khemā đưa ra một ví dụ:
biển lớn sâu thẳm, không thể đo lường dễ dàng.
Rồi bà giải thích rằng nếu muốn định nghĩa Như Lai thông qua:
sắc,
thọ,
tưởng,
hành,
thức,
thì những cơ sở dùng để định lượng Như Lai theo cách ấy đã được đoạn tận đối với sự sinh khởi tương lai.
Bởi vậy Như Lai được mô tả là:
sâu thẳm, vô lượng, khó dò như đại dương.
Điểm chính không phải:
“KHÔNG BIẾT.”
Mà là:
NHỮNG PHẠM TRÙ ĐƯỢC ĐỀ XUẤT
KHÔNG THÍCH HỢP ĐỂ XÁC ĐỊNH NHƯ LAI THEO CÁCH ẤY.
3. Cái bẫy nằm ngay trong chữ “Như Lai”
Ta thường vô thức hình dung:
có một thực thể gọi là Như Lai.
Trong đời sống:
thực thể ấy ở trong thân.
Khi thân chết:
nó phải đi đâu đó.
Rồi ta hỏi:
“NÓ CÒN KHÔNG?”
Nhưng đây chính là điều cần kiểm tra.
Trong SN 22.85 – Yamaka Sutta, Sāriputta hỏi Yamaka:
Sắc có phải Như Lai không?
Không.
Thọ có phải Như Lai không?
Không.
Tưởng?
Không.
Hành?
Không.
Thức?
Không.
Rồi tiếp tục:
Như Lai có ở trong sắc không?
Có ở ngoài sắc không?
Và tương tự với các uẩn khác.
Yamaka đều trả lời:
Không.
4. Ngay khi còn sống đã không tìm được một “thực thể Như Lai”
Đây là điểm cực kỳ quan trọng.
Sāriputta nói với Yamaka, về ý nghĩa:
ngay ở hiện tại, Như Lai còn không thể được nắm bắt như một thực thể thật có theo những cách ấy.
Vậy tại sao sau khi chết lại tuyên bố:
“thực thể ấy đã bị tiêu diệt”?
Đây chính là chỗ:
VÔ NGÃ
gặp:
CÂU HỎI VỀ NHƯ LAI SAU KHI CHẾT.
5. Ví dụ đơn giản
Giả sử có người hỏi:
“Sau khi chiếc xe bị tháo rời, cái ‘xe’ chạy đi đâu?”
Câu hỏi này giả định:
“chiếc xe” là một thực thể độc lập nằm bên trong các bộ phận.
Nhưng nếu “xe” chỉ là:
một cách quy ước để gọi một cấu trúc do nhiều điều kiện hợp thành,
thì hỏi:
“thực thể xe đã đi đâu?”
có thể đã đặt sai vấn đề.
Đây chỉ là:
một ví dụ minh họa, không phải mô hình hoàn chỉnh về Niết-bàn.
Nhưng nó giúp thấy:
CÂU HỎI CÓ THỂ SAI
TRƯỚC CẢ KHI CÂU TRẢ LỜI SAI.
6. Mệnh đề thứ nhất: “Như Lai tồn tại sau khi chết”
Nếu hiểu:
một Như Lai như một tự ngã thường hằng tiếp tục tồn tại
sau khi thân chết,
thì rất dễ rơi vào:
THƯỜNG KIẾN.
Mô hình sẽ trở thành:
thân chết,
nhưng:
một chủ thể bất tử tiếp tục sống.
Đây gần với:
mô hình linh hồn trường tồn
mà giáo lý Vô ngã không xác nhận.
7. Niết-bàn không phải nơi linh hồn Phật sống mãi
Không nên hình dung:
Đức Phật nhập Niết-bàn
nghĩa là:
linh hồn của Đức Phật rời thân rồi đi vào một thế giới Niết-bàn vĩnh cửu.
Trong Phật giáo:
NIẾT-BÀN KHÔNG PHẢI
MỘT CÕI TRỜI CAO NHẤT
DÀNH CHO MỘT LINH HỒN BẤT TỬ.
Nếu dựng lại:
một cái Tôi vĩnh cửu
rồi đặt nó vào:
Niết-bàn, Pháp thân, Phật tính hoặc tâm quang minh,
thì chỉ là:
CHUYỂN CÁI NGÃ
TỪ MỘT CHỖ SANG CHỖ KHÁC.
8. Mệnh đề thứ hai: “Như Lai không tồn tại sau khi chết”
Thoạt nhìn, nhiều người cho rằng:
đây chắc phải là đáp án của Vô ngã.
Không có linh hồn.
↓
Thân chết.
↓
Không tái sinh.
↓
Vậy:
NHƯ LAI KHÔNG CÒN TỒN TẠI.
Nhưng kinh điển:
cũng không xác nhận mệnh đề này.
SN 44.1 bác cả nó.
Và SN 22.85 còn đặc biệt quan trọng.
9. Yamaka từng nghĩ đúng như vậy
Tỳ-kheo Yamaka cho rằng:
một vị A-la-hán khi thân hoại mạng chung bị tiêu diệt, bị hủy diệt và không còn tồn tại sau khi chết.
Các Tỳ-kheo khác nói với ông:
đừng nói như vậy và đừng xuyên tạc Đức Phật.
Sau đó Sāriputta giúp Yamaka tháo gỡ quan điểm ấy.
Điều này cực kỳ rõ:
“A-LA-HÁN CHẾT = BỊ TIÊU DIỆT THÀNH KHÔNG CÒN”
không phải:
KẾT LUẬN MÀ TA ĐƯỢC PHÉP GÁN CHO ĐỨC PHẬT.
10. Tại sao “không tồn tại” cũng có vấn đề?
Bởi để nói:
“X bị tiêu diệt”
ta thường giả định:
trước đó có một X thực sự tồn tại như một thực thể.
Mô hình trở thành:
CÓ MỘT CÁI TÔI.
↓
CÁI TÔI ẤY CHẾT.
↓
CÁI TÔI ẤY BỊ HỦY DIỆT.
Nhưng Phật giáo đã đặt vấn đề với:
bước đầu tiên.
Nếu không tìm thấy một tự ngã thường hằng ngay khi đang sống,
thì:
ai là thực thể bị tiêu diệt sau khi chết?
11. Thường kiến và đoạn kiến có một tiền đề chung
Hai quan điểm dường như đối lập:
Thường kiến
“Tôi sẽ tồn tại mãi.”
Đoạn kiến
“Tôi sẽ hoàn toàn bị tiêu diệt.”
Nhưng cả hai có thể cùng dựa trên:
“CÓ MỘT CÁI TÔI THỰC SỰ.”
Một bên nói:
nó còn.
Một bên nói:
nó mất.
Phật giáo đặt câu hỏi sâu hơn:
“CÁI ‘NÓ’ ẤY ĐÃ ĐƯỢC THIẾT LẬP CHƯA?”
12. Đây là lý do Vô ngã không phải đoạn diệt
Vô ngã:
anattā
không có nghĩa:
“một linh hồn từng tồn tại rồi bị tiêu diệt.”
Nó có nghĩa:
những gì ta chấp là Tôi và của Tôi không thể được xác lập như một tự ngã thường hằng, độc lập và có quyền làm chủ tuyệt đối.
Do đó:
VÔ NGÃ
≠
HƯ VÔ.
Và:
NIẾT-BÀN
≠
TIÊU DIỆT MỘT LINH HỒN.
13. Mệnh đề thứ ba: “Vừa tồn tại vừa không tồn tại”
Có người nghĩ:
“Có lẽ đáp án là cả hai.”
Một phần:
còn.
Một phần:
mất.
Hoặc:
ở bình diện này tồn tại, bình diện khác không tồn tại.
Nhưng SN 44.1:
cũng không xác nhận cách trả lời ấy.
Bởi nó vẫn đang cố:
đặt Như Lai vào hai phạm trù tồn tại/không tồn tại
rồi:
ghép chúng lại.
14. Ghép hai đáp án sai không nhất thiết tạo ra đáp án đúng
Nếu câu hỏi đã dựa trên:
một tiền đề không thích hợp,
thì nói:
“cả hai”
không giải quyết được vấn đề.
Ví dụ:
“Số 7 màu đỏ hay màu xanh?”
Nếu cả hai lựa chọn đã không thích hợp,
nói:
“nó vừa đỏ vừa xanh”
không làm câu trả lời tốt hơn.
15. Mệnh đề thứ tư: “Không tồn tại cũng không phải không tồn tại”
Đây là mệnh đề dễ bị hiểu sai nhất.
Người đọc có thể nghĩ:
“À, vậy đây chắc là đáp án Phật giáo.”
Không.
Đức Phật:
CŨNG KHÔNG XÁC NHẬN MỆNH ĐỀ THỨ TƯ.
Điều này rất quan trọng.
16. “Không cả hai” không phải mật mã cho Niết-bàn
Đôi khi người ta biến bốn mệnh đề thành:
mệnh đề 1 sai,
mệnh đề 2 sai,
mệnh đề 3 sai,
nên:
mệnh đề 4 phải đúng.
Nhưng đó không phải cấu trúc của bản kinh.
Bản kinh nói:
CẢ BỐN ĐỀU KHÔNG ĐƯỢC XÁC NHẬN.
Vì vậy:
mệnh đề thứ tư không phải một cánh cửa bí mật để đưa một linh hồn siêu hình trở lại.
17. Bốn mệnh đề thất bại ở đâu?
Chúng đều hỏi:
NHƯ LAI SAU KHI CHẾT
THUỘC TRẠNG THÁI TỒN TẠI NÀO?
Nhưng câu hỏi này có thể đang giả định:
Như Lai là một thực thể có thể được định vị bằng phạm trù tồn tại như một cá thể độc lập.
Trong khi SN 22.85 đưa ta trở lại:
Ngũ uẩn.
Không uẩn nào:
là Như Lai.
Không thể chỉ:
Như Lai nằm trong uẩn.
Không thể chỉ:
Như Lai tồn tại độc lập bên ngoài uẩn.
18. Vậy khi còn sống, “Như Lai” là gì?
Đây là chỗ phải rất cẩn thận.
Không nên chuyển từ:
“không tìm thấy một tự ngã trong Ngũ uẩn”
sang:
“Như Lai hoàn toàn không tồn tại ngay khi còn sống.”
Đức Phật:
đi,
đứng,
nói,
giảng pháp,
ăn,
nghỉ,
tương tác với người khác.
Theo quy ước:
Đức Phật rõ ràng được nói đến.
Vấn đề là:
SỰ QUY ƯỚC ẤY
KHÔNG ĐÒI HỎI MỘT TỰ NGÃ THƯỜNG HẰNG ẨN PHÍA SAU.
19. Quy ước không đồng nghĩa tự tính
Ta có thể nói:
“Đức Phật đi đến Sāvatthī.”
“Sāriputta gặp Đức Phật.”
“Đức Phật thuyết pháp.”
Không cần vì vậy giả định:
có một thực thể bất biến tồn tại độc lập với toàn bộ tiến trình thân–tâm.
Đây là nguyên tắc rất quan trọng:
CÓ THỂ NÓI “MỘT NGƯỜI”
MÀ KHÔNG CẦN THỪA NHẬN
MỘT LINH HỒN BẤT BIẾN.
20. Ngũ uẩn là chìa khóa
Năm uẩn:
Sắc
Thọ
Tưởng
Hành
Thức
Con người thường chấp:
một uẩn là Tôi,
hoặc:
Tôi sở hữu uẩn,
hoặc:
Tôi nằm trong uẩn,
hoặc:
uẩn nằm trong Tôi.
Nhưng giáo lý Vô ngã:
tháo gỡ những hình thức đồng nhất ấy.
SN 22.85 dùng chính hướng phân tích này để phá quan điểm đoạn diệt của Yamaka.
21. Thức cũng không phải linh hồn trốn thoát
Một cách cứu lại “cái Tôi” là:
“Thân mất nhưng thức còn.”
Nhưng trong Phật giáo sớm:
THỨC CŨNG LÀ MỘT UẨN.
Thức:
do duyên sinh.
Không nên biến nó thành:
một người quan sát bất tử
đứng ngoài:
sắc, thọ, tưởng và hành.
Nếu làm vậy:
Vô ngã chỉ bị né tránh bằng cách đổi tên linh hồn thành ‘thức’.
22. “Dòng tâm thức” cũng không giải quyết bằng cách tạo một thực thể mới
Ta có thể nói:
dòng tâm thức
để mô tả:
sự tiếp nối có điều kiện của các tiến trình tâm.
Nhưng nếu tưởng:
có một Dòng Tâm Thức bất biến bay từ đời này sang đời khác,
thì:
ta lại tạo ra một linh hồn dưới tên khác.
Có:
TÍNH LIÊN TỤC NHÂN QUẢ
không nhất thiết có:
MỘT THỰC THỂ BẤT BIẾN ĐƯỢC CHUYỂN GIAO.
23. Vậy tái sinh xảy ra thế nào?
Đối với người còn:
vô minh,
ái,
thủ,
thì theo Duyên khởi:
những điều kiện của hữu và sinh tiếp tục.
Một bản đồ giản lược:
Vô minh
↓
Hành
↓
Thức
↓
Danh–sắc
↓
…
Thọ
↓
Ái
↓
Thủ
↓
Hữu
↓
Sinh
↓
Già – chết
Không cần giả định:
một linh hồn chạy xuyên qua chuỗi ấy.
24. A-la-hán khác ở đâu?
Đối với A-la-hán:
vô minh đã được đoạn tận theo nghĩa giải thoát,
ái và thủ không còn tạo nên hữu mới,
các lậu hoặc đã chấm dứt.
Khi thân hiện tại còn sống:
Ngũ uẩn hiện tại vẫn vận hành.
Khi thân này chấm dứt:
không còn sự tái sinh mới.
Đây là điều Phật giáo có thể khẳng định rõ:
TÁI SINH ĐÃ CHẤM DỨT.
Nhưng từ đó:
không được nhảy sang
“MỘT CON NGƯỜI ĐÃ BỊ TIÊU DIỆT.”
25. “Không còn tái sinh” và “bị tiêu diệt” khác nhau
Đây là một trong những phân biệt quan trọng nhất.
Không còn tái sinh
nghĩa là:
những điều kiện tạo nên một đời sống mới không còn.
Bị tiêu diệt
lại hàm ý:
có một thực thể đã tồn tại rồi thực thể ấy bị phá hủy.
Phật giáo khẳng định điều đầu.
Nhưng SN 22.85:
bác việc gán điều thứ hai cho Đức Phật.
26. Ví dụ ngọn lửa
Trong MN 72 – Aggivacchagotta Sutta, Đức Phật sử dụng hình ảnh:
một ngọn lửa đã tắt.
Vacchagotta được hỏi:
khi lửa tắt, nó đi về hướng Đông?
Không.
Tây?
Không.
Bắc?
Không.
Nam?
Không.
Lửa tắt bởi vì:
nhiên liệu duy trì nó không còn.
Ví dụ này được dùng để soi sáng vấn đề Như Lai sau khi chết.
27. Nhưng đừng hiểu sai ví dụ ngọn lửa
Không nên suy:
“Lửa tắt = lửa biến thành hư vô.”
Cũng không nên suy:
“Lửa tắt = lửa đi vào một cõi lửa vô hình.”
Điểm của ví dụ là:
CÂU HỎI “NÓ ĐI ĐÂU?”
KHÔNG CÒN THÍCH HỢP
KHI ĐIỀU KIỆN DUY TRÌ ĐÃ CHẤM DỨT.
Đây là:
ví dụ về giới hạn của phạm trù
chứ không phải:
bản đồ vật lý của Niết-bàn.
28. “Lửa đi đâu?” và “Như Lai đi đâu?”
Ta thường nghĩ:
sinh = xuất hiện một thực thể,
chết = thực thể đi nơi khác.
Nhưng Duyên khởi đưa ra:
một ngôn ngữ khác.
Không chỉ hỏi:
“AI ĐI?”
mà hỏi:
“DO ĐIỀU KIỆN NÀO CÓ SỰ SINH KHỞI?”
Và:
“KHI ĐIỀU KIỆN ẤY CHẤM DỨT
THÌ ĐIỀU GÌ KHÔNG CÒN SINH KHỞI?”
Đây là chuyển đổi rất lớn trong cách đặt vấn đề.
29. Duyên khởi thay câu hỏi về bản thể bằng câu hỏi về điều kiện
Thông thường:
“Cái gì tồn tại?”
Phật giáo thường đưa ta tới:
“Cái gì do duyên mà sinh?”
Thông thường:
“Ai tái sinh?”
Ta có thể khảo sát:
“Điều kiện nào làm tiến trình sinh tiếp tục?”
Thông thường:
“Ai bị tiêu diệt?”
Ta hỏi:
“Có thực thể độc lập nào như thế từng được xác lập không?”
Đây chính là:
CÁCH DẠY CỦA DUYÊN KHỞI.
30. SN 33.1 còn đi thẳng vào nguyên nhân của các tà kiến
Vacchagotta hỏi:
tại sao những quan điểm như thế giới thường hay không thường, Như Lai tồn tại hay không tồn tại sau khi chết lại sinh khởi?
Đức Phật trả lời rằng:
do không biết sắc, nguồn gốc của sắc, sự chấm dứt của sắc và con đường dẫn tới sự chấm dứt ấy.
Các bài tiếp theo triển khai tương tự với:
thọ,
tưởng,
hành,
thức.
Điều này cho thấy:
VẤN ĐỀ KHÔNG CHỈ LÀ
THIẾU MỘT MẢNH THÔNG TIN VỀ THẾ GIỚI BÊN KIA.
Nó liên hệ trực tiếp tới:
KHÔNG THẤY ĐÚNG NGŨ UẨN.
31. Khi không hiểu Ngũ uẩn, ta dựng một cái Tôi
Ta thấy:
thân.
Rồi:
“Đây là Tôi.”
Ta thấy:
cảm thọ.
Rồi:
“Tôi đang đau.”
Ta thấy:
ký ức.
Rồi:
“Đây là lịch sử của Tôi.”
Ta thấy:
thức.
Rồi:
“Đây chắc là người quan sát thật sự.”
Từ các tiến trình:
do duyên sinh
ta dựng:
MỘT CHỦ THỂ.
Sau đó mới hỏi:
“CHỦ THỂ ẤY SAU KHI CHẾT ĐI ĐÂU?”
32. Vì vậy câu hỏi sau cái chết bắt đầu từ cách nhìn khi đang sống
Muốn hiểu:
Như Lai sau khi chết
không nhất thiết phải bắt đầu bằng:
suy đoán thế giới bên kia.
Có thể bắt đầu ngay:
“NGAY BÂY GIỜ, CÁI GÌ ĐƯỢC GỌI LÀ TÔI?”
Sắc?
Thọ?
Tưởng?
Hành?
Thức?
Tổng năm uẩn?
Một thực thể nằm ngoài năm uẩn?
Khi khảo sát kỹ:
mô hình một tự ngã độc lập bắt đầu lung lay.
33. Và lúc đó câu hỏi thay đổi
Ban đầu:
“Tôi chết rồi Tôi đi đâu?”
Sau khi thấy Duyên khởi:
“Do điều kiện nào tiến trình tái sinh tiếp tục?”
Ban đầu:
“A-la-hán chết có còn không?”
Sau khi thấy Vô ngã:
“Cái gì đang được giả định là ‘A-la-hán’ như một thực thể để hỏi còn hay mất?”
Đây không phải:
né câu hỏi.
Mà là:
KIỂM TRA TIỀN ĐỀ CỦA CÂU HỎI.
34. Niết-bàn có phải “không tồn tại”?
Không.
Nếu nói:
NIẾT-BÀN = KHÔNG TỒN TẠI
thì rất dễ rơi vào:
đoạn kiến.
Niết-bàn trong kinh điển được mô tả tích cực theo nhiều cách:
sự đoạn tận tham,
đoạn tận sân,
đoạn tận si,
và:
pháp vô vi – asaṅkhata.
Do đó không nên biến Niết-bàn thành:
MỘT TỪ ĐẸP CHO HƯ VÔ.
35. Nhưng Niết-bàn cũng không phải “tồn tại vĩnh viễn của Tôi”
Phía ngược lại:
Niết-bàn là vô vi
không có nghĩa:
có một Tôi vô vi sống mãi trong đó.
Nếu nói:
“Ngũ uẩn vô thường nhưng phía sau chúng có một cái Tôi Niết-bàn bất tử,”
thì:
chúng ta vừa dựng lại ātman.
Phật giáo không cần:
một linh hồn thường hằng
để nói về:
Niết-bàn.
36. “Sâu thẳm, vô lượng” cũng không phải mật mã cho linh hồn
SN 44.1 mô tả Như Lai:
sâu thẳm, vô lượng, khó dò như đại dương.
Có người có thể đọc:
“Vậy chắc có một bản thể siêu việt vĩnh cửu.”
Nhưng:
đó lại là một bước suy diễn.
Bản kinh không nói:
“Như Lai là một linh hồn vô hạn.”
Trái lại, lập luận đi qua:
việc không thể định nghĩa Như Lai bằng năm uẩn theo những cách chấp thủ thông thường.
37. Không thể mô tả bằng bốn mệnh đề không có nghĩa “có một thực thể vượt ngoài logic”
Cũng nên thận trọng với câu:
“Như Lai vượt ngoài logic.”
Câu này có thể:
gợi ý hữu ích
nhưng cũng rất dễ trở thành:
một tuyên bố thần bí không kiểm soát.
Chính xác hơn là:
BỐN MỆNH ĐỀ NÀY KHÔNG ĐƯỢC ĐỨC PHẬT XÁC NHẬN
KHI ÁP VÀO NHƯ LAI SAU KHI CHẾT.
Không cần suy rộng thành:
“Phật giáo bác bỏ toàn bộ logic.”
38. Bốn mệnh đề không phải trò chơi triết học
Điều Đức Phật quan tâm không chỉ là:
thắng một bài toán logic.
Những câu hỏi này liên quan tới:
CHẤP NGÃ.
Nếu ta tin:
“Tôi sẽ tồn tại mãi,”
ái hữu có thể bám vào:
sự tồn tại vĩnh cửu.
Nếu ta tin:
“Chết là hoàn toàn hết,”
ta có thể rơi vào:
đoạn kiến.
Cả hai đều có thể:
xoay quanh một cái Tôi.
39. Ái hữu có thể ẩn trong mong muốn “Niết-bàn vĩnh viễn”
Một người có thể nói:
“Tôi muốn đạt Niết-bàn để Tôi sống trong hạnh phúc mãi mãi.”
Nghe có vẻ:
rất Phật giáo.
Nhưng cấu trúc bên dưới có thể vẫn là:
TÔI MUỐN TỒN TẠI VĨNH VIỄN.
Đó có thể là:
ái hữu
được khoác:
ngôn ngữ Niết-bàn.
40. Ái phi hữu cũng có thể khoác áo Niết-bàn
Ngược lại:
“Tôi quá chán đời. Tôi muốn Niết-bàn để biến mất hoàn toàn.”
Đây cũng:
không phải cách hiểu đúng về giải thoát.
Mong muốn:
cái Tôi bị tiêu diệt
vẫn đang:
lấy cái Tôi làm trung tâm.
Do đó:
GIẢI THOÁT
KHÔNG PHẢI THỎA MÃN
MONG MUỐN TỒN TẠI MÃI
HAY MONG MUỐN BỊ TIÊU DIỆT.
41. Giải thoát là tháo gỡ chính sự chấp thủ ấy
Câu hỏi chuyển từ:
“Tôi sẽ còn hay mất?”
sang:
“Tại sao tâm phải dựng một Tôi rồi lo lắng về số phận của nó?”
Khi:
vô minh, ái và thủ chấm dứt,
nhu cầu:
bảo đảm cho một tự ngã
cũng không còn vận hành theo cách cũ.
Đây là chiều sâu thực hành của:
TRUNG ĐẠO GIỮA THƯỜNG VÀ ĐOẠN.
42. Theravāda hiểu vấn đề này thế nào?
Theo Theravāda:
A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc.
Khi còn sống:
năm uẩn do nghiệp cũ tạo điều kiện vẫn tiếp tục cho đến hết đời.
Khi thân hoại:
không có tái sinh mới.
Điều này thường được diễn đạt thông qua:
Niết-bàn hữu dư y
A-la-hán:
đã giải thoát nhưng các uẩn hiện tại vẫn còn vận hành.
Niết-bàn vô dư y
Khi A-la-hán:
thân hoại mạng chung, không có sự sinh khởi của một đời sống mới.
Không nên hiểu đây là:
hai mức độ Niết-bàn
hay:
hữu dư y nghĩa là còn một ít phiền não.
43. Parinibbāna không có nghĩa “linh hồn nhập Niết-bàn”
Cụm:
“Đức Phật nhập Niết-bàn”
trong tiếng Việt rất dễ tạo hình ảnh:
một người
↓
rời thân
↓
đi vào một nơi gọi là Niết-bàn.
Nhưng:
đó không phải mô hình nên mặc nhiên áp vào thuật ngữ parinibbāna.
Nói thận trọng hơn:
Đức Phật viên tịch / parinibbāna; không còn tái sinh.
Đừng tự động biến:
Niết-bàn thành địa điểm.
44. Đại thừa tiếp nhận vấn đề này ra sao?
Đại thừa:
không đơn giản quay lại một linh hồn thường hằng.
Đặc biệt trong Trung quán:
Duyên khởi và Tánh Không
được dùng để phê phán:
việc gán tự tính cho các pháp.
Nếu các pháp:
không có tự tính độc lập,
thì các cực đoan:
tồn tại tuyệt đối,
không tồn tại tuyệt đối,
cần được xem xét lại.
45. Nāgārjuna phát triển vấn đề bốn cực đoan
Trung quán về sau phát triển rất sâu việc phá chấp vào các cực:
có,
không,
vừa có vừa không,
không cả hai.
Nhưng cần phân biệt lịch sử:
BỐN MỆNH ĐỀ ĐÃ XUẤT HIỆN TRONG KINH ĐIỂN SỚM.
Nāgārjuna:
không phải người đầu tiên tạo ra vấn đề này.
Ông phát triển:
một hệ thống triết học tinh vi hơn dựa trên Duyên khởi và Tánh Không.
46. Không nên đọc Trung quán ngược vào mọi kinh Nikāya
Có một sai lầm khác:
thấy bốn mệnh đề trong Nikāya
rồi nói:
“Đức Phật ở đây đang giảng toàn bộ triết học Trung quán của Nāgārjuna.”
Điều này:
không thận trọng về lịch sử.
Có:
sự liên hệ tư tưởng quan trọng
nhưng:
không nên xóa khoảng cách phát triển giữa các văn bản và hệ thống.
47. Tánh Không cũng không cho một “Như Lai thật” ẩn phía sau
Nếu nói:
mọi hiện tượng là Không
nhưng rồi:
Như Lai thật sự là một bản thể tuyệt đối bất biến
thì:
ta có nguy cơ dựng lại tự tính ở cấp độ cao hơn.
Trong Trung quán:
chính Niết-bàn và Phật quả cũng không nên bị tái vật thể hóa thành một bản thể độc lập.
48. Như Lai tạng thì sao?
Một số kinh Đại thừa:
sử dụng ngôn ngữ Như Lai tạng và Phật tính rất tích cực.
Có những mô tả:
thường,
lạc,
ngã,
tịnh
trong những bối cảnh nhất định.
Điều này tạo nên:
một vấn đề giải thích thực sự trong lịch sử Phật học.
Không nên giả vờ:
những ngôn từ ấy không tồn tại.
49. Nhưng Như Lai tạng không nên tự động biến thành linh hồn
Nhiều truyền thống Đại thừa giải thích:
Như Lai tạng
trong quan hệ với:
Tánh Không,
Pháp tính,
khả năng giác ngộ
và:
những phẩm tính Phật.
Nếu hiểu nó thành:
một linh hồn cá nhân bất biến chạy xuyên qua các đời
thì:
mâu thuẫn với Vô ngã và Tánh Không trở nên rất lớn.
Do đó không thể dùng:
Như Lai tạng
như một cách đơn giản để trả lời:
“Đúng, có một Như Lai bất tử tiếp tục tồn tại.”
50. Kim Cương thừa cũng không cần một linh hồn bí mật
Kim Cương thừa có:
Pháp thân,
tâm quang minh,
rigpa trong một số hệ thống,
Tam thân,
và các mô tả rất tinh tế về:
cái chết và trung ấm.
Nhưng các giáo lý ấy:
được đặt trong nền tảng Đại thừa về Tánh Không.
Do đó:
TÂM QUANG MINH
≠
LINH HỒN BẤT TỬ.
Và:
PHÁP THÂN
≠
ĐẠI NGÃ VŨ TRỤ.
51. Bốn mệnh đề và Hai sự thật
Trong các hệ thống Đại thừa về sau:
Hai sự thật
giúp phân biệt:
Tục đế
Ta có thể nói:
Đức Phật sinh,
Đức Phật giảng pháp,
Đức Phật viên tịch.
Chân đế
Không tìm thấy:
một Như Lai có tự tính độc lập
trong hoặc ngoài:
những pháp do duyên mà thành.
Điều này không có nghĩa:
Tục đế là giả dối vô nghĩa.
Nó có nghĩa:
sự tồn tại quy ước không đòi hỏi tự tính tuyệt đối.
52. Có phải sau khi chết “không thể nói gì”?
Cũng không nên đi quá xa.
Phật giáo vẫn nói được:
A-la-hán không còn tái sinh.
Sinh đã tận.
Phạm hạnh đã thành.
Việc cần làm đã làm.
Không còn trở lại trạng thái hữu này nữa.
Như vậy:
KHÔNG PHẢI HOÀN TOÀN KHÔNG THỂ NÓI.
Điều không được xác nhận là:
bốn mệnh đề bản thể học cụ thể về Như Lai sau khi chết.
53. Điều gì chắc chắn chấm dứt?
Ta có thể nói rất rõ:
THAM CHẤM DỨT.
SÂN CHẤM DỨT.
SI CHẤM DỨT.
ÁI CHẤM DỨT.
THỦ CHẤM DỨT.
LẬU HOẶC CHẤM DỨT.
ĐIỀU KIỆN CHO TÁI SINH CHẤM DỨT.
Đây là:
những khẳng định tích cực về giải thoát.
Phật giáo không chỉ nói:
“Không biết.”
54. Câu hỏi đúng hơn
Thay vì:
“NHƯ LAI CÒN HAY MẤT?”
có thể hỏi:
“ĐIỀU GÌ ĐÃ CHẤM DỨT?”
Câu trả lời:
tham, sân, si,
vô minh,
ái,
thủ,
lậu hoặc,
điều kiện dẫn tới tái sinh và Khổ.
Rồi hỏi:
“CÁI GÌ BỊ TIÊU DIỆT?”
Nếu câu trả lời là:
một linh hồn thường hằng,
thì:
Phật giáo chưa từng xác lập linh hồn ấy để rồi phải tiêu diệt nó.
55. Một bảng rất quan trọng
| Khẳng định | Có nên nói? |
|---|---|
| A-la-hán không còn tái sinh | Có |
| Các lậu hoặc đã đoạn tận | Có |
| Tham–sân–si đã đoạn tận | Có |
| Như Lai tồn tại sau khi chết | Không được xác nhận |
| Như Lai không tồn tại sau khi chết | Không được xác nhận |
| Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại | Không được xác nhận |
| Như Lai không tồn tại cũng không không tồn tại | Không được xác nhận |
| Một linh hồn của Phật sống mãi trong Niết-bàn | Không có cơ sở trong kinh điển sớm |
| A-la-hán chết là bị tiêu diệt thành hư vô | SN 22.85 bác cách hiểu này |
| Niết-bàn là một địa điểm | Không nên hiểu như vậy |
| Vô ngã nghĩa là chết rồi không còn gì | Sai |
| Không tái sinh nghĩa là một linh hồn bị phá hủy | Sai |
56. Đây chính là Trung đạo giữa hai nỗi sợ
Con người thường có hai nỗi sợ lớn:
Sợ không tồn tại
“Tôi không muốn biến mất.”
Từ đó:
bám vào thường kiến.
Sợ tồn tại mãi trong đau khổ
“Tôi chỉ muốn biến mất hoàn toàn.”
Từ đó:
nghiêng về đoạn kiến.
Nhưng cả hai đều xoay quanh:
SỐ PHẬN CỦA “TÔI”.
Phật giáo đi sâu hơn:
HÃY XEM CÁI “TÔI” ẤY
ĐƯỢC DỰNG LÊN NHƯ THẾ NÀO.
57. Đây không chỉ là triết học về cái chết
Ngay bây giờ:
ta đang liên tục dựng Tôi.
Một lời khen:
“Họ khen Tôi.”
Một lời chê:
“Họ xúc phạm Tôi.”
Một tài sản:
“Đây là của Tôi.”
Một quan điểm:
“Đây là ý kiến của Tôi.”
Một trải nghiệm thiền:
“Tôi đã đạt.”
Chính:
QUÁ TRÌNH CHẤP NGÃ NÀY
mới là:
vấn đề thực hành trước mắt.
58. Nếu chưa thấy “Tôi” sinh ra thế nào, tranh luận Tôi đi đâu sau chết có thể quá sớm
Ta dành hàng giờ hỏi:
“Sau khi chết tôi ở đâu?”
nhưng ít khi quan sát:
“Ngay bây giờ cảm giác ‘Tôi’ đang hình thành thế nào?”
Từ:
xúc,
thọ,
ái,
thủ,
ký ức,
nhận diện,
quan điểm,
một thế giới:
“TÔI” VÀ “CỦA TÔI”
được dựng lên.
Đây là nơi:
Phật pháp có thể được quan sát trực tiếp.
59. Và đây là giới hạn của bốn mệnh đề
Bốn mệnh đề:
có,
không,
vừa có vừa không,
không cả hai,
có vẻ:
bao trùm mọi đáp án.
Nhưng chúng vẫn có thể thất bại nếu:
CHỦ THỂ MÀ CHÚNG ĐANG CỐ PHÂN LOẠI
ĐÃ ĐƯỢC GIẢ ĐỊNH SAI NGAY TỪ ĐẦU.
Đó là bài học rất sâu.
Không phải:
mọi câu hỏi đều có một đáp án nằm sẵn trong các lựa chọn của người hỏi.
Đôi khi:
TRÍ TUỆ BẮT ĐẦU
BẰNG VIỆC XEM LẠI CHÍNH CÂU HỎI.
60. Công thức ghi nhớ
Có thể tóm tắt:
“NHƯ LAI CÒN SAU KHI CHẾT.”
→ không được xác nhận.
“NHƯ LAI KHÔNG CÒN.”
→ không được xác nhận.
“VỪA CÒN VỪA KHÔNG.”
→ không được xác nhận.
“KHÔNG CẢ HAI.”
→ cũng không được xác nhận.
Tại sao?
Bởi vấn đề sâu hơn là:
NGAY KHI ĐANG SỐNG
NHƯ LAI CŨNG KHÔNG THỂ ĐƯỢC NẮM BẮT
NHƯ MỘT TỰ NGÃ ĐỘC LẬP
TRONG, NGOÀI HAY ĐỒNG NHẤT VỚI NGŨ UẨN.
Và vì vậy:
KHÔNG NÊN DỰNG MỘT THỰC THỂ
RỒI TRANH LUẬN
THỰC THỂ ẤY CÒN HAY MẤT.
Kết luận
Khi được hỏi:
“NHƯ LAI CÓ TỒN TẠI SAU KHI CHẾT KHÔNG?”
Đức Phật không trả lời:
Có.
Ngài cũng không trả lời:
Không.
Không trả lời:
Vừa có vừa không.
Và cũng không trả lời:
Không có cũng không phải không có.
Điều này không nên bị giải thích thành:
“Đức Phật không biết.”
Cũng không nên biến thành:
“Đức Phật biết nhưng bí mật không nói rằng có một linh hồn bất tử.”
Và càng không nên biến thành:
“Đức Phật thực chất dạy chết là hết.”
SN 22.85 đặc biệt quan trọng ở đây:
quan điểm cho rằng A-la-hán khi chết bị tiêu diệt và không còn tồn tại bị bác là sự trình bày sai giáo pháp.
Cái khó nằm sâu hơn.
Ta đang hỏi:
“NÓ CÒN KHÔNG?”
Nhưng Phật giáo hỏi lại:
“CÁI ‘NÓ’ MÀ BẠN ĐANG NÓI ĐẾN LÀ GÌ?”
Sắc?
Không.
Thọ?
Không.
Tưởng?
Không.
Hành?
Không.
Thức?
Không.
Một cái Tôi nằm bên trong năm uẩn?
Không thể xác lập như vậy.
Một cái Tôi đứng ngoài năm uẩn?
Cũng không thể xác lập như vậy.
Vì thế:
THƯỜNG KIẾN
nói:
“Cái Tôi ấy còn mãi.”
Còn:
ĐOẠN KIẾN
nói:
“Cái Tôi ấy bị tiêu diệt.”
Nhưng cả hai vẫn có thể cùng giữ:
MỘT CÁI TÔI.
Duyên khởi và Vô ngã:
đi sâu hơn cả hai.
Chúng không bắt đầu bằng:
“Một thực thể sẽ đi đâu?”
mà bằng:
“Do điều kiện nào có sự sinh khởi?”
Và:
“Khi điều kiện chấm dứt, điều gì không còn sinh khởi?”
Đối với A-la-hán:
SINH ĐÃ TẬN.
PHẠM HẠNH ĐÃ THÀNH.
VIỆC CẦN LÀM ĐÃ LÀM.
KHÔNG CÒN TÁI SINH.
Điều ấy:
không cần một linh hồn bất tử.
Và cũng:
không cần một linh hồn bị tiêu diệt.
Ví dụ ngọn lửa trong MN 72 giúp soi sáng điểm này:
khi nhiên liệu đã hết, hỏi ngọn lửa “đi về Đông, Tây, Nam hay Bắc” không còn thích hợp theo cách đặt vấn đề ấy.
Vì vậy câu hỏi:
“NHƯ LAI CÒN HAY MẤT?”
cuối cùng dẫn tới một câu hỏi sâu hơn:
“NGAY BÂY GIỜ, TA ĐANG GỌI CÁI GÌ LÀ ‘TÔI’?”
Khi câu hỏi ấy được nhìn thẳng,
ta bắt đầu hiểu vì sao:
BỐN MỆNH ĐỀ CÓ THỂ BAO PHỦ CÁC LỰA CHỌN,
nhưng:
VẪN KHÔNG CHẠM ĐƯỢC VÀO ĐIỀU ĐỨC PHẬT MUỐN CHỈ RA.
Không phải:
TÌM MỘT NƠI CHO CÁI TÔI SAU KHI CHẾT,
mà là:
THẤY CÁCH CÁI TÔI ĐƯỢC CHẤP THỦ,
THẤY NHỮNG ĐIỀU KIỆN TẠO NÊN KHỔ,
và cuối cùng: