Vì sao Đức Phật không xác nhận Như Lai tồn tại hay không tồn tại sau khi chết?
Báo lỗi nội dung
Vì sao Đức Phật không xác nhận Như Lai tồn tại hay không tồn tại sau khi chết?
Vì sao Đức Phật không xác nhận Như Lai tồn tại hay không tồn tại sau khi chết?
Trả lời ngắn
Khi được hỏi về Như Lai sau khi chết, kinh điển sớm ghi lại bốn khả năng:
Như Lai tồn tại sau khi chết.
Như Lai không tồn tại sau khi chết.
Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết.
Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.
Đức Phật không xác nhận cả bốn. SN 44.1 ghi rất rõ bốn mệnh đề này đều không được Ngài tuyên bố.
Nhưng điều đó không có nghĩa:
“Đức Phật không biết chuyện gì xảy ra.”
Cũng không có nghĩa:
“Câu trả lời thật sự là không tồn tại nhưng Đức Phật không muốn nói.”
Điểm sâu hơn là:
các lựa chọn của câu hỏi đã dựa trên một cách nắm bắt Như Lai mà giáo lý vô ngã đang tháo gỡ.
Nếu không thể xác định Như Lai như:
sắc,
thọ,
tưởng,
hành,
thức,
cũng không thể xác định Như Lai như một tự ngã độc lập nằm bên trong hay bên ngoài năm uẩn, thì sau khi năm uẩn không còn tái sinh, câu hỏi:
“Thực thể ấy còn tồn tại hay đã không tồn tại?”
đã mất chính đối tượng mà nó tưởng rằng mình đang mô tả.
Vì vậy sự im lặng này không đơn giản là thiếu thông tin.
Nó liên hệ trực tiếp với:
vô ngã,
Duyên khởi,
chấm dứt chấp thủ,
và giới hạn của những phạm trù “có” và “không” khi áp vào Niết-bàn.
1. Bốn câu hỏi Đức Phật không xác nhận
Trong kinh điển Pāli, đây thuộc nhóm các vấn đề avyākata – những vấn đề không được Đức Phật xác quyết theo các lựa chọn được đưa ra.
Riêng về Như Lai sau khi chết:
1.
Tathāgata hoti paraṃ maraṇā
Như Lai tồn tại sau khi chết.
2.
Tathāgata na hoti paraṃ maraṇā
Như Lai không tồn tại sau khi chết.
3.
Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết.
4.
Như Lai không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết.
SN 44.1 ghi rằng Đức Phật không chấp nhận bất kỳ phương án nào trong bốn phương án ấy.
Điều đáng chú ý là:
Ngài không chỉ từ chối câu “còn tồn tại”.
Ngài cũng từ chối:
“không còn tồn tại”.
Đây là điểm cực kỳ quan trọng.
2. Vì vậy không thể kết luận: “A-la-hán chết là hết”
Kinh SN 22.85 kể về Tỳ-kheo Yamaka.
Yamaka cho rằng giáo pháp của Đức Phật có nghĩa:
một vị A-la-hán khi thân hoại sẽ bị tiêu diệt, biến mất và không tồn tại sau khi chết.
Các Tỳ-kheo khác nói rõ:
đó là xuyên tạc lời Đức Phật.
Sau đó Xá-lợi-phất hướng dẫn Yamaka khảo sát năm uẩn.
Ngài hỏi:
Sắc có phải Như Lai không?
Không.
Thọ có phải Như Lai không?
Không.
Tưởng có phải Như Lai không?
Không.
Hành có phải Như Lai không?
Không.
Thức có phải Như Lai không?
Không.
Rồi tiếp tục:
Như Lai có nằm trong sắc không?
Không.
Như Lai có nằm ngoài sắc không?
Không.
Và tương tự đối với các uẩn còn lại.
Cuối cùng, Yamaka từ bỏ quan điểm:
“A-la-hán chết là bị tiêu diệt và không còn tồn tại.”
Đây là bằng chứng kinh điển rất mạnh chống lại việc đồng nhất:
Parinibbāna = hư vô hóa một con người.
3. Tại sao câu “không tồn tại” cũng sai?
Bởi câu:
“Sau khi chết, người ấy không còn tồn tại.”
ngầm chứa một giả định.
Giả định ấy là:
trước đây có một thực thể thật sự tồn tại, rồi khi chết thực thể ấy bị tiêu diệt.
Đó chính là dạng suy nghĩ mà Phật giáo gọi là gần với:
đoạn kiến – ucchedavāda.
Cấu trúc của nó là:
Có một cái Tôi thật
↓
cái Tôi tồn tại
↓
chết
↓
cái Tôi bị tiêu diệt.
Nhưng giáo lý vô ngã đặt câu hỏi ngay ở bước đầu:
Cái “Tôi thật” ấy đã được xác lập ở đâu?
4. Còn nói “Như Lai tồn tại sau khi chết” thì sao?
Phương án này gặp vấn đề ngược lại.
Nếu nói:
“Như Lai tiếp tục tồn tại sau khi chết.”
người nghe rất dễ hiểu:
có một bản thể của Như Lai
↓
tách khỏi năm uẩn
↓
không thay đổi
↓
tiếp tục tồn tại mãi mãi.
Điều này rất dễ rơi vào:
thường kiến – sassatavāda.
Tức:
một tự ngã thường hằng tồn tại sau cái chết.
Nhưng đây cũng không phải mô hình mà giáo lý vô ngã xác nhận.
5. Hai cực đoan đều bắt đầu từ cùng một giả định
Đây là điểm sâu nhất.
Thường kiến nói:
“Cái Tôi tồn tại mãi.”
Đoạn kiến nói:
“Cái Tôi bị tiêu diệt.”
Hai bên tưởng rằng họ hoàn toàn đối lập.
Nhưng Phật giáo nhận thấy cả hai đều chia sẻ tiền đề:
“Có một cái Tôi thật để chúng ta tranh luận xem nó tồn tại hay bị tiêu diệt.”
Do đó Phật giáo không nhất thiết chọn một trong hai.
Nó chất vấn:
Chính tiền đề về một tự ngã độc lập, bất biến ấy có đúng không?
Đây là lý do vấn đề liên hệ trực tiếp với:
anattā – vô ngã.
6. SN 44.10 cho thấy logic này rất rõ
Một trường hợp liên quan là cuộc đối thoại giữa Đức Phật và Vacchagotta về tự ngã.
Vacchagotta hỏi đại ý:
“Có tự ngã không?”
Đức Phật im lặng.
Rồi hỏi:
“Vậy không có tự ngã sao?”
Đức Phật vẫn im lặng.
Sau đó Ngài giải thích cho Ānanda rằng nếu trả lời theo hướng xác nhận tự ngã, điều đó không phù hợp với việc thấy các pháp là vô ngã; nhưng nếu trả lời đơn giản rằng tự ngã “không tồn tại”, Vacchagotta có thể hiểu thành cái tự ngã mà mình từng có nay đã bị mất đi – tức rơi vào cách hiểu đoạn diệt.
Đây là một nguyên tắc rất quan trọng:
Có những câu hỏi mà trả lời “có” hoặc “không” đều vô tình củng cố tiền đề sai của người hỏi.
7. Ví dụ: “Màu của số 7 là gì?”
Giả sử ai đó hỏi:
“Số 7 màu đỏ hay màu xanh?”
Nếu trả lời:
“Đỏ.”
sai.
Nếu trả lời:
“Xanh.”
cũng sai.
Nhưng ngay cả:
“Không đỏ.”
cũng chưa chạm đúng vấn đề.
Bởi vấn đề sâu hơn là:
“Màu sắc” không phải phạm trù thích hợp để áp cho con số theo cách câu hỏi đang giả định.
Tương tự, có thể câu hỏi:
“Như Lai sau khi chết tồn tại hay không tồn tại?”
đang cố ép thực tại giải thoát vào những phạm trù vốn thích hợp với:
một hữu thể được nhận diện qua chấp thủ vào năm uẩn.
Khi cơ sở ấy đã bị đoạn tận, phạm trù cũ không còn hoạt động theo cùng cách.
8. Ví dụ ngọn lửa trong MN 72
Aggivacchagotta Sutta – MN 72 đưa ra hình ảnh nổi tiếng về ngọn lửa.
Đức Phật hỏi Vacchagotta:
Nếu một ngọn lửa đang cháy trước mặt, ta có thể nói:
“Ngọn lửa đang cháy.”
Nhưng khi:
nhiên liệu hết
và:
không có nhiên liệu mới,
ngọn lửa tắt.
Bây giờ hỏi:
“Ngọn lửa đi về hướng Đông?”
Không.
“Đi về Tây?”
Không.
“Bắc?”
Không.
“Nam?”
Không.
Không phải vì:
ngọn lửa bí mật đi sang hướng thứ năm.
Mà vì:
các phạm trù “đi về đâu” không thích hợp với tình trạng nhiên liệu đã chấm dứt.
MN 72 dùng chính hình ảnh nhiên liệu cạn kiệt để giải thích việc các cách nói “Như Lai tồn tại”, “không tồn tại”, “cả hai”, hay “không cả hai” sau khi chết đều không áp dụng theo cách Vacchagotta đặt vấn đề.
9. Nhưng phải cẩn thận với ví dụ ngọn lửa
Không nên suy luận:
“Lửa tắt = biến thành hư vô; vậy A-la-hán cũng biến thành hư vô.”
Nếu kết luận như vậy thì đã quay lại chính quan điểm Yamaka bị bác bỏ trong SN 22.85.
Điểm của ví dụ không phải:
chứng minh A-la-hán bị tiêu diệt.
Điểm của nó là:
khi điều kiện duy trì một tiến trình không còn, những câu hỏi được xây dựng dựa trên tiến trình ấy có thể không còn thích hợp.
10. “Nhiên liệu” của sinh tử là gì?
Đây là nơi Duyên khởi làm vấn đề rõ hơn.
Ta có:
Thọ
↓
Ái
↓
Thủ
↓
Hữu
↓
Sinh
↓
Già – chết.
Trong đó:
upādāna – thủ
còn có sắc thái:
nắm giữ, chấp thủ
và liên hệ hình ảnh:
nhiên liệu/sự tiếp liệu
trong một số cách giải thích.
Khi:
ái còn
→ thủ còn
→ hữu còn,
tiến trình sinh tử tiếp tục.
Khi:
ái đoạn
→ thủ đoạn
→ hữu đoạn,
thì:
sinh không còn được tái tạo.
Đây là cách Phật giáo giải thích giải thoát mà không cần đưa vào:
một linh hồn rời khỏi thân thể.
11. Như Lai được xác định bằng gì?
SN 22.85 đặt vấn đề rất sâu.
Xá-lợi-phất hỏi Yamaka:
Có thể xác định Như Lai là sắc không?
Không.
Là thọ?
Không.
Là tưởng?
Không.
Là hành?
Không.
Là thức?
Không.
Rồi:
Như Lai có phải tổng cộng năm uẩn không?
Không.
Như Lai có phải một cái gì hoàn toàn tách khỏi năm uẩn không?
Cũng không.
Vậy ngay khi còn sống, nếu tìm một:
“thực thể Như Lai tự hữu”
đứng sau năm uẩn,
ta đã không tìm thấy theo cách ấy.
12. Đây là câu hỏi quyết định
Nếu:
ngay khi còn sống
Như Lai đã không thể được xác định như một tự ngã độc lập trong hay ngoài năm uẩn,
thì tại sao sau khi chết ta lại hỏi:
“Thực thể ấy còn hay mất?”
Đó chính là vấn đề.
SN 22.85 nói rất mạnh: khi Như Lai không thể được nắm bắt như một thực thể thật và thực hữu theo những cách ấy ngay trong hiện tại, thì không thích hợp để kết luận rằng sau khi thân hoại vị ấy “bị tiêu diệt và không tồn tại”.
13. Ví dụ về chiếc xe
Một chiếc xe được gọi là:
“xe.”
Nhưng khi phân tích:
bánh
trục
khung
động cơ
ghế
vỏ xe...
ta không tìm thấy thêm một vật độc lập tên:
“bản thể Xe”
nằm bên trong.
“Xe” là một danh xưng được quy ước dựa trên:
**các bộ phận
quan hệ
chức năng
điều kiện.**
Nếu tháo toàn bộ cấu trúc ấy, hỏi:
“Bản thể Xe đã bay đi đâu?”
là đưa vào một thực thể mà ta chưa từng chứng minh tồn tại.
Phép ví dụ này không hoàn toàn đồng nhất với năm uẩn, nhưng giúp hiểu vấn đề:
đừng biến một quy ước hữu ích thành một bản thể siêu hình.
14. Như Lai “thâm sâu, vô lượng, khó dò”
SN 44.1 ghi lời Tỳ-kheo-ni Khemā, sau đó chính Đức Phật xác nhận cùng cách giải thích.
Bà dùng ví dụ:
đại dương
là:
thâm sâu,
vô lượng,
khó dò đến đáy.
Tương tự, khi sắc, thọ, tưởng, hành, thức mà qua đó người ta muốn quy định Như Lai đã được đoạn tận về khả năng tái sinh, thì những mệnh đề:
Như Lai tồn tại sau khi chết
Như Lai không tồn tại
vừa tồn tại vừa không
không cả hai
đều không thích hợp.
Điểm này rất khác với:
“Không biết nên không trả lời.”
15. “Không thể quy định” không có nghĩa “có một linh hồn huyền bí”
Đây là một lỗi khác.
Nghe:
“Như Lai thâm sâu, vô lượng, không thể dò.”
người ta có thể suy luận:
“Vậy có một bản thể siêu hình vĩnh cửu của Như Lai mà chúng ta không thể hiểu.”
Nhưng kinh không cho phép nhảy tới kết luận đó.
Bởi chính toàn bộ phân tích đang tháo gỡ việc nhận:
sắc
thọ
tưởng
hành
thức
hoặc một cái gì đứng ngoài chúng
làm:
tự ngã.
Vì vậy:
“không thể mô tả bằng bốn mệnh đề”
không phải bằng chứng cho:
“linh hồn bất tử.”
16. Nhưng cũng không phải bằng chứng cho hư vô
Tương tự:
không thể nói Như Lai tồn tại
không có nghĩa:
Như Lai không tồn tại.
Đó chính là phương án thứ hai mà Đức Phật cũng không xác nhận.
SN 22.85 đặc biệt quan trọng ở đây, bởi quan điểm:
A-la-hán chết → bị tiêu diệt → không tồn tại
bị gọi là một cách hiểu sai giáo pháp.
Do đó hai kết luận sau đều đi quá xa:
Sai cực đoan 1
“Đức Phật xác nhận một tồn tại vĩnh cửu sau Parinibbāna.”
Sai cực đoan 2
“Đức Phật dạy A-la-hán chết là hư vô.”
Kinh điển sớm không xác nhận cả hai theo cách ấy.
17. Vì sao cả “vừa có vừa không” cũng không được chấp nhận?
Có thể nghĩ:
“Nếu có và không đều sai, vậy kết hợp chúng chắc đúng.”
Nhưng:
A
và:
không-A
đều không thích hợp
thì:
A + không-A
không tự động trở thành đúng.
Ví dụ:
“Số 7 vừa màu đỏ vừa không đỏ.”
Câu ấy vẫn đang áp:
màu sắc
vào một đối tượng không được mô tả thích hợp theo phạm trù ấy.
Tương tự:
“Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại”
vẫn chưa thoát khỏi khung:
tồn tại / không tồn tại
mà câu hỏi ban đầu áp đặt.
18. Còn “không tồn tại cũng không phải không tồn tại”?
Đây nghe có vẻ rất sâu.
Nhưng Đức Phật cũng không xác nhận.
Tại sao?
Bởi chỉ cần biến nó thành:
một học thuyết siêu hình mới
thì ta lại đang cố định hóa điều mà con đường giải thoát không yêu cầu cố định hóa.
Bốn khả năng tạo thành một tứ cú:
có
không
cả hai
không cả hai.
Trong trường hợp Như Lai sau khi chết, kinh điển sớm không chọn một góc nào của tứ cú ấy.
19. Không phải mọi câu hỏi đều sai – nhưng có câu hỏi đặt sai phạm trù
Đây là bài học nhận thức rất quan trọng.
Phật giáo không dạy:
“Đừng hỏi.”
Ngược lại:
Dhamma-vicaya – trạch pháp
là một giác chi.
Nhưng trí tuệ còn bao gồm khả năng nhận ra:
câu hỏi đang chứa giả định gì?
Ví dụ:
“Linh hồn sau khi Niết-bàn đi đâu?”
trước khi trả lời cần hỏi:
Phật giáo có xác nhận một linh hồn thường hằng như thế không?
Nếu không, thì cố chọn một địa điểm cho nó là giải quyết một vấn đề do chính tiền đề sai tạo ra.
20. Đây không phải chủ nghĩa bất khả tri
Cũng không nên nói:
“Phật giáo cho rằng không ai biết được.”
Đức Phật không trình bày vấn đề như một sự thiếu tri thức.
Ngài trình bày:
sắc và sự sinh khởi của sắc,
sự chấm dứt của sắc,
và con đường dẫn tới sự chấm dứt;
tương tự với:
thọ
tưởng
hành
thức.
SN 33.1 thậm chí liên hệ các quan điểm siêu hình như Như Lai tồn tại hay không sau khi chết với việc không biết như thật về năm uẩn, sự sinh khởi, sự chấm dứt và con đường dẫn đến sự chấm dứt của chúng.
Vấn đề do đó không phải:
“Chúng ta thiếu dữ liệu về thế giới bên kia.”
Mà sâu hơn:
“Chúng ta đang hiểu sai cấu trúc của cái mà mình gọi là một hữu thể.”
21. Đức Phật quan tâm điều gì hơn?
Ngài đưa trọng tâm về:
Khổ
nguyên nhân của Khổ
sự chấm dứt Khổ
con đường đưa đến chấm dứt Khổ.
Tức:
TỨ THÁNH ĐẾ.
Câu hỏi giải thoát không phải trước hết:
“Sau khi giải thoát tôi sẽ tồn tại dưới dạng nào?”
Mà là:
“Cái gì đang tạo Khổ?”
“Nó sinh do điều kiện nào?”
“Điều kiện ấy có thể đoạn không?”
“Làm thế nào để đoạn?”
Khi:
vô minh
ái
thủ
được đoạn tận,
thì:
tái hữu chấm dứt.
Đó mới là vấn đề thực hành mà Phật giáo muốn giải quyết.
22. Một ví dụ y học
Giả sử một người đang bị trúng độc.
Bác sĩ biết:
độc chất gì,
cơ chế tác động,
thuốc giải,
cách cứu bệnh nhân.
Nhưng bệnh nhân cứ hỏi:
“Sau khi khỏi bệnh, trạng thái tồn tại tuyệt đối của tôi trong toàn bộ thực tại là gì?”
Câu hỏi triết học có thể thú vị.
Nhưng:
việc cấp thiết là loại độc.
Trong Phật giáo:
tham
sân
si
ái
thủ
vô minh
là vấn đề cần được xử lý.
Tứ Thánh Đế là:
chẩn đoán
→ nguyên nhân
→ khả năng chữa khỏi
→ phương pháp chữa.
23. Tuy nhiên không nên hiểu rằng Đức Phật từ chối chỉ vì câu hỏi “không thực dụng”
Đây cũng là một đơn giản hóa.
Có những vấn đề không được trả lời vì:
không đưa đến ly tham và giải thoát.
Nhưng riêng vấn đề Như Lai sau khi chết, các kinh như:
SN 22.85
SN 44.1
MN 72
còn đưa ra lý do triết học sâu hơn:
cách chúng ta cố xác định Như Lai bằng năm uẩn và phạm trù tồn tại/không tồn tại đã có vấn đề.
Do đó không nên chỉ nói:
“Đức Phật không trả lời vì câu hỏi vô ích.”
Đúng hơn là:
câu hỏi vừa không dẫn đúng hướng giải thoát, vừa được xây dựng trên những phạm trù mà giáo lý vô ngã và Duyên khởi đang tháo gỡ.
24. “Như Lai” trong những câu hỏi này nghĩa là ai?
Đây cũng cần thận trọng.
Trong những ngữ cảnh này, Tathāgata – Như Lai không nên luôn luôn được đọc đơn giản như:
tên riêng chỉ Đức Phật lịch sử.
Các bản dịch và chú giải có cách xử lý thuật ngữ khác nhau; trong một số ngữ cảnh, vấn đề hướng rộng hơn tới bậc đã giải thoát/A-la-hán. SN 44.1, chẳng hạn, đặt vấn đề về người đã chứng ngộ sau khi chết.
Điều này rất quan trọng.
Bởi vấn đề không chỉ là:
“Đức Phật Gotama đi đâu sau khi mất?”
Mà sâu hơn:
“Có thể mô tả một bậc hoàn toàn giải thoát sau khi thân hoại bằng các phạm trù tồn tại và không tồn tại hay không?”
25. Theravāda hiểu thế nào?
Trong cách giải thích Theravāda:
A-la-hán khi còn sống:
đã đoạn tận tham, sân, si
→ đã chứng Nibbāna.
Nhưng:
năm uẩn do những điều kiện trước đó vẫn tiếp tục
cho tới khi mạng sống kết thúc.
Khi thân hoại:
không còn tái sinh.
Đây thường được gọi:
Parinibbāna.
Điều Theravāda không làm là thêm:
một linh hồn rời năm uẩn rồi sống trong Niết-bàn.
Nhưng cũng không nói:
một tự ngã thật bị tiêu diệt.
Bởi:
tự ngã ấy chưa từng được xác lập.
26. Đại thừa phát triển vấn đề này thế nào?
Đại thừa, đặc biệt Trung quán, phát triển rất mạnh chính vấn đề:
có / không
sinh / diệt
thường / đoạn.
Nāgārjuna sử dụng phân tích tính Không để cho thấy:
các pháp không có svabhāva – tự tính độc lập.
Do đó:
saṃsāra
và:
nirvāṇa
không nên được vật thể hóa thành hai thực thể độc lập:
“một thế giới này”
và:
“một nơi khác mà một cái Tôi đi vào.”
Trong Trung quán, Duyên khởi và tính Không gắn chặt với nhau:
vì các pháp duyên sinh nên không có tự tính độc lập.
Điều này tiếp tục làm suy yếu chính tiền đề:
“có một thực thể Như Lai để sau đó hỏi thực thể ấy còn hay mất.”
27. Đại thừa có nói Phật vẫn “tồn tại” không?
Một số kinh Đại thừa sử dụng ngôn ngữ về:
Pháp thân – Dharmakāya
Như Lai thường trụ
Phật tính
và hoạt động của chư Phật sau khi thị hiện nhập Niết-bàn.
Nhưng không nên lập tức dịch điều đó thành:
“Đại thừa khẳng định linh hồn của Đức Phật sống mãi.”
Các khái niệm này nằm trong những hệ thống triết học phức tạp về:
tính Không
Pháp thân
Phật trí
phương tiện thiện xảo.
Các truyền thống Đại thừa khác nhau cũng giải thích ngôn ngữ “thường” theo những cách không hoàn toàn giống nhau.
Do đó cần giữ khác biệt lịch sử giữa:
kinh điển sớm
và:
những phát triển Đại thừa về Phật thân.
28. Kim Cương thừa
Kim Cương thừa kế thừa hệ thống Đại thừa về:
tính Không
Pháp thân
Báo thân
Hóa thân.
Do đó cách nói về một vị Phật sau khi nhập Niết-bàn phong phú hơn mô hình kinh điển sớm.
Nhưng nền tảng vẫn không phải:
một ātman cá nhân bất biến.
Trong các hệ thống Tây Tạng, Pháp thân phải được hiểu cùng:
tính Không
và:
Phật trí,
chứ không nên biến thành một linh hồn siêu hình.
29. Bảng phân biệt bốn cách hiểu
| Cách hiểu | Vấn đề |
|---|---|
| “Như Lai tồn tại mãi như một linh hồn” | Dễ rơi vào thường kiến |
| “Như Lai bị tiêu diệt và hoàn toàn không tồn tại” | Chính SN 22.85 bác cách hiểu này |
| “Đức Phật không biết nên im lặng” | Không phù hợp với cách kinh giải thích |
| “Các phạm trù có/không dựa trên cách nắm bắt sai về tự ngã” | Phù hợp hơn với SN 22.85, SN 44.1 và MN 72 |
Vì vậy sự không xác nhận của Đức Phật không phải một khoảng trống tùy ý để ta điền:
“có”
hoặc:
“không”.
30. Liên hệ với bài “Niết-bàn có phải hạnh phúc vĩnh viễn của một linh hồn?”
Bây giờ ta có thể thấy vấn đề rõ hơn.
Nếu nói:
“Sau Parinibbāna, một linh hồn của A-la-hán tồn tại vĩnh viễn trong Niết-bàn.”
ta đã chọn:
tồn tại.
Nếu nói:
“Sau Parinibbāna, A-la-hán hoàn toàn biến mất thành hư vô.”
ta đã chọn:
không tồn tại.
Nhưng Đức Phật:
không xác nhận cả hai.
Tại sao?
Bởi cả hai đều có thể đang cố trả lời:
“Điều gì xảy ra với một cái Tôi?”
trong khi chính:
cái Tôi thường hằng
là điều giáo lý vô ngã không xác lập.
31. Duyên khởi đưa ra cách hỏi khác
Thay vì:
“Ai đi đâu?”
Duyên khởi hỏi:
“Do điều kiện nào mà cái này sinh?”
Và:
“Khi điều kiện nào chấm dứt thì cái này chấm dứt?”
Đây là một sự thay đổi cực kỳ quan trọng.
Từ:
bản thể
sang:
quan hệ điều kiện.
Từ:
“Có một linh hồn không?”
sang:
“Khổ sinh như thế nào?”
Từ:
“Linh hồn đi đâu?”
sang:
“Điều kiện nào khiến tái hữu tiếp tục?”
Và cuối cùng:
“Làm sao những điều kiện ấy chấm dứt?”
Đây chính là logic của con đường giải thoát.
32. Một sơ đồ dễ nhớ
CÁCH HỎI THEO NGÃ
Có một “Tôi”
↓
Tôi chết
↓
Phương án A
Tôi vẫn tồn tại
→ thường kiến.
Phương án B
Tôi bị tiêu diệt
→ đoạn kiến.
CÁCH PHÂN TÍCH THEO DUYÊN KHỞI
Vô minh
↓
Ái
↓
Thủ
↓
Hữu
↓
Sinh
↓
Già – chết – Khổ.
Khi:
vô minh đoạn
ái đoạn
thủ đoạn
↓
hữu không còn được tạo
↓
không còn tái sinh
↓
Khổ chấm dứt.
Ở đây không cần thêm:
“một linh hồn được bảo tồn”
hay:
“một linh hồn bị tiêu diệt.”
33. Điều gì có thể nói chắc chắn về A-la-hán?
Dù không xác nhận bốn mệnh đề sau khi chết, Phật giáo sớm vẫn nói rất rõ:
tham đã đoạn.
sân đã đoạn.
si đã đoạn.
lậu hoặc đã tận.
ái dẫn đến tái hữu đã đoạn.
việc cần làm đã làm.
không còn tái sinh.
Khổ đã được đoạn tận.
Đây không phải:
bất khả tri hoàn toàn.
Có rất nhiều điều được khẳng định.
Điều không được khẳng định là:
chuyển sự giải thoát ấy thành một học thuyết bản thể về một cái Tôi sau cái chết.
34. Vì vậy câu hỏi đúng hơn không phải “A-la-hán còn không?”
Câu hỏi gần tinh thần Tứ Thánh Đế hơn là:
“Khổ còn không?”
Đối với A-la-hán:
nguyên nhân của tái sinh đã đoạn.
Do đó:
không còn một đời sống mới để già, bệnh và chết tiếp tục.
Nếu mục tiêu của Phạm hạnh là:
đoạn tận Khổ,
thì:
việc cần làm đã làm.
Kinh không yêu cầu chúng ta dựng thêm một bản thể siêu hình để hoàn thiện câu chuyện.
35. Đây là lý do câu hỏi này liên hệ với “lõi cây”
Bài Tâm giải thoát bất động – Lõi cây của đời sống Phạm hạnh đã cho thấy:
mục tiêu không phải:
kiến thức siêu hình.
Mục tiêu là:
giải thoát.
Do đó một người có thể dành cả đời tranh luận:
“A-la-hán sau chết có tồn tại không?”
nhưng vẫn:
tham
sân
si
ái
thủ
như cũ.
Khi ấy:
biết thêm một học thuyết chưa chắc đã đưa người ấy tới lõi cây.
Điều cần trực tiếp thấy là:
Khổ
và:
cơ chế sinh Khổ.
36. Nhưng không nên dùng điều này để cấm đặt câu hỏi
Một lần nữa:
Đức Phật không trả lời ≠ Phật giáo cấm suy nghĩ.
Ngược lại, chính việc khảo sát câu hỏi này giúp thấy:
vô ngã sâu hơn,
Duyên khởi sâu hơn,
và:
sự khác biệt giữa thường kiến và đoạn kiến.
Câu hỏi rất giá trị nếu nó đưa chúng ta đến:
kiểm tra tiền đề của chính câu hỏi.
Đó cũng là một hình thức:
trạch pháp.
Kết luận
Đức Phật không xác nhận:
“Như Lai tồn tại sau khi chết.”
Nhưng Ngài cũng không xác nhận:
“Như Lai không tồn tại sau khi chết.”
Và Ngài cũng không chọn:
“vừa tồn tại vừa không tồn tại”
hay:
“không cả hai.”
SN 44.1 ghi rõ cả bốn mệnh đề đều không được chấp nhận.
Lý do không đơn giản là:
“Đức Phật không biết.”
Cũng không nên giản lược thành:
“Đức Phật biết nhưng không muốn nói.”
Các kinh như SN 22.85 cho thấy vấn đề sâu hơn.
Như Lai không thể được xác định như:
sắc, thọ, tưởng, hành, thức;
cũng không được tìm thấy như:
một tự ngã độc lập nằm trong hay ngoài năm uẩn.
Vì vậy nếu ngay khi còn sống ta đã không thể chỉ ra một:
“thực thể Như Lai tự hữu”
thì câu hỏi:
“Sau khi chết thực thể ấy còn hay mất?”
đã chứa một giả định cần được xem xét.
MN 72 dùng hình ảnh ngọn lửa đã hết nhiên liệu: hỏi ngọn lửa đã tắt “đi về Đông, Tây, Nam hay Bắc” là áp một phạm trù không còn thích hợp.
Nhưng tuyệt đối không được biến ví dụ ấy thành:
“A-la-hán bị tiêu diệt thành hư vô.”
SN 22.85 bác bỏ chính quan điểm này.
Do đó Phật giáo sớm tránh cả hai cực đoan:
Thường kiến
“Có một cái Tôi tồn tại mãi mãi.”
và:
Đoạn kiến
“Có một cái Tôi thật rồi cái Tôi ấy bị tiêu diệt.”
Duyên khởi đưa ra một cách nhìn khác:
do vô minh → ái → thủ → hữu nên sinh tử tiếp tục.
Khi:
vô minh, ái và thủ được đoạn tận,
thì:
hữu không còn được tái tạo
→ không còn tái sinh
→ Khổ chấm dứt.
Vì vậy, thay vì cố buộc Niết-bàn phải trả lời câu:
“Cuối cùng cái Tôi còn hay mất?”
giáo pháp đưa ta đến một câu hỏi sâu hơn:
“Cái Tôi mà ta đang cố bảo tồn hoặc tiêu diệt ấy đã bao giờ tồn tại như một thực thể độc lập, thường hằng ngoài Duyên khởi hay chưa?”
Và từ đó, câu hỏi quan trọng nhất của Phật giáo không còn là:
“Sau khi chết, Như Lai ở đâu?”
mà là:
“Những điều kiện nào khiến Khổ và tái sinh tiếp tục, và làm thế nào để chúng chấm dứt?”
Khi những điều kiện ấy đã đoạn tận:
việc cần làm đã làm.
Đó là điều kinh điển khẳng định rõ, trong khi không biến sự giải thoát ấy thành sự trường tồn của một linh hồn hoặc sự tiêu diệt của một cái Tôi.