Giữ giới ≠ Chấp giới
Báo lỗi nội dung
Giữ giới ≠ Chấp giới
Giữ giới ≠ Chấp giới
Trả lời ngắn
GIỮ GIỚI KHÔNG ĐỒNG NGHĨA CHẤP GIỚI.
Giữ giới là:
chủ động tránh những hành vi gây hại, nuôi dưỡng đời sống đạo đức và tạo nền tảng thuận lợi cho Định và Tuệ.
Chấp giới, theo nghĩa cần tránh trong Phật học, không đơn giản là:
giữ giới nghiêm túc.
Vấn đề nằm ở:
chấp thủ vào giới điều, giới cấm, nghi thức hoặc hình thức thực hành như thể bản thân chúng tự động đem lại thanh tịnh và giải thoát.
Do đó:
GIỮ GIỚI NGHIÊM
≠
CHẤP GIỚI.
Và:
KHÔNG CHẤP GIỚI
≠
KHÔNG CẦN GIỮ GIỚI.
Đây là hai cực đoan cần tránh.
1. “Giới” là gì?
Pāli:
SĪLA
Sanskrit:
ŚĪLA.
Có thể dịch:
giới,
giới hạnh,
phẩm hạnh,
đời sống đạo đức.
Trong thực hành Phật giáo, giới không chỉ là:
một danh sách điều cấm.
Nó là sự huấn luyện:
thân,
khẩu,
cách sống
để giảm:
tham,
sân,
gây hại,
phóng dật
và tạo điều kiện cho:
tâm ổn định,
Chánh niệm,
Định,
Tuệ.
2. Năm giới là ví dụ quen thuộc
Đối với cư sĩ:
tránh sát sinh;
tránh lấy của không cho;
tránh tà hạnh về dục;
tránh nói dối;
tránh các chất gây say dẫn tới phóng dật.
Điểm quan trọng là chữ:
HỌC GIỚI.
Người Phật tử:
tự nguyện tiếp nhận sự huấn luyện.
Không nhất thiết phải hiểu:
một vị thần ban luật,
rồi:
ai vi phạm sẽ bị thần linh trừng phạt.
3. Giới và điều răn của một vị thần không phải cùng mô hình
Trong Phật giáo:
giới gắn với nghiệp,
tâm,
hậu quả của hành động,
sự huấn luyện,
con đường giải thoát.
Ví dụ:
không sát sinh
không chỉ vì:
“Đức Phật cấm.”
Mà còn vì sát sinh:
gây tổn hại chúng sinh,
nuôi dưỡng sân,
làm tâm thô nặng,
tạo nghiệp bất thiện,
đi ngược từ bi và con đường giải thoát.
Do đó:
GIỚI CÓ CHỨC NĂNG HUẤN LUYỆN.
4. Vậy “chấp giới” là gì?
Một thuật ngữ quan trọng là:
SĪLABBATA-PARĀMĀSA.
Sanskrit tương ứng:
ŚĪLAVRATA-PARĀMARŚA.
Đây là một trong:
ba kiết sử đầu tiên
được đoạn trừ ở quả Dự lưu theo hệ thống Phật giáo sơ kỳ/Theravāda:
thân kiến;
nghi;
giới cấm thủ.
“Giới cấm thủ” không nên được hiểu đơn giản là:
“coi trọng giới luật.”
Nếu hiểu như vậy thì:
người chứng Dự lưu sẽ không cần giữ giới nữa.
Nhưng kinh điển lại mô tả người Dự lưu có:
giới hạnh được các bậc Thánh quý trọng.
Vì vậy:
GIỚI CẤM THỦ
KHÔNG THỂ ĐƠN GIẢN LÀ
GIỮ GIỚI NGHIÊM TÚC.
5. Vấn đề nằm ở chữ “thủ”
Pāli:
PARĀMĀSA
mang sắc thái:
nắm giữ,
bám chặt,
chấp thủ,
nắm sai cách.
Do đó vấn đề không nhất thiết nằm ở:
giới
mà nằm ở:
CÁCH TÂM BÁM VÀO GIỚI.
Ta có thể thực hành giới:
bằng trí tuệ.
Hoặc:
bằng chấp thủ.
Hai người có thể:
làm cùng một hành vi bên ngoài,
nhưng:
cấu trúc tâm hoàn toàn khác nhau.
6. Ví dụ đơn giản
Hai người cùng:
không sát sinh.
Người A
nghĩ:
“Tôi không sát sinh vì hiểu sự sống đáng được tôn trọng, sát sinh nuôi dưỡng tâm bất thiện và đi ngược con đường tu tập.”
Đó là:
GIỮ GIỚI.
Người B
nghĩ:
“Chỉ cần tôi tuyệt đối hoàn thành nghi thức này, bản thân hành vi ấy sẽ tự động thanh tịnh mọi phiền não và chắc chắn đưa tôi tới giải thoát.”
Ở đây có thể xuất hiện:
CHẤP THỦ VÀO HÌNH THỨC.
7. Nhưng phải thận trọng với ví dụ trên
Không phải cứ người nào:
tin giới rất quan trọng
là:
chấp giới.
Cũng không phải:
giữ một giới cực kỳ nghiêm
thì:
chấp giới.
Một vị xuất gia có thể:
giữ Vinaya rất nghiêm túc
mà:
không chấp giới.
Ngược lại một người chỉ giữ:
vài nghi thức nhỏ
nhưng tin:
chúng tự động bảo đảm thanh tịnh,
thì vấn đề chấp thủ:
vẫn có thể xuất hiện.
Do đó:
MỨC ĐỘ NGHIÊM
KHÔNG PHẢI TIÊU CHUẨN DUY NHẤT
ĐỂ XÁC ĐỊNH CHẤP GIỚI.
8. Chấp giới thường gắn với một hiểu lầm lớn
Đó là:
PHƯƠNG TIỆN = CỨU CÁNH.
Giới là:
một phần của con đường.
Nhưng nếu nghĩ:
chỉ cần hoàn thiện hành vi bên ngoài
thì tự động:
hết vô minh,
hết ái,
hết thủ,
giác ngộ,
thì:
đã đánh đồng phương tiện với cứu cánh.
9. Giới rất quan trọng nhưng chưa phải toàn bộ con đường
Con đường Phật giáo thường được tóm thành:
GIỚI – ĐỊNH – TUỆ.
Nếu:
Giới tự nó đã đủ,
thì:
không cần Định.
Không cần:
Tuệ.
Không cần:
Chánh kiến.
Không cần:
quán Vô thường,
Khổ,
Vô ngã,
Duyên khởi.
Nhưng rõ ràng:
con đường không được trình bày như vậy.
Do đó:
GIỚI LÀ NỀN TẢNG,
nhưng:
GIỚI KHÔNG THAY THẾ TOÀN BỘ CON ĐƯỜNG.
10. Bát Chánh Đạo cho thấy vị trí của giới
Trong cách phân nhóm quen thuộc:
TUỆ
Chánh kiến
Chánh tư duy
GIỚI
Chánh ngữ
Chánh nghiệp
Chánh mạng
ĐỊNH
Chánh tinh tấn
Chánh niệm
Chánh định
Điều này cho thấy:
giới không bị loại bỏ.
Nó nằm:
NGAY TRONG BÁT CHÁNH ĐẠO.
Do đó không thể dùng câu:
“Đừng chấp giới”
để phủ nhận:
Chánh ngữ,
Chánh nghiệp,
Chánh mạng.
11. Đức Phật không dạy “cứ tự nhiên, đừng chấp”
Một cách hiểu hiện đại đôi khi là:
“Phật giáo dạy không chấp nên đừng quá quan trọng đúng sai.”
Đây là:
hiểu sai.
Không chấp:
không đồng nghĩa xóa bỏ đạo đức.
Nếu:
nói dối,
trộm cắp,
sát hại,
lừa đảo,
rồi nói:
“Tôi không chấp giới,”
thì:
đó không phải trí tuệ Vô chấp.
Đó có thể chỉ là:
DÙNG “VÔ CHẤP”
ĐỂ HỢP LÝ HÓA THAM – SÂN – SI.
12. Không chấp không có nghĩa không phân biệt thiện bất thiện
Phật giáo phân biệt rất rõ:
KUSALA
và:
AKUSALA,
tức:
thiện
và:
bất thiện.
Không chấp không làm cho:
sát sinh = không sát sinh,
nói thật = nói dối,
từ bi = tàn nhẫn.
Tánh Không cũng không:
xóa nghiệp.
Vô ngã cũng không:
xóa trách nhiệm.
Và vô chấp cũng không:
xóa giới.
13. Một ví dụ rất rõ: con dao
Một người nói:
“Tất cả đều Vô ngã, Tánh Không, vậy giết người cũng là Không.”
Đây là:
lấy một khái niệm triết học
để:
phủ nhận nhân quả và đạo đức.
Nhưng nếu mọi pháp do duyên:
thì chính hành động giết người cũng trở thành một duyên.
Nó:
gây đau khổ,
ảnh hưởng tâm,
tạo nghiệp,
tạo hậu quả xã hội.
Do đó:
TÁNH KHÔNG KHÔNG PHỦ NHẬN GIỚI.
14. Giữ giới để làm gì?
Có thể nhìn ít nhất ở bốn tầng.
Tầng 1 – Không gây hại
Giảm:
sát hại,
trộm cắp,
lừa dối,
xâm hại,
phóng dật.
Tầng 2 – Bảo vệ chính mình
Giảm:
hối hận,
xung đột,
hậu quả bất thiện.
Tầng 3 – Huấn luyện tâm
Giảm điều kiện nuôi:
tham,
sân,
si.
Tầng 4 – Hỗ trợ giải thoát
Tạo nền cho:
Định
và:
Tuệ.
Do đó giới:
KHÔNG CHỈ LÀ ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI.
Nó còn là:
MỘT PHẦN CỦA KỸ THUẬT GIẢI THOÁT.
15. Tại sao giới hỗ trợ Định?
Giả sử một người:
thường xuyên lừa dối,
làm hại,
phản bội,
trộm cắp.
Khi ngồi thiền:
ký ức,
sợ hãi,
hối hận,
che giấu,
bất an
có thể:
làm tâm dao động.
Ngược lại, đời sống ít gây hại:
tạo điều kiện cho tâm ít hối tiếc hơn.
Vì vậy:
GIỚI → ÍT HỐI HẬN → TÂM DỄ AN ĐỊNH.
Đây không phải:
công thức cơ học tuyệt đối,
nhưng là:
một quan hệ thực hành rất quan trọng.
16. Tại sao Định hỗ trợ Tuệ?
Tâm:
liên tục bị tham sân kéo đi
rất khó:
quan sát rõ các tiến trình.
Khi tâm:
ổn định hơn,
có thể thấy rõ hơn:
cảm thọ,
ái,
thủ,
Vô thường,
sinh diệt,
Vô ngã.
Do đó:
GIỚI
↓
ĐỊNH
↓
TUỆ
là:
một cấu trúc huấn luyện.
Nhưng ba phần:
hỗ trợ lẫn nhau,
không nhất thiết phải hiểu như ba khóa học hoàn toàn tách biệt.
17. Giới không phải “vé vào Niết-bàn”
Đây là điểm quan trọng.
Không nên nghĩ:
giữ đủ 5 giới = được 5 điểm,
giữ đủ 8 giới = được 8 điểm,
đủ một số điểm = được Niết-bàn.
Giải thoát:
không phải hệ thống tích điểm.
Giới:
tạo điều kiện.
Nhưng:
vô minh phải được thấy rõ,
ái và thủ phải được đoạn tận.
Do đó:
GIỚI LÀ ĐIỀU KIỆN QUAN TRỌNG,
không phải:
TẤM VÉ TỰ ĐỘNG.
18. Chấp nghi thức cũng thuộc vấn đề này
Sīlabbata có thể bao hàm:
giới hạnh,
giới cấm,
lễ nghi,
cách thực hành,
quy tắc.
Trong bối cảnh Ấn Độ cổ:
tồn tại nhiều lối tu khổ hạnh và nghi thức được tin rằng tự thân có khả năng thanh tịnh.
Phật giáo phê phán:
việc chấp vào hành vi hoặc nghi thức sai lạc như thể chỉ cần thực hiện chúng là đủ đưa đến giải thoát.
Do đó:
GIỚI CẤM THỦ
không chỉ liên quan:
năm giới của Phật tử.
Nó rộng hơn:
sự chấp thủ vào những quy tắc và thực hành như cứu cánh.
19. Ví dụ con chó và con bò
MN 57 – Kinh Hạnh Con Chó – kể về những người thực hành:
hạnh con bò
và:
hạnh con chó.
Họ tin rằng:
mô phỏng lối sống ấy
có giá trị thanh tịnh đặc biệt.
Đức Phật không xác nhận rằng:
bản thân những hình thức ấy đưa tới giải thoát.
Ví dụ này cho thấy:
KHÔNG PHẢI CỨ KHỔ HẠNH
HOẶC GIỮ MỘT QUY TẮC KỲ LẠ
LÀ THÁNH HẠNH.
20. Hình thức không tự động thanh tịnh tâm
Một người có thể:
ăn đúng giờ,
mặc đúng y,
tụng đúng bài,
lạy đúng số,
ngồi đúng tư thế,
giữ đúng nghi thức.
Nhưng đồng thời:
đầy tham,
đầy sân,
kiêu mạn,
ganh tị,
chấp ngã.
Do đó:
HÌNH THỨC ĐÚNG
CHƯA ĐỒNG NGHĨA
TÂM ĐÃ GIẢI THOÁT.
Nhưng điều này cũng không có nghĩa:
hình thức hoàn toàn vô dụng.
21. Nghi thức có thể có giá trị
Lễ Phật có thể:
nuôi dưỡng kính trọng.
Tụng kinh có thể:
giúp ghi nhớ Pháp.
Thọ giới có thể:
củng cố quyết tâm.
Thiền theo thời khóa:
tạo kỷ luật.
Cúng dường:
nuôi dưỡng bố thí.
Vấn đề không nhất thiết nằm ở:
nghi thức.
Mà là:
TA ĐANG DÙNG NGHI THỨC ĐỂ HUẤN LUYỆN TÂM,
hay:
TA TIN NGHI THỨC TỰ NÓ CÓ QUYỀN NĂNG GIẢI THOÁT?
22. Một người lễ Phật mỗi ngày
Cách thứ nhất
Người ấy lễ Phật để:
nhớ phẩm chất giác ngộ,
giảm kiêu mạn,
nuôi dưỡng tín tâm,
nhắc mình sống có giới hạnh.
Nghi thức trở thành:
PHƯƠNG TIỆN TU TẬP.
Cách thứ hai
Người ấy nghĩ:
“Tôi lạy đủ 108 lạy nên dù sống thế nào cũng chắc chắn được thanh tịnh.”
Đây là:
nguy cơ biến nghi thức thành:
CƠ CHẾ GIAO DỊCH.
23. Tụng kinh cũng vậy
Tụng kinh:
không phải vô ích.
Nó có thể giúp:
học,
nhớ,
định tâm,
phát tín,
duy trì truyền thống,
hướng tâm về thiện pháp.
Nhưng nếu nghĩ:
“Chỉ cần âm thanh phát ra đủ số lần thì tham sân si tự động biến mất,”
thì:
đã tách nghi thức khỏi mục đích chuyển hóa.
24. Giữ giới vì sợ hãi khác giữ giới bằng trí tuệ
Một người không sát sinh vì:
“Nếu giết con vật này, Phật sẽ phạt tôi.”
Đây chưa phải:
cách hiểu sâu về giới.
Người khác hiểu:
sinh mạng có giá trị,
sát sinh nuôi dưỡng bất thiện,
hành động có hậu quả,
từ bi cần được phát triển.
Cả hai:
có thể cùng không giết.
Nhưng:
nền tảng nhận thức khác nhau.
Con đường hướng tới:
GIỚI ĐƯỢC HỖ TRỢ BỞI CHÁNH KIẾN.
25. Giữ giới vì muốn hơn người cũng có thể trở thành chấp
Một người nghĩ:
“Tôi giữ giới tốt hơn anh.”
↓
“Tôi thanh tịnh hơn anh.”
↓
“Tôi thuộc nhóm cao hơn.”
↓
“Những người kia không đáng tôn trọng.”
Lúc này:
một pháp tu nhằm giảm chấp ngã
lại bị sử dụng để:
XÂY MỘT CÁI NGÃ ĐẠO ĐỨC.
Đây là một nguy cơ rất tinh tế.
26. Giới có thể trở thành vật liệu cho ngã mạn
Ta có thể xây bản sắc:
“Tôi là người ăn chay.”
“Tôi là người giữ tám giới.”
“Tôi là người tu nghiêm.”
“Tôi không giống người đời.”
Bản thân:
ăn chay,
giữ giới,
sống đơn giản
không có lỗi.
Vấn đề là:
tâm bắt đầu lấy chúng làm vật liệu cho:
“TÔI”
và:
“TÔI HƠN.”
27. Nhưng sợ chấp giới rồi bỏ giới còn nguy hiểm hơn
Có người nhận ra:
giới có thể trở thành đối tượng chấp thủ.
Rồi kết luận:
“Vậy tốt nhất khỏi giữ giới.”
Đây giống như nói:
thuốc có thể bị lạm dụng,
nên:
không bao giờ dùng thuốc.
Sai lầm không nằm ở:
giới.
Sai lầm nằm ở:
chấp thủ.
Do đó giải pháp là:
GIỮ GIỚI CÓ TRÍ TUỆ,
không phải:
BỎ GIỚI.
28. Người Dự lưu là bằng chứng rất rõ
Theo Phật giáo sơ kỳ/Theravāda:
Dự lưu đã đoạn ba kiết sử đầu:
thân kiến;
nghi;
giới cấm thủ.
Nhưng vị ấy:
không trở thành người vô giới.
Ngược lại:
giới hạnh của bậc Thánh được kinh điển ca ngợi.
Điều này chứng minh:
ĐOẠN GIỚI CẤM THỦ
≠
ĐOẠN GIỚI.
Mà là:
ĐOẠN CÁCH CHẤP SAI VÀO GIỚI VÀ NGHI THỨC.
29. Một phân biệt rất quan trọng
Trước khi có Chánh kiến
Có thể nghĩ:
“Tôi thực hiện quy tắc này, vì chính quy tắc này tự động cứu tôi.”
Khi hiểu con đường
Ta thấy:
giới là một điều kiện trong mạng lưới Giới–Định–Tuệ.
Nó:
bảo vệ,
huấn luyện,
thanh lọc hành vi,
hỗ trợ tâm,
nhưng:
phải đi cùng toàn bộ con đường.
Đây là:
GIỮ GIỚI MÀ KHÔNG BIẾN GIỚI THÀNH THẦN TƯỢNG.
30. “Phá chấp” không có nghĩa phá giới
Hai chữ này:
rất dễ bị đánh tráo.
PHÁ CHẤP
là:
tháo gỡ sự bám víu và nhận thức sai.
PHÁ GIỚI
là:
vi phạm học giới đã thọ.
Hai việc:
hoàn toàn khác nhau.
Không thể nói:
“Tôi cố ý nói dối để phá chấp giới.”
Đó không phải:
phương pháp giải thoát.
31. “Tự do” trong Phật giáo cũng không phải muốn làm gì thì làm
Một cách hiểu hiện đại:
giác ngộ = vượt ngoài mọi quy tắc.
Nhưng nếu:
vẫn bị tham sai khiến,
bị sân sai khiến,
bị dục sai khiến,
thì:
đó chưa phải tự do.
Người nói:
“Tôi tự do nên tôi muốn làm gì cũng được”
có thể thực ra:
đang làm đúng điều tham muốn sai khiến.
Trong nghĩa giải thoát:
TỰ DO KHÔNG PHẢI
TỰ DO PHỤC VỤ THAM.
Mà là:
TỰ DO KHỎI SỰ NÔ LỆ CỦA THAM – SÂN – SI.
32. Người giác ngộ không cần phạm giới để chứng minh không chấp
Một người đã hết tham:
không cần trộm cắp để chứng minh mình không chấp tài sản.
Một người hết sân:
không cần giết người để chứng minh mình vượt thiện ác.
Một người hết tà dục:
không cần xâm hại người khác để chứng minh mình tự do.
Ngược lại:
chính vì các gốc bất thiện đã đoạn,
hành vi:
tự nhiên phù hợp với không gây hại.
33. Giới từ bên ngoài dần trở thành phẩm chất bên trong
Ban đầu ta có thể cần:
“Không được làm điều này.”
Sau một thời gian:
hiểu rõ hậu quả.
Sâu hơn nữa:
tâm không còn muốn làm điều ấy.
Ví dụ:
Ban đầu
“Tôi không nói dối vì đã thọ giới.”
Sau đó
“Tôi thấy nói dối gây hại.”
Sâu hơn
“Tâm không muốn lừa dối.”
Đây là:
TỪ QUY TẮC
↓
HIỂU BIẾT
↓
PHẨM CHẤT.
34. Đây là lý do giới không chỉ là luật
Nếu giới chỉ là:
luật bên ngoài,
thì mục tiêu cao nhất là:
không bị bắt quả tang vi phạm.
Nhưng nếu giới là:
huấn luyện tâm,
thì ngay cả khi:
không ai nhìn thấy,
ta vẫn xem xét:
tác ý,
tham,
sân,
si,
hậu quả đối với mình và người khác.
Đó là:
ĐẠO ĐỨC NỘI TÂM HÓA.
35. Tác ý rất quan trọng
Trong nghiệp:
tác ý có vai trò trung tâm.
Vì vậy giữ giới không chỉ là:
quản lý động tác bên ngoài.
Ví dụ:
một người không giết đối phương
chỉ vì:
sợ bị tù,
nhưng trong tâm:
nuôi hận thù dữ dội.
Về mặt giới sát sinh:
hành động giết chưa xảy ra.
Nhưng về mặt tu tâm:
sân vẫn cần được xử lý.
Do đó:
GIỚI NGĂN HÀNH VI THÔ.
TU TÂM ĐI SÂU VÀO GỐC.
36. Không nên vì thế xem giới là thấp
Đôi khi người ta nói:
“Giới chỉ dành cho người mới; người tu cao chỉ cần tâm.”
Đây cũng là:
một cách hiểu nguy hiểm.
Nếu một người tuyên bố:
tâm mình rất cao,
nhưng thường xuyên:
lừa dối,
lợi dụng,
xâm hại,
tham lam,
thì:
chính hành vi ấy là dữ kiện cần được xem xét.
Giới:
là một thước đo thực tế quan trọng của sự chuyển hóa.
37. “Tâm tốt là đủ” cũng chưa chính xác
Một người nói:
“Tâm tôi tốt nên thỉnh thoảng nói dối không sao.”
Nhưng nếu:
lời nói gây hại,
lừa người,
nuôi thói quen bất thiện,
thì:
“tâm tốt” không tự động xóa hậu quả.
Trong Phật giáo:
TÁC Ý QUAN TRỌNG,
nhưng:
KHÔNG PHẢI YẾU TỐ DUY NHẤT
CẦN XEM XÉT KHI ĐÁNH GIÁ HÀNH VI.
38. Chánh ngữ cho thấy giới cần trí tuệ
Chánh ngữ không chỉ là:
“không nói dối.”
Còn liên quan tới việc tránh:
lời chia rẽ,
lời ác,
lời phù phiếm theo cách trình bày truyền thống.
Do đó tu lời nói đòi hỏi:
nhận biết hoàn cảnh,
động cơ,
tác động,
thời điểm.
Giới không phải:
MÁY TÍNH ĐẠO ĐỨC KHÔNG CẦN TRÍ TUỆ.
39. Nhưng “linh hoạt” không được biến thành tùy tiện
Ngược lại:
lấy chữ “phương tiện”
để biện hộ mọi hành động
cũng:
rất nguy hiểm.
Ta có thể dễ dàng tự nói:
“Tôi làm vậy vì lợi ích của người khác.”
trong khi thực tế:
tham,
sân,
quyền lực,
lợi ích cá nhân
đang vận hành.
Vì vậy:
CÀNG NÓI ĐẾN PHƯƠNG TIỆN
CÀNG CẦN CHÁNH KIẾN VÀ TỰ QUÁN SÁT.
40. Đại thừa có bỏ giới không?
Không.
Đại thừa phát triển:
giới Bồ-tát,
Bồ-đề tâm,
từ bi,
Lục Ba-la-mật.
Trong Lục Ba-la-mật:
ŚĪLA-PĀRAMITĀ
chính là:
Trì giới Ba-la-mật.
Do đó:
TÁNH KHÔNG
KHÔNG XÓA TRÌ GIỚI.
Trái lại, trí tuệ và từ bi:
làm sâu sắc động cơ của giới.
41. Trì giới Ba-la-mật khác chấp giới
Một Bồ-tát có thể:
giữ giới rất nghiêm.
Nhưng không nên:
lấy giới tạo ngã mạn,
khinh người,
biến hình thức thành cứu cánh.
Trì giới được đặt trong:
Bồ-đề tâm,
từ bi,
trí tuệ,
Tánh Không.
Do đó:
KHÔNG CHẤP GIỚI
KHÔNG PHẢI
BỎ GIỚI.
42. Kim Cương thừa cũng không nằm ngoài giới
Đây là điểm thường bị hiểu sai.
Kim Cương thừa có:
những biểu tượng,
nghi quỹ,
phương tiện
khác với các hệ thống phổ thông.
Nhưng không thể suy:
“Mật thừa vượt thiện ác nên không cần đạo đức.”
Kim Cương thừa truyền thống vận hành trên:
quy y,
giới,
Bồ-đề tâm,
Tánh Không,
và các cam kết thích hợp.
“Vượt nhị nguyên”:
không phải giấy phép cho hành vi gây hại.
43. Thiền tông cũng không phải “không giới”
Những câu như:
không chấp văn tự,
trực chỉ,
không trụ,
vô niệm
không có nghĩa:
bỏ đạo đức.
Trong lịch sử Thiền:
giới luật,
giới Bồ-tát,
quy củ thiền môn
vẫn giữ vai trò quan trọng.
“Không chấp”:
không phải “không cần giới.”
44. Một bài kiểm tra đơn giản
Khi giữ một giới, có thể hỏi:
1.
Tôi hiểu giới này bảo vệ điều gì?
2.
Nó đang làm tham, sân, si giảm hay tăng?
3.
Tôi đang dùng nó để tu hay để thấy mình cao hơn người?
4.
Tôi có nghĩ hình thức này tự động bảo đảm giác ngộ không?
5.
Nếu người khác giữ khác mình trong những vấn đề không phải học giới căn bản, tôi có lập tức khinh họ không?
Những câu hỏi ấy giúp phân biệt:
GIỮ GIỚI
với:
NGÃ CHẤP XOAY QUANH GIỚI.
45. Nhưng đừng biến việc tự kiểm tra thành lý do phá giới
Ta không nên hỏi:
“Tôi có đang chấp giới không?”
rồi kết luận:
“Để chắc chắn không chấp, hôm nay tôi sẽ cố tình phạm.”
Đó giống như:
sợ chấp vào thuốc nên cố tình uống độc.
Con đường hợp lý hơn:
GIỮ GIỚI
QUÁN TÂM
PHÁT TRIỂN TUỆ.
46. Một bảng phân biệt
| Giữ giới | Chấp giới |
|---|---|
| Xem giới là sự huấn luyện | Xem hình thức như cứu cánh tự đủ |
| Hiểu nhân quả của hành động | Tin hành vi máy móc tự động thanh tịnh |
| Giảm gây hại | Có thể chỉ chăm chăm vào hình thức |
| Hỗ trợ Định và Tuệ | Có thể bỏ quên Định và Tuệ |
| Giảm tham sân si | Có thể nuôi ngã mạn |
| Có Chánh kiến hỗ trợ | Có thể dựa trên mê tín hoặc hiểu sai |
| Dùng giới như phương tiện | Biến phương tiện thành cứu cánh |
| Có thể rất nghiêm túc | Không được xác định chỉ bởi mức độ nghiêm |
| Tăng trách nhiệm | Có thể trở thành phán xét người khác |
| Hướng tới giải thoát | Bám vào quy tắc như tự thân giải thoát |
47. Một bảng khác rất quan trọng
| Điều này | Không đồng nghĩa |
|---|---|
| Không chấp giới | Không cần giới |
| Giữ giới nghiêm | Chấp giới |
| Đoạn giới cấm thủ | Bỏ đạo đức |
| Vô ngã | Không trách nhiệm |
| Tánh Không | Không nhân quả |
| Phương tiện thiện xảo | Muốn làm gì cũng được |
| Vượt chấp | Vượt thiện ác theo nghĩa tùy tiện |
| Giải thoát | Phóng túng |
48. Những hiểu lầm thường gặp
“Giữ giới nghiêm là chấp giới”
Không đúng.
Một người có thể:
giữ giới rất nghiêm
với:
Chánh kiến và không ngã mạn.
“Người giác ngộ không cần giới”
Cách nói này:
rất dễ gây hiểu lầm.
Một bậc đã đoạn tận các gốc bất thiện:
không cần phạm giới để chứng minh mình tự do.
“Không chấp nghĩa là thiện ác như nhau”
Không.
Phật giáo:
phân biệt thiện và bất thiện rất rõ.
“Giới chỉ dành cho người mới”
Không.
Giới:
thuộc Bát Chánh Đạo
và:
Giới–Định–Tuệ.
“Chỉ cần giữ giới là đủ giác ngộ”
Không.
Giới rất quan trọng nhưng:
không thay thế Tuệ.
“Chỉ cần tâm tốt, hành vi không quan trọng”
Không.
Hành vi:
cũng tạo hậu quả và huấn luyện tâm.
“Nghi thức đều là chấp”
Không.
Nghi thức có thể:
là phương tiện hữu ích.
Vấn đề là:
cách sử dụng và chấp thủ.
“Phá giới để phá chấp”
Không.
Đây là:
đánh tráo hai khái niệm.
49. Từ giới cưỡng ép tới giới tự nhiên
Có thể hình dung quá trình tu tập:
“TÔI KHÔNG ĐƯỢC LÀM.”
↓
“TÔI HIỂU TẠI SAO KHÔNG NÊN LÀM.”
↓
“TÔI THẤY RÕ TÁC HẠI CỦA NÓ.”
↓
“TÂM NGÀY CÀNG ÍT MUỐN LÀM.”
↓
“GỐC THAM – SÂN – SI DẦN YẾU.”
Ở mức sâu:
giới không còn chỉ là hàng rào ép từ bên ngoài.
Nó trở thành:
BIỂU HIỆN TỰ NHIÊN
CỦA MỘT TÂM ÍT THAM – SÂN – SI.
50. Giới giống lan can trên con đường núi
Người mới đi:
lan can rất quan trọng.
Nó giúp:
không rơi xuống vực.
Nhưng mục tiêu của chuyến đi:
không phải đứng ôm lan can mãi.
Ta sử dụng:
lan can
để:
đi đúng đường.
Tương tự:
giới bảo vệ hành vi và tâm.
Nhưng cứu cánh:
không phải khoe rằng mình giữ lan can tốt nhất.
Cứu cánh là:
GIẢI THOÁT.
Ví dụ này chỉ mang tính:
sư phạm.
51. Một hình ảnh khác: chiếc bè
Giáo pháp được ví như:
chiếc bè dùng để qua sông.
Điều này không có nghĩa:
thấy bè là chấp nên phải vứt xuống nước trước khi qua.
Đúng hơn:
PHẢI DÙNG BÈ ĐỂ QUA SÔNG.
Nhưng:
sau khi qua,
không cần:
đội bè trên đầu.
Giới cũng có thể được hiểu theo tinh thần ấy:
DÙNG ĐÚNG PHƯƠNG TIỆN,
không:
THỜ PHƯỢNG PHƯƠNG TIỆN.
Nhưng càng không:
VỨT PHƯƠNG TIỆN TRƯỚC KHI HOÀN THÀNH CON ĐƯỜNG.
52. “Giữ mà không chấp” không có nghĩa lạnh lùng
Một người có thể:
giữ giới rất cẩn trọng,
thường xuyên kiểm điểm,
sám hối khi sai,
sửa hành vi,
mà vẫn:
không tự đồng hóa mình với hình ảnh “người thanh tịnh.”
Đây chính là:
NGHIÊM TÚC MÀ KHÔNG NGÃ MẠN.
53. Khi phạm giới thì sao?
Hai cực đoan:
Cực đoan 1
“Tôi đã phạm giới. Tôi là người xấu không thể cứu.”
Đây có thể trở thành:
chấp ngã và tự hành hạ.
Cực đoan 2
“Đừng chấp giới. Chuyện nhỏ.”
Đây có thể trở thành:
né tránh trách nhiệm.
Hướng thực hành là:
NHẬN BIẾT.
THỪA NHẬN.
HIỂU NGUYÊN NHÂN.
SỬA SAI NẾU CÓ THỂ.
NGĂN TÁI PHẠM.
TIẾP TỤC TU.
54. Sám hối vì thế không phải tự kết án
Sám hối:
không cần biến thành:
“Tôi là kẻ tội lỗi vĩnh viễn.”
Nó có thể là:
nhìn rõ hành vi bất thiện,
nhận trách nhiệm,
phát tâm sửa đổi,
tạo điều kiện mới.
Như vậy:
GIỚI
gắn với:
DUYÊN KHỞI.
Ta thay đổi:
những duyên đang nuôi hành vi bất thiện.
55. Giới và tự do thực ra không đối lập
Ban đầu:
giới có vẻ là giới hạn.
Nhưng thử nhìn:
Người không thể ngừng nói dối:
có tự do không?
Người không thể kiểm soát cơn giận:
có tự do không?
Người không thể ngừng nghiện:
có tự do không?
Người bị dục vọng điều khiển:
có tự do không?
Nếu không thể:
không làm điều tâm tham muốn,
thì:
chính tham đang làm chủ.
Do đó giới:
KHÔNG CHỈ HẠN CHẾ.
Nó còn:
HUẤN LUYỆN KHẢ NĂNG KHÔNG BỊ THAM – SÂN – SI ĐIỀU KHIỂN.
56. Giới và Chánh niệm hỗ trợ nhau
Giới hỏi:
“Tôi nên tránh hành động nào?”
Chánh niệm giúp thấy:
“Ngay lúc này tâm gì đang thúc đẩy hành động?”
Tuệ hỏi:
“Tại sao tôi chấp vào nó?”
Do đó:
GIỚI
CHÁNH NIỆM
TUỆ
giúp ta đi từ:
kiểm soát hành vi
đến:
hiểu gốc của hành vi.
57. Đích đến không phải “người giữ luật hoàn hảo”
Đích đến của Phật pháp:
không đơn giản là sản xuất một con người:
không bao giờ phạm một danh sách quy tắc vì sợ hãi.
Mà sâu hơn:
THAM ĐƯỢC ĐOẠN.
SÂN ĐƯỢC ĐOẠN.
SI ĐƯỢC ĐOẠN.
Khi gốc:
không còn,
nhiều hành vi bất thiện:
mất chính nguồn sinh của chúng.
58. Vì vậy giới và giải thoát liên hệ như thế nào?
Có thể tóm tắt:
GIỚI
↓
GIẢM HÀNH VI GÂY HẠI
↓
GIẢM HỐI HẬN VÀ RỐI LOẠN
↓
HỖ TRỢ TÂM AN ĐỊNH
↓
ĐỊNH HỖ TRỢ QUÁN SÁT
↓
TUỆ THẤY RÕ CÁC PHÁP
↓
GIẢM VÔ MINH – ÁI – THỦ
↓
GIẢI THOÁT.
Đây là:
sơ đồ sư phạm,
không phải:
một dây chuyền cơ học.
59. Câu hỏi đúng không phải “có giữ hay không?”
Mà là hai câu:
“GIỚI NÀY ĐANG HUẤN LUYỆN ĐIỀU GÌ?”
và:
“TÔI ĐANG GIỮ NÓ BẰNG TRÍ TUỆ
HAY BẰNG CHẤP THỦ?”
Nếu giới giúp:
giảm gây hại,
giảm tham,
giảm sân,
giảm si,
tăng Chánh niệm,
hỗ trợ Định,
hỗ trợ Tuệ,
thì:
giới đang thực hiện đúng chức năng của nó.
60. Kết luận
GIỮ GIỚI ≠ CHẤP GIỚI.
Giữ giới là:
một phần của con đường tu tập.
Chấp giới là:
bám vào giới cấm, hình thức hoặc nghi thức theo cách sai lạc, đặc biệt khi xem chúng tự thân là cứu cánh hoặc bảo đảm thanh tịnh mà không cần trí tuệ giải thoát.
Vì vậy:
GIỮ GIỚI NGHIÊM
KHÔNG TỰ ĐỘNG LÀ CHẤP GIỚI.
Và:
ĐOẠN GIỚI CẤM THỦ
KHÔNG CÓ NGHĨA
ĐOẠN BỎ GIỚI HẠNH.
Một người Dự lưu:
đoạn giới cấm thủ,
nhưng:
không trở thành người sống vô giới.
Điều được tháo bỏ là:
CÁCH CHẤP SAI,
không phải:
ĐẠO ĐỨC.
Vì vậy không nên nói:
“Giới chỉ là phương tiện nên không cần giữ.”
Cũng không nên nói:
“Chỉ cần giữ đúng hình thức giới là đủ giải thoát.”
Con đường nằm giữa hai cực đoan ấy:
GIỮ GIỚI,
nhưng:
KHÔNG LẤY GIỚI LÀM NGÃ.
TÔN TRỌNG HÌNH THỨC,
nhưng:
KHÔNG NHẦM HÌNH THỨC VỚI CỨU CÁNH.
CÓ KỶ LUẬT,
nhưng:
KHÔNG NUÔI NGÃ MẠN.
KHÔNG GÂY HẠI,
đồng thời:
ĐI SÂU VÀO GỐC THAM – SÂN – SI.
Có thể cô đọng toàn bộ bài bằng một câu:
GIỚI KHÔNG PHẢI XIỀNG XÍCH CẦN PHÁ,
CŨNG KHÔNG PHẢI CỨU CÁNH ĐỂ BÁM.
GIỚI LÀ SỰ HUẤN LUYỆN
ĐƯA THÂN – KHẨU – TÂM
VỀ HƯỚNG GIẢI THOÁT.
Và khi hiểu như vậy:
GIỮ GIỚI
không đối lập với:
VÔ CHẤP.
Ngược lại: