Tại sao tham ái sinh khổ nhưng mong muốn tu tập lại không sai?
Báo lỗi nội dung
Tại sao tham ái sinh khổ nhưng mong muốn tu tập lại không sai?
Tại sao tham ái sinh khổ nhưng mong muốn tu tập lại không sai?
Phật giáo dạy:
Ái là nguyên nhân của khổ.
Nhưng đồng thời người tu lại phải:
muốn giữ giới;
muốn hành thiền;
muốn học Pháp;
muốn đoạn bất thiện;
muốn phát triển thiện pháp;
muốn đạt giải thoát.
Điều này dường như tạo ra một nghịch lý:
Nếu mong muốn sinh khổ, chẳng phải “mong muốn tu tập” cũng phải bị loại bỏ sao?
Vấn đề nằm ở chỗ:
Phật giáo không nói mọi ý muốn đều là tham ái.
Kinh điển sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau cho những trạng thái mà tiếng Việt có thể cùng dịch là:
muốn – mong muốn – ước muốn.
Hai thuật ngữ đặc biệt cần phân biệt là:
taṇhā – khát ái
và:
chanda – ý muốn, nguyện vọng, sự chủ tâm muốn làm.
Do đó:
Không phải vấn đề nằm ở việc tâm có một hướng muốn nào đó, mà ở bản chất của cái muốn ấy, nguyên nhân của nó và nó dẫn tâm đi đâu.
1. Taṇhā là gì?
Pāli:
taṇhā
Sanskrit:
tṛṣṇā
nghĩa gốc gần với:
khát – khát khao – craving.
Trong Tứ Thánh đế, taṇhā được xác định là yếu tố trung tâm của:
Tập đế – nguyên nhân của khổ.
Ba dạng thường được nêu:
Kāma-taṇhā
Dục ái
khát khao khoái lạc giác quan.
Bhava-taṇhā
Hữu ái
khát khao trở thành hoặc tiếp tục tồn tại theo một cách nào đó.
Vibhava-taṇhā
Phi hữu ái
khát khao loại bỏ, tiêu diệt hoặc không tồn tại theo một cách nào đó.
Taṇhā thường mang cấu trúc:
“Tôi phải có.”
“Tôi phải trở thành.”
“Điều này phải tiếp tục.”
“Điều kia phải biến mất.”
Nó dễ dẫn đến:
ái → thủ → hữu → khổ.
2. Chanda là gì?
Chanda có phạm vi nghĩa rộng hơn.
Nó có thể chỉ:
ý muốn – sự quan tâm – nguyện vọng – ý hướng muốn thực hiện một việc.
Quan trọng là:
Chanda không tự động là thiện cũng không tự động là bất thiện trong mọi ngữ cảnh.
Nó phải được xem xét cùng:
động cơ – đối tượng – trạng thái tâm đi kèm.
Ví dụ:
“Tôi muốn giúp người đang gặp nạn.”
và:
“Tôi muốn lừa người này để lấy tiền.”
đều có cấu trúc ngôn ngữ:
“Tôi muốn...”
Nhưng về mặt đạo đức và tâm lý:
chúng hoàn toàn khác nhau.
3. Vì vậy không thể nói “muốn = tham”
Đây là lỗi rất phổ biến.
Nếu:
mọi mong muốn = tham
thì:
muốn giữ giới = tham
muốn bố thí = tham
muốn thiền = tham
muốn học Phật = tham
muốn đoạn tham = tham
muốn giúp chúng sinh = tham.
Khi đó toàn bộ con đường tu tập trở nên tự mâu thuẫn.
Phật giáo không phân tích tâm đơn giản như vậy.
Câu hỏi đúng hơn không phải:
“Có muốn hay không?”
mà là:
“Cái muốn này sinh từ đâu và dẫn đến đâu?”
4. Một ví dụ rất đơn giản
Hai người đều nói:
“Tôi muốn học Phật.”
Người thứ nhất nghĩ:
“Tôi muốn hiểu giáo pháp để thấy rõ khổ và bớt tham sân si.”
Người thứ hai nghĩ:
“Tôi phải học thật nhiều để chứng minh tôi hiểu Phật pháp hơn mọi người.”
Bề ngoài:
cùng học kinh.
Nhưng tâm lý bên trong rất khác.
Một bên hướng tới:
trí tuệ và ly tham.
Bên kia có thể đang nuôi:
mạn – chấp ngã – danh vọng.
Do đó:
Không thể đánh giá tâm chỉ bằng hành động bên ngoài.
5. Mong muốn tu tập có thể là thiện dục
Một người nhận ra:
“Sân đang làm tôi và người khác khổ.”
Rồi phát nguyện:
“Tôi muốn học cách đoạn sân.”
Ý muốn này không nhất thiết thuộc:
taṇhā.
Nó có thể là một động lực thiện đưa đến:
tinh tấn – chánh niệm – định – tuệ.
Nếu không có loại động lực này, người ấy sẽ không:
học;
thực hành;
sửa mình;
đoạn bất thiện;
phát triển thiện pháp.
6. Chánh tinh tấn tự nó đã chứng minh không phải mọi “muốn” đều cần diệt
Trong Bát chánh đạo có:
Chánh tinh tấn – sammā-vāyāma.
Nó thường được triển khai thành bốn nỗ lực:
ngăn bất thiện chưa sinh;
đoạn bất thiện đã sinh;
làm sinh thiện chưa sinh;
duy trì và phát triển thiện đã sinh.
Những việc này đều đòi hỏi:
ý hướng và nỗ lực.
Một người hoàn toàn không muốn:
đoạn bất thiện
hay:
phát triển thiện
thì khó có thể thực hiện Chánh tinh tấn.
Do đó:
Con đường Phật giáo không tiêu diệt ý chí; nó giáo dục và chuyển hóa ý chí.
7. Tứ như ý túc còn cho thấy rõ hơn
Trong Tứ như ý túc – iddhipāda, một yếu tố là:
chanda.
Tức sự mong muốn, nhiệt tâm hay ý hướng đối với việc thực hành.
Điều này rất quan trọng.
Nếu mọi chanda đều là tham ái cần đoạn:
chanda không thể đồng thời trở thành một yếu tố hỗ trợ tu tập.
Do đó phải phân biệt:
khát ái trói buộc
với:
ý hướng thiện thúc đẩy con đường.
8. Vậy khác biệt cốt lõi nằm ở đâu?
Có thể đối chiếu:
| Taṇhā | Chanda thiện |
|---|---|
| “Tôi phải có” | “Việc này đáng làm” |
| Hướng tới thỏa mãn và bám giữ | Hướng tới hành động thích hợp |
| Dễ dẫn đến thủ | Có thể dẫn đến tinh tấn |
| Thường gắn với tham/chấp | Có thể gắn với thiện pháp |
| Không được như ý dễ sinh khổ mạnh | Biết điều chỉnh theo điều kiện |
| Củng cố trói buộc | Có thể hỗ trợ tháo gỡ trói buộc |
Tuy nhiên bảng này chỉ giúp định hướng.
Trong thực tế:
Một động lực ban đầu có thể chứa cả chanda lẫn taṇhā.
9. Ngay cả mong muốn giác ngộ cũng có thể bị tham ái hóa
Đây là điểm rất tinh tế.
Một người có thể nghĩ:
“Tôi phải giác ngộ.”
Rồi:
“Tại sao tôi chưa chứng?”
“Người kia tu sau tôi mà tiến bộ hơn.”
“Tôi phải đạt tầng thiền này.”
“Tôi phải trở thành Tu-đà-hoàn.”
Lúc này một mục tiêu đúng có thể bị cái tôi biến thành:
một dự án thành tựu bản thân.
Cấu trúc trở thành:
“Tôi phải trở thành một người giác ngộ.”
Điều đó có thể chứa:
bhava-taṇhā – hữu ái
và:
māna – mạn.
10. “Muốn giác ngộ” vì vậy có thể thiện hoặc bất thiện?
Cần diễn đạt tinh tế hơn.
Mục tiêu giải thoát là đúng hướng.
Nhưng cách tâm nắm lấy mục tiêu ấy có thể khác nhau.
Một hướng
“Khổ cần được hiểu.”
“Tham sân si cần được đoạn.”
“Tôi sẽ thực hành con đường.”
Đây có thể hỗ trợ Chánh tinh tấn.
Một hướng khác
“Tôi phải đạt một danh phận tâm linh.”
“Tôi phải chứng trước người khác.”
“Tôi phải trở thành một người đặc biệt.”
Ở đây:
chấp ngã đã chen vào mục tiêu tu tập.
Do đó ngay cả Pháp cũng có thể trở thành:
đối tượng của chấp thủ.
11. Đây chính là lý do có hình ảnh chiếc bè
Trong Alagaddūpama Sutta (MN 22), giáo pháp được ví như:
chiếc bè dùng để qua sông.
Chiếc bè rất cần thiết.
Không có bè:
khó qua sông.
Nhưng khi đã qua:
không cần đội chiếc bè lên đầu và mang nó đi mãi.
Ý nghĩa quan trọng là:
Phương tiện cần được sử dụng nhưng không biến thành đối tượng chấp thủ.
Mong muốn tu tập cũng có thể được hiểu theo logic tương tự:
nó đưa người tu lên đường, nhưng không cần biến thành một bản ngã mới.
12. Có một nghịch lý rất đẹp của con đường
Ban đầu cần:
muốn đoạn tham.
Nhưng cuối cùng:
ngay cả sự nắm giữ cái “muốn đạt được” cũng phải được buông.
Điều này không mâu thuẫn.
Nó giống như:
dùng một phương tiện để đi đến nơi phương tiện ấy không còn cần thiết.
Ví dụ:
Muốn chữa bệnh khiến người bệnh đi tìm thuốc.
Khi khỏi bệnh:
không cần tiếp tục uống thuốc chỉ để duy trì danh tính “người đang chữa bệnh”.
13. “Muốn hết muốn” có mâu thuẫn không?
Thoạt nhìn có.
“Tôi muốn hết mọi ham muốn.”
Nhưng vấn đề biến mất khi phân biệt:
taṇhā
với:
ý hướng thiện dẫn đến đoạn taṇhā.
Có thể dùng:
một ý hướng thiện
để phát triển:
Giới – Định – Tuệ
và nhờ đó:
khát ái dần được đoạn.
Khi công việc hoàn thành:
phương tiện cũng được buông.
14. Ví dụ chiếc gai
Có một hình ảnh giải thích đơn giản:
Một cái gai đâm vào chân.
Ta dùng:
một cái gai khác
để lấy nó ra.
Sau khi lấy xong:
không giữ cả hai cái gai trong chân.
Tương tự, một số ý hướng thiện có thể được dùng để:
đối trị những khuynh hướng bất thiện.
Khi công việc đã hoàn tất:
không cần biến phương tiện thành chấp thủ mới.
Đây chỉ là ví dụ minh họa, không nên xem như đồng nhất hoàn toàn với cấu trúc tâm lý trong kinh điển.
15. Mong muốn tu tập khác tham thành tựu
Hãy so sánh:
Chanda
“Hôm nay tôi sẽ thực hành chánh niệm.”
Taṇhā hóa việc tu
“Hôm nay tôi nhất định phải đạt một trạng thái đặc biệt.”
Nếu trạng thái không xuất hiện:
thất vọng – bực bội – tự trách.
Ngày hôm sau:
“Tôi tu dở quá.”
Sau đó nhìn người khác:
“Tại sao họ đạt còn tôi không?”
Việc tu đã trở thành:
cuộc cạnh tranh thành tích.
Đây là dấu hiệu taṇhā và māna đang xen vào.
16. Làm sao nhận biết động lực tu tập đang biến thành tham ái?
Có thể quan sát một số dấu hiệu.
Khi không đạt điều mong muốn:
tâm có nổi sân không?
Khi người khác tiến bộ:
có ganh tỵ không?
Khi được khen:
có thấy mình đặc biệt không?
Khi bị phê bình:
có lập tức bảo vệ “trình độ tu” của mình không?
Khi thiền không tốt:
có tuyệt vọng không?
Nếu những phản ứng ấy xuất hiện, không cần kết luận:
“Tôi tu sai hoàn toàn.”
Chỉ cần nhận ra:
“Taṇhā và chấp ngã đang chen vào một mục tiêu vốn có thể thiện.”
Chính việc nhận ra ấy lại trở thành đối tượng của tuệ.
17. Có thể tu rất chăm mà vẫn đầy tham không?
Có.
Một người có thể:
ngồi thiền nhiều giờ;
học rất nhiều kinh;
giữ giới nghiêm;
tham dự nhiều khóa tu,
nhưng bên trong nghĩ:
“Tôi phải trở thành người tu giỏi.”
Khi ấy:
đối tượng của tham đã thay đổi
nhưng:
cơ chế tham chưa chắc thay đổi.
Trước kia:
“Tôi muốn nhiều tiền.”
Sau này:
“Tôi muốn nhiều thành tựu tâm linh.”
Nếu cấu trúc vẫn là:
“Tôi phải có để tôi trở thành đặc biệt,”
thì cần tiếp tục quan sát.
18. Nhưng đừng vì vậy mà sợ mọi động lực
Một cực đoan khác là:
“Tôi không được muốn gì hết.”
Rồi trở thành:
thụ động;
lười biếng;
bỏ thực hành;
không phát triển thiện pháp.
Đó không phải Trung đạo.
Chánh tinh tấn yêu cầu:
nỗ lực.
Tu tập cần:
ý hướng.
Bồ-tát đạo cần:
phát nguyện.
Do đó:
Không chấp không đồng nghĩa không có phương hướng.
19. Mong muốn và chấp kết quả khác nhau
Có thể nói:
“Tôi muốn hoàn thành công việc này.”
rồi làm hết khả năng.
Nhưng kết quả phụ thuộc:
nhiều điều kiện.
Chanda lành mạnh có thể nói:
“Tôi sẽ làm điều cần làm.”
Trong khi taṇhā dễ thêm:
“Kết quả bắt buộc phải đúng như tôi muốn.”
Đây là ranh giới rất thực tế.
20. Ví dụ người học
Một học sinh nói:
“Tôi muốn học tốt môn này.”
Đó chưa phải vấn đề.
Ý muốn ấy có thể dẫn đến:
học tập – kỷ luật – nỗ lực.
Nhưng nếu trở thành:
“Tôi bắt buộc phải đứng nhất.”
“Nếu không đứng nhất tôi là kẻ thất bại.”
“Tôi không chịu được khi người khác giỏi hơn.”
thì:
chấp ngã và tham ái
đã tăng mạnh.
Mục tiêu vẫn là học.
Nhưng quan hệ của tâm với mục tiêu đã thay đổi.
21. Ví dụ người làm thiện
Một người nghĩ:
“Tôi muốn giúp những người đang khó khăn.”
Đó có thể là:
thiện ý và từ bi.
Nhưng sau khi giúp lại nghĩ:
“Mọi người phải biết tôi là người tốt.”
“Người được giúp phải biết ơn tôi.”
“Tôi phải được công nhận.”
Khi ấy:
hành động thiện
đang bị pha trộn với:
taṇhā và māna.
Điều này cho thấy:
Phật giáo không chỉ nhìn hành động; còn quan sát cấu trúc tâm đứng sau hành động.
22. Giới – Định – Tuệ chuyển hóa cái muốn như thế nào?
Giới
Giúp ta không lập tức làm theo:
mọi ham muốn.
↓
Định
Giúp nhìn thấy:
“Đang có một cái muốn.”
mà không lập tức đồng nhất:
“Tôi phải làm theo nó.”
↓
Tuệ
Quan sát:
“Cái muốn này sinh do điều kiện.”
“Nó đang thay đổi.”
“Nó dẫn đến tham thủ hay ly tham?”
↓
Từ đó:
bất thiện dục được giảm
và:
thiện ý được phát triển.
23. Phật giáo sơ kỳ
Trong Phật giáo sơ kỳ, sự phân biệt này thể hiện rất rõ qua việc:
taṇhā
được đặt ở trung tâm của Tập đế, trong khi con đường lại đòi hỏi:
tinh tấn – chánh niệm – định – tuệ.
Nếu mọi hình thức ý muốn đều bị xem là taṇhā, cấu trúc ấy không thể vận hành.
Điều cần đoạn không phải:
mọi khả năng hướng tâm đến một mục tiêu
mà là:
khát ái dẫn đến chấp thủ và tiếp tục khổ.
24. Theravāda
Theravāda phân tích tâm chi tiết hơn và phân biệt:
taṇhā/lobha
với những dạng:
chanda
có chức năng khác.
Trong thực hành:
kusala-chanda – thiện dục
có thể hỗ trợ:
học Pháp;
giữ giới;
hành thiền;
phát triển thiện pháp.
Nhưng người hành trì vẫn phải quan sát:
thiện dục có đang bị tham và mạn chiếm lấy không?
25. Đại thừa
Trong Đại thừa, điều này đặc biệt rõ qua:
Bồ-đề tâm – bodhicitta.
Bồ-tát phát nguyện:
thành tựu giác ngộ vì lợi ích chúng sinh.
Đây rõ ràng là một:
ý hướng rất mạnh.
Nếu Phật giáo chủ trương:
“Không được có bất kỳ mong muốn nào,”
thì toàn bộ lý tưởng Bồ-tát sẽ trở nên khó hiểu.
Điểm khác biệt là:
nguyện lực ấy hướng đến trí tuệ và lợi tha, không đơn giản hướng đến thỏa mãn bản ngã.
26. Nhưng Bồ-đề tâm cũng không phải cái để xây bản ngã
Ngay cả:
“Tôi là Bồ-tát cứu chúng sinh”
cũng có thể trở thành một hình thức chấp.
Do đó Đại thừa kết hợp:
đại bi
với:
Bát-nhã.
Hành động vì chúng sinh nhưng đồng thời thấy:
người cho – người nhận – hành động
đều duyên sinh, không có tự tính độc lập.
Đây là cách:
nguyện lực mạnh
có thể đi cùng:
không chấp.
27. Trung quán
Trung quán đặc biệt giúp tránh hai cực đoan:
Cực đoan thứ nhất
“Tôi phải đạt giác ngộ như một vật để sở hữu.”
Đây là:
vật hóa giác ngộ.
Cực đoan thứ hai
“Mọi thứ đều Không nên chẳng cần tu.”
Đây là:
hiểu sai tính Không thành hư vô.
Trung đạo là:
thực hành rất nghiêm túc nhưng không biến con đường, người tu hay quả vị thành những thực thể có tự tính để bám giữ.
28. Duy thức
Duy thức giúp nhìn sâu vào:
động cơ và tập khí.
Một ý muốn có thể nhìn rất cao thượng bên ngoài nhưng vẫn được thúc đẩy bởi:
chủng tử chấp ngã.
Do đó tu tập không chỉ đổi:
đối tượng mình muốn
mà sâu hơn là:
chuyển hóa cấu trúc tâm đang muốn.
Đây là điểm rất quan trọng.
29. Thiền tông
Thiền thường cảnh báo việc:
đuổi theo trạng thái giác ngộ.
Nếu ngồi thiền chỉ với tâm:
“Bao giờ tôi mới chứng?”
“Bao giờ tôi mới có kiến tánh?”
thì chính sự săn đuổi ấy có thể trở thành:
chướng ngại.
Nhưng điều đó không có nghĩa:
không cần thực hành.
Hành giả vẫn:
ngồi – quan sát – tinh tấn – sống tỉnh thức.
Khác biệt là:
thực hành hết lòng mà không biến giác ngộ thành chiến lợi phẩm của cái tôi.
30. Kim Cương thừa
Kim Cương thừa có những hình thức:
phát nguyện – Bồ-đề tâm – samaya – thực hành rất có mục tiêu.
Điều này một lần nữa cho thấy:
không phải mọi ý hướng đều là taṇhā.
Nhưng động lực cần đặt trên nền:
Bồ-đề tâm + trí tuệ tính Không.
Nếu thực hành Mật thừa để nghĩ:
“Tôi sẽ có quyền năng đặc biệt.”
thì phương pháp giải thoát lại có thể bị:
tham và mạn
chiếm dụng.
31. Một tiêu chuẩn rất thực tế
Khi xuất hiện một mong muốn, có thể hỏi:
1. Nó sinh từ đâu?
tham – sân – si?
hay:
từ – bi – trí tuệ – thiện ý?
2. Nếu không đạt được, điều gì xảy ra?
Tâm có:
sụp đổ – sân – ghen – thù
hay vẫn:
điều chỉnh và tiếp tục làm điều thích hợp?
3. Nó dẫn đến đâu?
Làm:
tham sân si tăng
hay:
tham sân si giảm?
4. Nó xây cái tôi hay tháo cái tôi?
“Tôi phải trở thành người đặc biệt”
hay:
“Việc này cần được thực hiện.”
Bốn câu hỏi này hữu ích hơn:
“Có mong muốn là sai hay đúng?”
32. Từ tham muốn đến nguyện lực
Có thể hình dung một tiến trình trưởng thành:
Taṇhā
“Tôi phải có.”
↓
Chanda thiện
“Điều này đáng làm.”
↓
Chánh tinh tấn
“Tôi sẽ thực hành.”
↓
Tuệ
“Kết quả cũng do duyên.”
↓
Không chấp
“Làm hết sức nhưng không biến kết quả thành cái tôi.”
Đây là một chuyển hóa rất sâu:
không phải từ có động lực thành không có động lực, mà từ động lực bị chấp ngã điều khiển sang hành động ngày càng ít chấp thủ.
33. Cuối cùng chanda có được buông không?
Ở tầng sâu của con đường:
phương tiện không cần được nắm giữ vĩnh viễn.
Mục đích của thiện dục là:
đưa đến đoạn bất thiện và phát triển con đường.
Khi công việc đã hoàn tất:
không cần tiếp tục tạo ra một cái tôi đang cố đạt giải thoát.
Đây là logic:
dùng con đường để đi
nhưng:
không biến con đường thành vật sở hữu.
Giống chiếc bè:
cần khi qua sông, không cần đội trên đầu sau khi đã qua.
34. Một nghịch lý chỉ tồn tại khi dịch sai
Nếu nói:
“Phật giáo dạy diệt mọi mong muốn.”
thì lập tức xuất hiện nghịch lý:
“Vậy mong muốn diệt mong muốn thì sao?”
Nhưng khi diễn đạt chính xác hơn:
Phật giáo dạy đoạn taṇhā – khát ái dẫn đến chấp thủ và khổ, đồng thời phát triển những ý hướng thiện hỗ trợ con đường.
nghịch lý gần như biến mất.
Vấn đề không phải:
CÓ MUỐN HAY KHÔNG.
Mà là:
MUỐN CÁI GÌ – VÌ SAO MUỐN – MUỐN BẰNG TÂM NÀO – VÀ CÁI MUỐN ẤY DẪN ĐẾN ĐÂU.
35. Câu trả lời cô đọng nhất
Tại sao:
tham ái sinh khổ
nhưng:
mong muốn tu tập lại không sai?
Bởi hai thứ không nhất thiết là một.
Taṇhā nói:
“Tôi phải có – tôi phải trở thành – tôi phải loại bỏ để cái tôi được thỏa mãn.”
Trong khi chanda thiện có thể nói:
“Điều thiện này cần được phát triển; điều bất thiện này cần được đoạn.”
Taṇhā dễ dẫn:
ái → thủ → hữu → khổ.
Chanda thiện có thể dẫn:
ý hướng → tinh tấn → chánh niệm → định → tuệ → ly tham.
Một bên:
nuôi sự trói buộc.
Một bên có thể:
trở thành phương tiện tháo sự trói buộc.
Kết luận
Phật giáo không dạy:
“Hãy trở thành một con người không muốn làm bất cứ điều gì.”
Nếu như vậy sẽ không còn:
Chánh tinh tấn
Tứ chánh cần
Tứ như ý túc
Bồ-đề tâm
hay cả:
ý hướng tu tập.
Điều Phật giáo nhắm đến là:
nhận diện và đoạn khát ái dẫn đến chấp thủ.
Vì vậy cần phân biệt:
tham muốn
với:
thiện dục;
chiếm hữu
với:
nguyện lực;
“tôi phải có”
với:
“điều này cần được làm”;
ám ảnh kết quả
với:
Chánh tinh tấn.
Và ngay cả mong muốn tu tập cũng cần tiếp tục được soi bằng trí tuệ.
Bởi:
“Tôi muốn giác ngộ”
vẫn có thể bị biến thành:
“Tôi muốn trở thành một người đặc biệt.”
Con đường trưởng thành vì thế không phải:
từ mong muốn → vô cảm và vô ý chí
mà là:
từ tham ái → thiện dục → Chánh tinh tấn → trí tuệ → ngày càng ít chấp thủ.
Cô đọng nhất:
Phật giáo không chủ trương diệt mọi cái muốn; Phật giáo đoạn cái khát khiến tâm phải nắm giữ.
Và một nghịch lý rất đẹp của con đường là:
Ban đầu, ta cần muốn tu để thoát khỏi tham ái. Nhưng khi đã đi đủ xa, ngay cả ý niệm “tôi là người đang đạt được giải thoát” cũng không còn cần phải nắm giữ.