Tại sao người xuất gia không sở hữu đời sống như cư sĩ?
Báo lỗi nội dung
Tại sao người xuất gia không sở hữu đời sống như cư sĩ?
Tại sao người xuất gia không sở hữu đời sống như cư sĩ?
Trả lời ngắn: Vì xuất gia trong Phật giáo là sự tự nguyện từ bỏ một phần lớn cấu trúc đời sống cư sĩ để tạo môi trường thuận lợi hơn cho việc đoạn trừ tham ái, chấp thủ và dành đời sống cho Giới – Định – Tuệ.
Người xuất gia không chỉ là:
“một người cư sĩ mặc áo tu.”
Họ bước vào một nếp sống khác, với giới luật và trách nhiệm khác.
Theo lý tưởng truyền thống, một vị xuất gia từ bỏ hoặc hạn chế mạnh:
đời sống vợ chồng và tình dục;
tích lũy tài sản cá nhân;
kinh doanh và sinh kế thông thường;
tiêu dùng hưởng thụ;
nhiều hình thức giải trí;
những ràng buộc xã hội vốn chiếm phần lớn đời sống cư sĩ.
Đổi lại, cộng đồng cư sĩ hỗ trợ những nhu cầu căn bản như:
thức ăn – y phục – chỗ ở – thuốc men.
Người xuất gia dành đời sống cho:
tu tập – học Pháp – giữ giới – thiền định – bảo tồn và truyền dạy giáo pháp.
Nhưng điều này không có nghĩa:
“Cư sĩ là thấp, xuất gia là cao.”
Đúng hơn, đó là hai cấu trúc đời sống với giới luật và trách nhiệm khác nhau.
1. “Xuất gia” thực sự nghĩa là gì?
Từ thường gặp trong kinh điển Pāli là:
pabbajjā – xuất gia.
Ý nghĩa căn bản là:
rời đời sống gia đình để bước vào đời sống không gia đình.
Một công thức thường xuất hiện trong kinh mô tả người nhận ra:
Đời sống gia đình chật hẹp và nhiều bụi; đời sống xuất gia rộng mở.
Ý nghĩa không nhất thiết là:
“Gia đình xấu.”
Mà là:
đời sống gia đình chứa rất nhiều trách nhiệm và ràng buộc khiến việc dành toàn bộ đời sống cho con đường tu tập trở nên khó hơn.
2. Cư sĩ phải làm những gì?
Một người cư sĩ bình thường có thể phải:
kiếm tiền;
xây dựng nghề nghiệp;
chăm sóc cha mẹ;
nuôi con;
duy trì hôn nhân;
trả nợ;
quản lý tài sản;
lo nhà cửa;
tham gia xã hội;
giải quyết hàng trăm vấn đề đời thường.
Không phải những việc này đều xấu.
Nhiều việc thậm chí là:
trách nhiệm đạo đức rất quan trọng.
Nhưng chúng tiêu tốn:
thời gian – năng lượng – sự chú ý.
Người xuất gia chủ động rời phần lớn cấu trúc ấy.
3. Xuất gia không phải vì gia đình là tội lỗi
Đây là điểm rất quan trọng.
Phật giáo không dạy:
hôn nhân là tội lỗi.
Không dạy:
có con là bất thiện.
Không dạy:
kiếm tiền chân chính là xấu.
Không dạy:
sở hữu nhà cửa tự nó tạo tội.
Đức Phật có rất nhiều đệ tử cư sĩ.
Kinh điển còn có những lời dạy dành riêng cho:
vợ chồng;
cha mẹ và con cái;
chủ và người làm;
bạn bè;
người kinh doanh;
cách quản lý tài sản.
Do đó:
Xuất gia không phải sự kết án đời sống gia đình.
Nó là lựa chọn một cấu trúc khác.
4. Vậy tại sao phải từ bỏ?
Bởi một trong những vấn đề trung tâm của Phật giáo là:
upādāna – chấp thủ.
Con người có thể chấp:
“Nhà của tôi.”
“Tiền của tôi.”
“Danh tiếng của tôi.”
“Người yêu của tôi.”
“Con của tôi.”
“Địa vị của tôi.”
“Cơ thể của tôi.”
Điều cần đoạn trừ cuối cùng không phải bản thân đồ vật mà là:
sự chấp thủ.
Nhưng môi trường sống có thể làm việc ấy:
dễ hơn hoặc khó hơn.
Xuất gia là một cách chủ động đơn giản hóa môi trường.
5. Không sở hữu có tự động hết tham không?
Không.
Đây là hiểu lầm rất quan trọng.
Một người có thể không có tài sản nhưng vẫn:
tham vô cùng mạnh.
Một vị tu sĩ có thể không đứng tên nhà nhưng vẫn chấp:
danh tiếng;
địa vị;
quyền lực;
học vị;
chùa;
đệ tử;
quan điểm;
truyền thống;
hình ảnh “người tu của tôi”.
Do đó:
Không sở hữu bên ngoài không tự động tạo ra không chấp thủ bên trong.
Giới luật chỉ tạo môi trường hỗ trợ.
Công việc thực sự vẫn là:
tu tâm.
6. Vậy tại sao không giữ tài sản nhưng chỉ cần “đừng chấp”?
Bởi câu:
“Tôi sở hữu nhưng tôi không chấp”
rất dễ nói.
Khó hơn nhiều khi:
thực sự mất nó.
Một người có thể nói:
“Tôi không chấp tiền.”
cho đến khi mất tiền.
Nói:
“Tôi không chấp địa vị.”
cho đến khi mất chức.
Nói:
“Tôi không chấp sở hữu.”
cho đến khi người khác lấy thứ mình cho là của mình.
Đời sống xuất gia sử dụng một phương pháp mạnh:
Không chỉ luyện buông trong tâm mà còn chủ động giảm những đối tượng thường xuyên kích thích sự sở hữu.
7. Người xuất gia có thật sự không sở hữu gì?
Không nên hiểu tuyệt đối.
Ngay từ Vinaya, người xuất gia vẫn được phép sử dụng những vật dụng cần thiết.
Truyền thống thường nói đến các nhu yếu cơ bản như:
y phục;
thức ăn;
chỗ ở;
thuốc men.
Ngoài ra, Vinaya có những quy định chi tiết về các vật dụng được phép sử dụng.
Vì vậy:
xuất gia ≠ không được chạm vào bất kỳ vật chất nào.
Đúng hơn:
đời sống vật chất được giới hạn theo nhu cầu tu tập thay vì tổ chức quanh việc tích lũy và hưởng thụ.
8. Tại sao tu sĩ truyền thống không tự kiếm tiền như cư sĩ?
Bởi mô hình Tăng đoàn ban đầu được xây dựng trên một quan hệ đặc biệt.
Cư sĩ
Hỗ trợ:
thức ăn – y phục – chỗ ở – thuốc men.
Tăng đoàn
Duy trì:
giới hạnh – tu tập – giáo pháp – hướng dẫn tinh thần.
Đây không nhất thiết là giao dịch:
“Tôi cho thầy cơm, thầy phải ban phước cho tôi.”
Lý tưởng là một quan hệ tương hỗ.
Cư sĩ tạo điều kiện vật chất để một cộng đồng có thể dành toàn thời gian cho tu tập.
Tăng đoàn duy trì và truyền trao giáo pháp.
9. Khất thực có ý nghĩa gì?
Khất thực không chỉ nhằm:
kiếm thức ăn miễn phí.
Nó có thể rèn luyện nhiều điều.
Người xuất gia phải chấp nhận:
hôm nay được gì thì dùng cái ấy trong giới hạn thích hợp.
Điều đó làm giảm khả năng:
xây dựng toàn bộ cuộc đời quanh việc thỏa mãn khẩu vị.
Đồng thời cư sĩ có cơ hội:
bố thí.
Tạo thành quan hệ:
người cho ↔ người nhận
nhưng lý tưởng không phải quan hệ thương mại.
10. Tại sao không lập gia đình?
Bởi đời sống xuất gia truyền thống gắn với:
brahmacariya – phạm hạnh, trong đó có đời sống độc thân.
Hôn nhân tự nó không bị xem là tội.
Nhưng quan hệ vợ chồng kéo theo:
tình dục;
trách nhiệm;
tình cảm;
con cái;
kinh tế;
nhà cửa;
tương lai gia đình.
Đó là những trách nhiệm hoàn toàn chính đáng đối với cư sĩ.
Nhưng nếu đã chọn:
đời sống không gia đình
thì xây dựng một gia đình mới sẽ phá vỡ chính cấu trúc đã lựa chọn.
11. Có phải tình yêu là xấu nên tu sĩ không kết hôn?
Không.
Phải phân biệt:
mettā – từ
với:
taṇhā/upādāna – ái và chấp thủ.
Người xuất gia không được lý tưởng hóa thành:
người không yêu ai.
Ngược lại, mục tiêu là mở rộng:
từ – bi
không bị giới hạn vào:
“người của tôi”.
Lý tưởng chuyển từ:
tình cảm sở hữu
sang:
thiện ý rộng lớn hơn.
Điều đó rất khó và không tự động xảy ra chỉ vì cạo tóc.
12. Tại sao phải cạo tóc?
Tóc tự nó không phải nguyên nhân của luân hồi.
Cạo tóc mang nhiều chức năng:
đơn giản hóa;
nhận diện đời sống xuất gia;
giảm việc trang điểm và chăm chút ngoại hình;
biểu tượng từ bỏ địa vị đời thường.
Nhưng:
Cạo tóc không cạo được tham-sân-si.
Một người có thể cạo đầu mà vẫn đầy ngã mạn.
Do đó hình thức phải đi cùng:
tu tập nội tâm.
13. Tại sao mặc y đơn giản?
Tương tự.
Y phục giúp giảm một lĩnh vực mà con người thường dùng để:
biểu diễn địa vị;
hấp dẫn người khác;
chạy theo thời trang;
xây dựng bản sắc.
Nhưng chiếc y cũng có thể trở thành:
đối tượng của ngã chấp.
Ví dụ:
“Tôi là người tu cao hơn anh.”
Khi đó một biểu tượng từ bỏ lại trở thành:
công cụ xây dựng bản ngã mới.
Đây chính là điều người tu phải cảnh giác.
14. Xuất gia có phải từ bỏ “cái tôi cũ” để tạo “cái tôi tu sĩ”?
Nếu thực hành sai:
có thể.
Một người bỏ:
tiền – nghề – thời trang
nhưng lại xây:
“Tôi là thiền sư.”
“Tôi thuộc truyền thống cao hơn.”
“Tôi giữ giới hơn người.”
“Tôi có nhiều đệ tử.”
thì chấp thủ chỉ:
đổi đối tượng.
Đó là lý do giới luật bên ngoài phải đi cùng:
Vô ngã và trí tuệ.
15. Giới luật của người xuất gia có nhiều hơn cư sĩ vì họ “thánh thiện hơn”?
Không nên hiểu như vậy.
Cư sĩ thường thọ trì:
Ngũ giới
và trong một số dịp:
Bát giới.
Tu sĩ sống theo Vinaya – Luật với số lượng quy định nhiều hơn.
Trong Theravāda thường nói đến:
227 giới Pātimokkha cho bhikkhu
và:
311 cho bhikkhunī.
Nhưng số giới nhiều không có nghĩa:
“người này có giá trị con người cao hơn người kia.”
Nó phản ánh:
một cấu trúc đời sống khác cần nhiều quy tắc hơn.
16. Tại sao cần nhiều quy định như vậy?
Hãy hình dung một cộng đồng gồm nhiều người:
sống chung;
không lập gia đình;
phụ thuộc vào cúng dường;
đại diện cho Tăng đoàn;
tiếp xúc với cư sĩ;
cùng sử dụng tài sản chung.
Nếu không có quy tắc, rất dễ xuất hiện:
tranh chấp;
lạm dụng;
quan hệ tình dục;
tích lũy;
cạnh tranh;
lợi dụng lòng tin của cư sĩ.
Vinaya vì vậy không chỉ nhằm:
“kiểm soát cá nhân.”
Nó còn bảo vệ:
cộng đồng và niềm tin giữa Tăng đoàn với xã hội.
17. Người xuất gia có được giữ tiền không?
Đây là nơi thực tế giữa các truyền thống rất khác nhau.
Trong Vinaya Theravāda, có những giới hạn nghiêm khắc liên quan đến việc nhận và sử dụng vàng bạc/tiền.
Trong thực tế hiện đại, cách xử lý:
tiền;
tài khoản;
điện thoại;
phương tiện;
tài sản chùa;
khác nhau đáng kể giữa các cộng đồng.
Một số tu viện giữ rất nghiêm mô hình truyền thống.
Một số cộng đồng sử dụng các cơ chế quản lý trung gian.
Một số nơi thích nghi nhiều hơn với xã hội hiện đại.
Do đó không nên nhìn một trường hợp thực tế rồi kết luận:
“Tất cả Phật giáo đều như vậy.”
18. Chùa có tài sản thì có mâu thuẫn với không sở hữu không?
Không nhất thiết.
Cần phân biệt:
tài sản cá nhân
với:
tài sản của cộng đồng/tổ chức Tăng đoàn.
Một tu viện cần:
đất;
phòng ở;
thiền đường;
thư viện;
nhà bếp;
điện nước;
phương tiện phục vụ cộng đồng.
Việc tồn tại tài sản chung không tự động đồng nghĩa:
một tu sĩ sở hữu tất cả như tài sản cá nhân.
Nhưng đây cũng là lĩnh vực rất dễ phát sinh:
quyền lực – tham – tranh chấp – sở hữu trá hình.
Vì vậy tinh thần không chấp thủ vẫn cực kỳ quan trọng.
19. Có phải càng nghèo càng giác ngộ?
Không.
Nếu nghèo tự động tạo giác ngộ thì mọi người nghèo đều đã giải thoát.
Phật giáo không đồng nhất:
nghèo = thánh thiện.
Xuất gia không phải cuộc thi:
ai chịu thiếu thốn nhiều hơn.
Đức Phật đã từng thực hành khổ hạnh cực đoan và từ bỏ nó.
Trung đạo không đặt giác ngộ vào:
hưởng thụ
nhưng cũng không đặt giác ngộ vào:
hành hạ bản thân.
20. Vậy “ít nhu cầu” khác “tự hành xác” thế nào?
Đơn giản
Tôi dùng đủ để tu.
Khổ hạnh cực đoan
Tôi làm cơ thể đau vì nghĩ đau tự nó sẽ thanh tịnh tôi.
Hai điều không giống nhau.
Người xuất gia lý tưởng:
ăn đủ → không sống vì ăn.
ngủ đủ → không sống vì tiện nghi.
dùng y phục → không xây bản ngã từ thời trang.
có chỗ ở → không biến sở hữu thành mục tiêu đời sống.
Đó là hướng của tri túc, không phải tôn thờ đau khổ.
21. Phật giáo sớm nhìn đời sống xuất gia thế nào?
Trong nhiều kinh Nikāya/Āgama, đời sống xuất gia được xem là môi trường đặc biệt thuận lợi cho việc:
thực hành toàn thời gian.
Mô hình thường là:
nghe Pháp → phát sinh tín → thấy đời sống gia đình nhiều ràng buộc → xuất gia → giữ giới → hộ trì các căn → chánh niệm → thiền định → trí tuệ → giải thoát.
Điều đó phản ánh vị trí rất quan trọng của Tăng đoàn trong Phật giáo sớm.
Nhưng kinh điển đồng thời ghi nhận nhiều cư sĩ có thành tựu tâm linh đáng kể.
22. Theravāda nhìn đời sống xuất gia thế nào?
Theravāda bảo tồn hệ thống Vinaya cổ và đặt Tăng đoàn vào vị trí trung tâm.
Lý tưởng bhikkhu/bhikkhunī nhấn mạnh:
thiểu dục – tri túc – giới luật – viễn ly – thiền định – trí tuệ.
Mối quan hệ truyền thống là:
cư sĩ hộ trì vật chất
↔
Tăng đoàn hộ trì và truyền dạy Dhamma.
Nhưng Theravāda hiện đại rất đa dạng.
Một vị sư rừng sống cực kỳ đơn giản và một vị tăng quản lý một cơ sở giáo dục lớn có thể cùng thuộc Theravāda nhưng hoàn cảnh thực tế rất khác nhau.
23. Đại thừa có thay đổi đời sống xuất gia không?
Đại thừa không đơn giản bãi bỏ Vinaya.
Các truyền thống Đại thừa ở nhiều khu vực tiếp tục duy trì đời sống tu viện, nhưng lịch sử phát triển khác nhau.
Đặc biệt ở Đông Á, tăng viện có thể gắn với:
học thuật;
dịch kinh;
nghi lễ;
nông nghiệp;
giáo dục;
hoạt động xã hội.
Lý tưởng Bồ-tát cũng nhấn mạnh mạnh:
lợi ích chúng sinh.
Do đó xuất gia không nhất thiết đồng nghĩa:
rời xã hội rồi không quan tâm đến xã hội.
24. Tăng sĩ Đại thừa có cùng giới luật với Theravāda không?
Không hoàn toàn.
Các truyền thống sử dụng những hệ Vinaya khác nhau.
Theravāda bảo tồn:
Pāli Vinaya.
Nhiều truyền thống Đông Á truyền thừa:
Dharmaguptaka Vinaya.
Phật giáo Tây Tạng chủ yếu sử dụng:
Mūlasarvāstivāda Vinaya.
Ngoài ra, Đại thừa còn có:
giới Bồ-tát
trong nhiều hệ thống.
Vì vậy không nên lấy chính xác số giới hoặc cách thực hành của một truyền thống áp lên tất cả Phật giáo.
25. Kim Cương thừa có tu sĩ không?
Có.
Phật giáo Tây Tạng có truyền thống xuất gia dựa trên Mūlasarvāstivāda Vinaya.
Nhưng Kim Cương thừa còn có những hành giả không nhất thiết là tu sĩ sống theo mô hình Theravāda.
Có:
tăng sĩ;
ni giới trong các hệ truyền thừa hiện nay;
yogi;
hành giả Mật thừa;
những dòng truyền thừa với cấu trúc khác nhau.
Do đó:
Vajrayāna ≠ tất cả đều là tăng sĩ
và cũng không phải:
Vajrayāna không có giới luật xuất gia.
26. Nhật Bản là một trường hợp đặc biệt
Phật giáo Nhật Bản cho thấy tại sao không thể định nghĩa toàn bộ Phật giáo bằng một mô hình xã hội duy nhất.
Qua lịch sử, đặc biệt từ thời cận đại, nhiều giáo sĩ Phật giáo Nhật:
kết hôn;
có gia đình;
quản lý chùa theo dòng gia đình.
Do đó từ tiếng Việt “sư” đôi khi che mất những khác biệt quan trọng về quy chế giới luật.
Một giáo sĩ Phật giáo Nhật đã kết hôn không nhất thiết tương đương về quy chế Vinaya với:
bhikkhu Theravāda.
Một bài viết khách quan phải phân biệt điều này thay vì tuyên bố:
“Tu sĩ Phật giáo ở đâu cũng tuyệt đối giống nhau.”
27. Đối chiếu các truyền thống
| Vấn đề | Phật giáo sớm | Theravāda | Đại thừa Đông Á | Phật giáo Tây Tạng/Kim Cương thừa |
|---|---|---|---|---|
| Đời sống không gia đình | Trung tâm | Trung tâm | Quan trọng trong truyền thống tu viện | Quan trọng trong Tăng đoàn |
| Độc thân của người thọ giới xuất gia đầy đủ | Có | Có | Theo Vinaya truyền thống: có | Theo Vinaya: có |
| Hạn chế tài sản | Có | Có | Có, cách áp dụng thay đổi | Có, cách áp dụng thay đổi |
| Cư sĩ hỗ trợ Tăng đoàn | Có | Rất quan trọng | Có | Có |
| Thiền và học Pháp | Quan trọng | Quan trọng | Quan trọng | Quan trọng |
| Bồ-tát giới | Chưa theo hệ thống Đại thừa hậu kỳ | Không phải khung giới chính | Quan trọng | Quan trọng |
| Vinaya sử dụng | Các bộ luật hình thành trong các trường phái cổ | Pāli/Theravāda Vinaya | Chủ yếu Dharmaguptaka | Mūlasarvāstivāda |
| Mọi người tu đều phải xuất gia? | Không | Không | Không | Không |
28. Xuất gia có cao hơn cư sĩ không?
Cần trả lời rất cẩn thận.
Về mức độ từ bỏ và giới luật, đời sống xuất gia đòi hỏi nhiều hơn ở nhiều phương diện.
Về địa vị trong cấu trúc Tăng đoàn, người xuất gia có vai trò khác cư sĩ.
Nhưng không thể suy ra:
“Mặc y tự động khiến một người có đạo đức hoặc trí tuệ cao hơn mọi cư sĩ.”
Một tu sĩ chưa tu tốt vẫn có thể đầy tham-sân-si.
Một cư sĩ tu tập nghiêm túc có thể có:
giới hạnh;
định;
trí tuệ;
thành tựu tâm linh đáng kể.
Chiếc y biểu thị:
một cam kết và một đời sống tu tập.
Nó không phải giấy chứng nhận:
đã giác ngộ.
29. Cư sĩ có thể giác ngộ không?
Theo kinh điển:
có những cư sĩ đạt các Thánh quả.
Đặc biệt các tầng:
Dự lưu;
Nhất lai;
Bất lai;
được ghi nhận rõ đối với cư sĩ.
Vấn đề về cư sĩ đạt A-la-hán và tiếp tục đời sống cư sĩ được xử lý khác nhau trong các truyền thống và nguồn luận giải, nên không nên đơn giản hóa thành một khẩu hiệu.
Điểm chắc chắn hơn là:
Con đường giác ngộ không bị đóng lại chỉ vì một người có gia đình.
30. Nếu cư sĩ cũng tu được, tại sao cần Tăng đoàn?
Bởi:
“có thể tu”
không đồng nghĩa:
“mọi môi trường thuận lợi như nhau.”
Một người có thể tập trung trong:
căn phòng yên tĩnh
dễ hơn giữa:
một khu chợ đông người.
Không phải khu chợ xấu.
Nhưng điều kiện khác nhau.
Tăng đoàn tạo một môi trường trong đó:
toàn bộ cấu trúc đời sống được thiết kế quanh việc tu học.
Đó là giá trị đặc biệt của xuất gia.
31. Cư sĩ có nên bắt chước toàn bộ đời sống xuất gia?
Không cần.
Một người có:
vợ/chồng;
con;
cha mẹ;
công việc;
không nên bỏ bê trách nhiệm rồi nói:
“Tôi đang buông bỏ.”
Đó có thể là:
trốn tránh trách nhiệm
chứ không phải giải thoát.
Đối với cư sĩ, tu tập có thể chính là:
kiếm sống chân chính.
chăm sóc gia đình.
giữ giới trong quan hệ.
dùng tiền có trách nhiệm.
học cách yêu mà không sở hữu.
32. Buông bỏ khác bỏ mặc
Đây là điểm rất quan trọng.
Buông bỏ là:
Làm điều cần làm nhưng không xây một cái Tôi từ sự sở hữu.
Bỏ mặc là:
Không thực hiện trách nhiệm cần thiết.
Ví dụ:
Một người cha nói:
“Con cái là vô thường, tôi không chấp nên không cần nuôi.”
Đó không phải trí tuệ Vô thường.
Đó là:
bỏ trách nhiệm.
Người cư sĩ cần tu ngay trong những quan hệ mình đã có.
33. Người xuất gia có trách nhiệm không?
Có, và rất nhiều.
Từ bỏ trách nhiệm gia đình không có nghĩa:
không còn trách nhiệm nào.
Người xuất gia nhận những trách nhiệm mới:
giữ giới;
sống đúng Vinaya;
không lợi dụng tín thí;
tu học;
giữ hòa hợp Tăng đoàn;
sử dụng tài vật cúng dường có trách nhiệm;
hướng dẫn khi đủ khả năng;
không làm tổn hại niềm tin của cộng đồng.
Do đó:
Xuất gia không phải từ bỏ trách nhiệm; đó là thay đổi loại trách nhiệm.
34. Một vị xuất gia giàu có có mâu thuẫn không?
Không thể kết luận chỉ từ hình ảnh bên ngoài.
Cần hỏi:
Tài sản đó thuộc cá nhân hay tổ chức?
Người ấy có quyền sử dụng như tài sản cá nhân không?
Giới luật của truyền thống ấy quy định thế nào?
Tài sản được sử dụng vào việc gì?
Nhưng nếu một đời sống xuất gia thực tế trở thành:
tích lũy – hưởng thụ – cạnh tranh tài sản – quyền lực
thì rõ ràng xuất hiện sự căng thẳng với lý tưởng:
thiểu dục – tri túc – ly tham.
Điều này có thể được đánh giá dựa trên chính nguyên tắc Phật giáo mà không cần công kích cá nhân.
35. Xuất gia không phải chạy trốn cuộc đời
Nếu một người xuất gia chỉ vì:
thất tình;
nợ nần;
thất nghiệp;
ghét gia đình;
muốn trốn trách nhiệm;
thì việc thay quần áo không tự động giải quyết vấn đề.
Những tâm ấy có thể:
đi theo người ấy vào tu viện.
Xuất gia theo lý tưởng Phật giáo là:
đi vào một đời sống huấn luyện nghiêm túc để đối diện tham-sân-si trực tiếp hơn.
Không phải:
chạy khỏi thế giới để khỏi phải đối diện chính mình.
36. Từ bỏ bên ngoài để thấy sự bám víu bên trong
Đây có lẽ là chức năng sâu nhất của đời sống xuất gia.
Khi giảm:
tài sản;
tình dục;
giải trí;
nghề nghiệp;
địa vị xã hội;
tiêu dùng;
người tu có ít cách hơn để:
chạy khỏi tâm mình.
Lúc ấy có thể thấy rõ hơn:
tham đang đòi gì?
sân đang chống gì?
ngã mạn đang cần ai công nhận?
cô đơn phát sinh thế nào?
cái Tôi được xây dựng ra sao?
Vì vậy sự từ bỏ bên ngoài là:
phương tiện để nghiên cứu và chuyển hóa bên trong.
37. Nhưng cuối cùng phải buông cả “người xuất gia”
Nếu mục tiêu là Vô ngã thì ngay cả:
“Tôi là tu sĩ”
cũng không thể trở thành một tự ngã vĩnh viễn.
Một người có thể bỏ:
“Tôi là doanh nhân.”
rồi chấp:
“Tôi là thiền sư.”
Bỏ:
“Tôi giàu.”
rồi chấp:
“Tôi sống khổ hạnh hơn mọi người.”
Bỏ:
“Nhà của tôi.”
rồi chấp:
“Chùa của tôi.”
Như vậy cái Tôi chỉ:
thay quần áo.
Con đường sâu hơn phải thấy cả:
ngã chấp trong chính đời sống tu hành.
38. Người cư sĩ có thể học gì từ đời sống xuất gia?
Không nhất thiết phải cạo tóc.
Có thể học nguyên tắc:
sống đơn giản hơn.
Ví dụ:
Mua vì cần, không chỉ vì muốn.
Dùng tiền nhưng không lấy tài sản làm giá trị con người.
Yêu gia đình nhưng không xem họ là vật sở hữu.
Làm việc nhưng không biến chức danh thành bản ngã.
Dành thời gian cho im lặng.
Giảm tiêu dùng không cần thiết.
Thực hành bố thí.
Như vậy tinh thần xuất ly có thể hiện diện:
ngay giữa đời sống cư sĩ.
39. Xuất ly thực sự nằm ở đâu?
Nếu chỉ nhìn bên ngoài:
nhà → chùa
quần áo thường → y
có tóc → cạo tóc
thì mới thấy một phần.
Xuất ly sâu hơn là:
tham → giảm tham.
chiếm hữu → buông chiếm hữu.
ngã mạn → giảm ngã mạn.
vô minh → trí tuệ.
Một người ở rừng nhưng cả ngày nghĩ về:
tiền – danh – quyền
thì tâm vẫn có thể đang ở giữa chợ.
Một người cư sĩ giữa thành phố nhưng biết:
giữ giới – tri túc – chánh niệm – bố thí
thì đã có yếu tố xuất ly trong tâm.
40. Vậy tại sao vẫn cần xuất gia?
Bởi con người không chỉ bị ảnh hưởng bởi:
ý chí
mà còn bởi:
môi trường.
Xuất gia xây dựng một môi trường đặc biệt:
ít sở hữu hơn.
ít quan hệ tình dục/gia đình hơn.
ít nhu cầu kiếm sống cá nhân hơn.
nhiều giới luật hơn.
nhiều thời gian tu học hơn.
sống gần những người cùng mục tiêu hơn.
Môi trường ấy không đảm bảo giác ngộ.
Nhưng:
nó được thiết kế để làm con đường tu tập trở thành trung tâm của cả đời sống.
Đó có lẽ là câu trả lời ngắn nhất cho câu hỏi:
Tại sao người xuất gia không sống như cư sĩ?
Kết luận
Người xuất gia không sống như cư sĩ không phải vì Phật giáo cho rằng gia đình, tiền bạc, nghề nghiệp hay tài sản tự thân là xấu.
Lý do căn bản hơn là:
Xuất gia là một chiến lược tu tập: chủ động đơn giản hóa đời sống bên ngoài để có điều kiện đối diện và đoạn trừ sự chấp thủ bên trong.
Người cư sĩ sống giữa:
gia đình – tài sản – nghề nghiệp – quan hệ xã hội.
Người xuất gia chủ động từ bỏ phần lớn những cấu trúc ấy và nhận một cấu trúc khác:
giới luật – phạm hạnh – thiểu dục – tri túc – tu học – thiền định – đời sống Tăng đoàn.
Nhưng:
không có tài sản ≠ hết tham.
không kết hôn ≠ hết ái.
cạo tóc ≠ hết ngã mạn.
mặc y ≠ giác ngộ.
Những điều ấy chỉ tạo:
điều kiện.
Công việc thực sự vẫn là:
đoạn tham – đoạn sân – đoạn si.
Do đó cũng không nên xây dựng một bảng giá trị đơn giản:
xuất gia = cao
cư sĩ = thấp.
Hai bên có những giới luật và trách nhiệm khác nhau.
Người cư sĩ có thể tu bằng cách:
sống có trách nhiệm giữa gia đình và xã hội.
Người xuất gia tu bằng cách:
từ bỏ nhiều cấu trúc ấy để dành toàn bộ đời sống cho con đường.
Và cuối cùng, cả hai đều gặp cùng một câu hỏi:
Ta có đang bớt tham, bớt sân, bớt si và bớt chấp “tôi” và “của tôi” hay không?
Bởi nếu một người bỏ nhà nhưng lại chấp:
“chùa của tôi”,
bỏ nghề nghiệp nhưng chấp:
“địa vị của tôi”,
bỏ thời trang nhưng chấp:
“chiếc y của tôi”,
thì sự sở hữu chỉ thay hình thức.
Xuất gia sâu nhất vì vậy không chỉ là:
rời khỏi một căn nhà.
Mà là:
rời khỏi thói quen biến mọi thứ thành “Tôi” và “của Tôi”.
Kinh điển và nguồn nên đối chiếu
Vinaya Piṭaka: nguồn nền tảng để hiểu cấu trúc đời sống, tài vật, giới luật và tổ chức của Tăng đoàn.
Dīgha Nikāya và Majjhima Nikāya: nhiều kinh trình bày mô hình “từ đời sống gia đình bước vào đời sống không gia đình” và tiến trình tu tập của người xuất gia.
DN 31 – Sigālovāda Sutta: rất quan trọng để thấy Đức Phật cũng có hệ thống đạo đức dành cho cư sĩ, gia đình và các quan hệ xã hội.
MN 26 – Ariyapariyesanā Sutta: hành trình xuất gia tìm cầu giải thoát của Gotama.
MN 36 – Mahāsaccaka Sutta: giúp phân biệt xuất ly với khổ hạnh ép xác.
Pāli Vinaya/Theravāda Vinaya: cần tham khảo khi trình bày cụ thể đời sống bhikkhu và bhikkhunī Theravāda.
Dharmaguptaka Vinaya: quan trọng khi nghiên cứu truyền thống xuất gia Đông Á.
Mūlasarvāstivāda Vinaya: quan trọng đối với truyền thống xuất gia Tây Tạng.
Các bộ giới Bồ-tát Đại thừa: cần nghiên cứu riêng thay vì đồng nhất với Vinaya của Tăng đoàn.
Lịch sử Phật giáo Nhật Bản: đặc biệt quan trọng để hiểu vì sao không phải mọi người được gọi bằng từ “sư” trong tiếng Việt đều có cùng quy chế Vinaya như bhikkhu Theravāda.