Chân đế và Tục đế – Vì sao vẫn nói “tôi” khi dạy Vô ngã?
Báo lỗi nội dung
Chân đế và Tục đế – Vì sao vẫn nói “tôi” khi dạy Vô ngã?
Chân đế và Tục đế – Vì sao vẫn nói “tôi” khi dạy Vô ngã?
Một câu hỏi rất tự nhiên xuất hiện khi học giáo lý Vô ngã:
Nếu không có một cái Ta thường hằng, tại sao Đức Phật và các vị A-la-hán vẫn nói “tôi”, “ta”, “người”, “chúng sinh”?
Nếu nói:
“Tôi đang đi.”
có phải đã thừa nhận một cái Tôi?
Nếu nói:
“Tôi thuyết pháp.”
có mâu thuẫn với Vô ngã?
Nếu nói:
“Người này tạo nghiệp và nhận quả.”
có phải Phật giáo cuối cùng vẫn phải quay lại thừa nhận một linh hồn?
Không.
Mấu chốt nằm ở việc phân biệt:
NGÔN NGỮ QUY ƯỚC
với:
SỰ CHẤP THỦ BẢN THỂ.
Ta hoàn toàn có thể sử dụng chữ:
“tôi”
như một quy ước giao tiếp mà không cho rằng bên trong năm uẩn tồn tại một:
tự ngã thường hằng, độc lập và bất biến.
Trong các hệ thống Phật giáo về sau, đặc biệt Trung quán Đại thừa, vấn đề này được phân tích rất sâu bằng:
Tục đế
và:
Chân đế.
Nhưng cần lưu ý:
học thuyết Nhị đế được các trường phái Phật giáo phát triển theo nhiều cách; không nên mặc nhiên đồng nhất toàn bộ cách trình bày Trung quán về sau với ngôn ngữ của Nikāya/Āgama.
1. Một ví dụ rất đơn giản
Ta nói:
“Mặt trời mọc lúc sáu giờ.”
Trong giao tiếp thông thường, câu ấy hoàn toàn có ích.
Không ai bắt buộc phải nói:
“Do Trái Đất tự quay nên vị trí tương đối của người quan sát khiến Mặt Trời dường như xuất hiện trên đường chân trời.”
Mỗi lần nói chuyện.
Ngôn ngữ thông thường sử dụng:
quy ước.
Quy ước có thể hữu ích mà không nhất thiết mô tả cấu trúc cuối cùng của thực tại.
Tương tự:
“Tôi đang đi.”
là một câu hoàn toàn hợp lệ.
Nó không bắt buộc phải mang nghĩa:
“Có một linh hồn bất biến tên Tôi đang điều khiển thân thể từ bên trong.”
2. “Tôi” có ít nhất hai cách sử dụng rất khác nhau
Hãy phân biệt:
Cách thứ nhất: quy ước
“Tôi đi ăn.”
“Tôi sẽ đến lúc tám giờ.”
“Tôi nhớ việc đó.”
Đây chỉ là ngôn ngữ giao tiếp.
Cách thứ hai: chấp thủ
“Có một cái Tôi thường hằng.”
“Thân này thực sự là Tôi.”
“Tâm này thuộc về một linh hồn bất biến.”
“Có một chủ thể độc lập đứng phía sau toàn bộ kinh nghiệm.”
Đây mới là vấn đề mà giáo lý Vô ngã khảo sát.
Do đó:
DÙNG ĐẠI TỪ “TÔI”
không đồng nghĩa:
CHẤP MỘT TỰ NGÃ.
3. Nếu bỏ chữ “tôi”, ngã chấp có hết không?
Không.
Một người có thể cố tình không bao giờ nói:
“Tôi.”
Thay vào đó nói:
“Năm uẩn này muốn uống nước.”
“Thân tâm này đang đi.”
“Tiến trình danh-sắc này đang giận.”
Nhưng trong lòng vẫn nghĩ:
“Tôi hiểu Vô ngã sâu hơn mọi người.”
Thì:
NGÃ MẠN
vẫn còn nguyên.
Vì vậy:
Vô ngã không phải một cuộc cải cách ngữ pháp.
Đổi đại từ không đồng nghĩa đoạn được chấp ngã.
4. Đức Phật vẫn sử dụng ngôn ngữ con người
Kinh điển đầy những cách nói như:
người;
chúng sinh;
Tỳ-kheo;
cha;
mẹ;
vua;
gia chủ;
tôi;
của tôi;
người tạo nghiệp;
người tu tập.
Nếu mọi từ chỉ người đều bị cấm vì Vô ngã, gần như:
không thể giảng Pháp.
Muốn nói:
“Đừng sát sinh”
ta cần có cách nói về:
người hành động
và:
chúng sinh bị hại.
Muốn nói về nghiệp, cần có thể nói:
“Hành động này đưa đến quả như thế này.”
Do đó ngôn ngữ quy ước không phải kẻ thù của Vô ngã.
5. Vậy “Tục đế” là gì?
Sanskrit thường dùng:
saṃvṛti-satya
và được dịch theo những cách như:
tục đế;
chân lý quy ước;
sự thật quy ước.
Ở cấp này, ta nói:
có người;
có xe;
có nhà;
có núi;
có người tu;
có nghiệp;
có thiện và bất thiện;
có sinh và chết.
Những điều này:
KHÔNG VÔ NGHĨA.
Chúng hoạt động trong mạng lưới:
nhân – duyên – quan hệ – quy ước.
6. Tục đế không có nghĩa “lời nói dối”
Đây là một hiểu lầm rất quan trọng.
“Tục” dễ khiến người đọc tưởng:
giả, không thật, muốn nói sao cũng được.
Không phải vậy.
Ở cấp quy ước:
lửa đốt được.
thuốc có thể chữa bệnh.
chất độc có thể gây hại.
nói dối có hậu quả.
hành động ảnh hưởng người khác.
Do đó:
TỤC ĐẾ KHÔNG PHẢI HƯ CẤU TÙY TIỆN.
Có những quy ước:
hoạt động và đáng tin cậy.
Và cũng có những nhận định:
sai ngay ở cấp quy ước.
7. Ví dụ: chiếc xe
Ta nói:
“Chiếc xe đang chạy.”
Đúng theo quy ước.
Nhưng phân tích chiếc xe:
bánh;
động cơ;
khung;
ghế;
hệ thống điện;
hàng nghìn linh kiện.
Ta không tìm thấy:
một thực thể “XE” độc lập với tất cả bộ phận và quan hệ ấy.
Nhưng từ đó không thể kết luận:
“Không có xe, vậy tôi có thể đứng giữa đường cao tốc.”
Chiếc xe:
CÓ THEO QUY ƯỚC,
nhưng không cần:
CÓ MỘT TỰ THỂ ĐỘC LẬP.
8. Con người cũng vậy
Ta nói:
“An đang ngồi thiền.”
Ở cấp quy ước:
ĐÚNG.
Nhưng khi phân tích:
An là gì?
Ta gặp:
thân;
cảm thọ;
nhận thức;
các tâm hành;
thức;
ký ức;
quan hệ;
lịch sử;
vô số điều kiện sinh học và tâm lý.
Theo phân tích năm uẩn:
sắc – thọ – tưởng – hành – thức.
Không tìm thấy một:
“An tuyệt đối”
độc lập với tất cả các yếu tố ấy.
Do đó:
CÓ NGƯỜI THEO QUY ƯỚC
không đòi hỏi:
CÓ TỰ NGÃ THEO NGHĨA TỐI HẬU.
9. Đây là nơi “Chân đế” xuất hiện
Trong các hệ thống Nhị đế, đặc biệt Trung quán, Chân đế – paramārtha-satya liên quan đến việc khảo sát thực tại không theo sự gán đặt tự tính thông thường.
Khi phân tích đến cùng:
không tìm thấy một pháp nào tồn tại bằng svabhāva – tự tính độc lập.
Con người:
Không về tự tính.
Năm uẩn:
Không về tự tính.
Các pháp:
Không về tự tính.
Đó là chiều sâu của:
TÁNH KHÔNG.
10. Nhưng Chân đế không phải một thế giới thứ hai
Đây là điểm cực kỳ quan trọng.
Đừng tưởng:
Tầng dưới
thế giới Tục đế.
Tầng trên
một vũ trụ Chân đế bí mật.
Rồi người giác ngộ:
rời tầng dưới để bước vào tầng trên.
Không phải vậy.
Cùng một người:
“An”
được nói đến theo quy ước.
Khi phân tích:
An không có tự tính độc lập.
Không cần hai người.
Không cần hai vũ trụ.
11. Ví dụ với cầu vồng
Ta nhìn thấy:
CẦU VỒNG.
Ta có thể:
chỉ nó;
chụp ảnh;
nói nó ở hướng nào;
phân tích quang học.
Theo quy ước:
cầu vồng xuất hiện.
Nhưng nếu chạy tới để tìm:
“vật thể cầu vồng tự hữu”
ta không tìm được.
Nó phụ thuộc:
ánh sáng;
giọt nước;
góc quan sát;
vị trí người nhìn.
Nó:
HIỆN HỮU PHỤ THUỘC.
Đây là hình ảnh tương đối dễ hiểu cho:
có nhưng không tự hữu.
12. “Tôi” cũng có thể hiểu như vậy
“Tôi” tồn tại phụ thuộc:
thân;
tâm;
ký ức;
năm uẩn;
nhân duyên;
lịch sử;
quan hệ;
quy ước đặt tên.
Do đó:
“Tôi” có chức năng theo quy ước.
Nhưng nếu tìm:
một cái Tôi độc lập với tất cả những thứ ấy
thì không tìm thấy.
Đây là cách:
TỤC ĐẾ
và:
VÔ NGÃ
có thể cùng đúng.
13. Vậy tại sao vẫn nói “tôi”?
Bởi vì ngôn ngữ cần quy ước.
Thay vì nói:
“Một cấu trúc tạm thời gồm năm uẩn đang yêu cầu một cấu trúc năm uẩn khác chuyển cốc nước,”
ta chỉ cần nói:
“Cho tôi cốc nước.”
Không có gì sai.
Sai lầm chỉ bắt đầu khi tâm biến:
ký hiệu giao tiếp
thành:
bằng chứng cho một bản thể thường hằng.
14. Có thể nói “Đức Phật giác ngộ” không?
Có.
Đây là một câu hoàn toàn đúng theo ngôn ngữ quy ước.
Tương tự:
“Sāriputta là A-la-hán.”
“Người này giữ giới.”
“Người kia tạo nghiệp bất thiện.”
“Bồ-tát phát Bồ-đề tâm.”
Không cần mỗi lần đều thêm:
“Xin lưu ý đây chỉ là một quy ước về tập hợp duyên sinh.”
Người hiểu Vô ngã có thể sử dụng ngôn ngữ bình thường.
15. Nếu không có “tôi” tối hậu, ai chịu trách nhiệm?
Đây là nơi Duyên khởi trở lại.
Trách nhiệm không cần một:
linh hồn bất biến.
Nó cần:
LIÊN TỤC NHÂN QUẢ.
Ví dụ:
Hôm qua:
một người vay tiền.
Hôm nay:
người ấy vẫn phải trả.
Không thể nói:
“Các tế bào của tôi đã thay đổi nên người vay hôm qua không còn tồn tại.”
Quy ước “người” đủ để tổ chức:
trách nhiệm;
pháp luật;
đạo đức;
nghiệp.
Và ở chiều sâu:
dòng nhân quả vẫn tiếp tục.
16. Vô ngã không phá nghiệp
Có thể minh họa:
Ý ĐỊNH
↓
HÀNH ĐỘNG
↓
TẠO ĐIỀU KIỆN
↓
QUẢ.
Không cần chen vào giữa:
LINH HỒN
để nhân quả hoạt động.
Do đó:
VÔ NGÃ
không dẫn đến:
VÔ TRÁCH NHIỆM.
Ngược lại, Duyên khởi bảo vệ tính có ý nghĩa của hành động.
17. Hai sự thật có mâu thuẫn không?
Không nhất thiết.
Ví dụ:
Tục đế
“Người này đang đau.”
Phân tích sâu
“Không tìm thấy một tự ngã độc lập trong năm uẩn.”
Hai điều có thể cùng đúng.
Vì vậy không thể nói:
“Người là Không nên đau cũng giả.”
Nếu người ấy đang đau:
hãy giúp họ.
Tánh Không không làm đau đớn mất ý nghĩa đạo đức.
18. Đây là lý do Tánh Không đi cùng Từ bi
Nếu hiểu sai Chân đế:
“Không có chúng sinh.”
↓
“Không có ai đau.”
↓
“Không cần cứu ai.”
thì đã rơi vào hư vô luận.
Trong Bồ-tát đạo:
TRÍ TUỆ
thấy:
chúng sinh Không về tự tính.
Nhưng:
ĐẠI BI
thấy:
chúng sinh vẫn đang kinh nghiệm khổ trong mạng lưới Duyên khởi.
Do đó:
KHÔNG
không phá:
BI.
Hai điều hỗ trợ nhau.
19. Bồ-tát cứu chúng sinh mà không chấp chúng sinh
Đây là một trong những nghịch lý nổi tiếng của văn học Bát-nhã.
Bồ-tát phát nguyện lợi ích vô lượng chúng sinh.
Nhưng đồng thời không chấp:
“có những thực thể chúng sinh tự hữu mà một thực thể Bồ-tát tự hữu đang cứu.”
Nói đơn giản:
Ở bình diện hành động
cứu người đang khổ.
Ở bình diện trí tuệ
không biến người cứu, người được cứu và hành động cứu thành những thực thể tự hữu.
Do đó:
TỪ BI
và:
TÁNH KHÔNG
không đối nghịch.
20. Chân đế có “cao hơn” đến mức Tục đế vô dụng không?
Không.
Nếu không có ngôn ngữ quy ước:
không thể dạy Chân đế.
Ta phải sử dụng:
chữ;
câu;
khái niệm;
ví dụ;
“tôi”;
“bạn”;
“Duyên khởi”;
“Tánh Không”;
để chỉ tới điều cần thấy.
Vì vậy trong Trung quán, quan hệ giữa hai chân lý cực kỳ quan trọng:
không dựa vào quy ước thì không thể trình bày ý nghĩa tối hậu.
Và không thấu hiểu ý nghĩa tối hậu thì không đạt giải thoát theo cách hệ thống ấy diễn giải.
21. Ngay cả “Chân đế” cũng không được biến thành một thực thể
Đây là một lỗi tinh tế.
Người học có thể nghĩ:
“Tục đế là thế giới giả.”
“Phía sau nó có một Thực tại Tuyệt đối gọi là Chân đế.”
Rồi biến:
CHÂN ĐẾ
thành một:
BẢN THỂ VŨ TRỤ.
Trung quán không nhằm dựng lên một thực thể mới như vậy.
Nếu:
Tánh Không
bị biến thành một thứ tự tồn tuyệt đối,
thì người học lại đang:
chấp tự tính vào chính Tánh Không.
22. “Tánh Không cũng Không” nghĩa là gì?
Nó có nghĩa:
Tánh Không không phải một vật độc lập.
Tánh Không của cái bàn không phải một chất bí mật nằm trong bàn.
Nó chỉ ra:
cái bàn không có tự tính độc lập.
Nếu không có pháp nào được phân tích:
cũng không có một “khối Tánh Không” riêng biệt đứng bên ngoài các pháp.
Do đó:
ĐỪNG CHẤP CÓ.
Nhưng cũng:
ĐỪNG CHẤP KHÔNG.
23. Đây chính là Trung đạo của Trung quán
Một phía:
THƯỜNG KIẾN / TỰ HỮU
“Các pháp tồn tại từ chính phía chúng.”
Phía kia:
HƯ VÔ
“Không có gì cả.”
Trung quán:
các pháp hiện hữu theo Duyên khởi và quy ước, nhưng không có tự tính độc lập.
Có thể cô đọng:
CÓ
nhưng:
KHÔNG TỰ HỮU.
Đây là điểm rất quan trọng để hiểu Nhị đế.
24. Kinh điển sớm có Chân đế – Tục đế không?
Cần trả lời thận trọng.
Không nên nói:
“Nikāya/Āgama đã trình bày đầy đủ học thuyết Nhị đế của Nāgārjuna.”
Đó là chiếu hệ thống về sau ngược vào văn bản sớm.
Nhưng kinh điển sớm đã có những yếu tố rất quan trọng liên quan tới vấn đề:
sử dụng ngôn ngữ thông thường về “người”;
đồng thời dạy năm uẩn vô ngã;
sử dụng quy ước giao tiếp;
phân biệt cái thấy sai với cái thấy đúng;
giải thích thực tại bằng Duyên khởi.
Do đó có:
nền tảng vấn đề
nhưng chưa nên đồng nhất với:
toàn bộ cấu trúc Nhị đế của Trung quán.
25. Theravāda thì sao?
Theravāda về sau phát triển những phân biệt giữa:
cách nói quy ước;
cách phân tích các pháp;
và thường dùng các phạm trù như:
sammuti-sacca
và:
paramattha-sacca
trong hệ thống chú giải/Abhidhamma.
Nhưng cần thận trọng:
“chân đế/tục đế” trong Theravāda không hoàn toàn đồng nghĩa với mô hình hai chân lý của Madhyamaka.
Cùng sử dụng ngôn ngữ “quy ước/tối hậu” không có nghĩa:
hai hệ thống triết học giống hệt nhau.
26. Một khác biệt rất quan trọng
Trong một số cách trình bày Theravāda Abhidhamma:
“người”, “xe”, “nhà” là các khái niệm quy ước,
trong khi phân tích tối hậu nói tới các pháp như:
tâm;
tâm sở;
sắc;
Niết-bàn.
Nhưng Trung quán đi thêm một bước rất quan trọng:
ngay cả các pháp được dùng trong phân tích cũng không có svabhāva độc lập.
Vì vậy không thể đơn giản viết:
Theravāda Chân đế = Madhyamaka Chân đế.
Đây là hai hệ thống phân tích có những điểm giao nhưng cũng có khác biệt triết học đáng kể.
27. Đại thừa và Nhị đế
Trong Madhyamaka, hai chân lý trở thành một công cụ triết học trung tâm.
Tục đế
Các pháp vận hành:
nhân quả;
ngôn ngữ;
đạo đức;
con đường;
chúng sinh;
Bồ-tát.
Chân đế
Các pháp:
Không về tự tính.
Nhưng hai điều không phải hai thực tại tách biệt.
Chính:
cái đang tồn tại theo quy ước
là:
cái Không về tự tính.
28. Kim Cương thừa thì sao?
Kim Cương thừa kế thừa nền tảng Nhị đế và Tánh Không của Đại thừa, dù cách diễn giải khác nhau giữa các hệ thống.
Một nguyên tắc quan trọng vẫn là:
không được lấy kinh nghiệm thiền, quang minh hay bản tính tâm để dựng thành một cái Ngã thường hằng.
Các thực hành Tantra vẫn phải được đặt trên nền:
Duyên khởi
Tánh Không
Bồ-đề tâm.
Do đó ở cấp quy ước:
có hành giả;
có bổn tôn;
có nghi quỹ;
có tu tập.
Nhưng trí tuệ không chấp chúng như:
những thực thể tự hữu.
29. Đối chiếu bốn truyền thống
| Vấn đề | Phật giáo sớm | Theravāda | Đại thừa/Trung quán | Kim Cương thừa |
|---|---|---|---|---|
| Dùng “tôi”, “người”? | Có | Có | Có | Có |
| Dùng “tôi” = chấp ngã? | Không | Không | Không | Không |
| Vô ngã | Trung tâm | Trung tâm | Trung tâm | Trung tâm |
| Phân biệt quy ước/phân tích sâu | Có nền tảng | Hệ thống hóa rõ trong truyền thống luận giải | Phát triển thành Nhị đế rất sâu | Kế thừa Đại thừa |
| Tục đế = nói dối? | Không nên hiểu vậy | Không | Không | Không |
| Chân đế = thế giới khác? | Không nên áp khái niệm ấy | Không | Không | Không |
| Các pháp có tự tính? | Không nên áp nguyên hệ svabhāva Trung quán vào kinh sớm | Cách phân tích riêng | Không trong Madhyamaka | Theo nền Đại thừa |
| Nhân quả còn giá trị? | Có | Có | Có | Có |
30. Ba lỗi rất thường gặp
Lỗi 1: “Vô ngã nên không được nói tôi”
Sai.
Đại từ là:
quy ước ngôn ngữ.
Ngã chấp là:
cấu trúc nhận thức và chấp thủ.
Hai thứ không đồng nhất.
Lỗi 2: “Tục đế là giả, nên không quan trọng”
Sai.
Ở Tục đế:
thuốc chữa bệnh;
dao có thể gây thương tích;
hành động có hậu quả;
giới có ý nghĩa;
người đau cần được giúp.
Phủ nhận Tục đế có thể biến Tánh Không thành hư vô luận.
Lỗi 3: “Chân đế là một Thực tại tuyệt đối phía sau thế giới”
Không phải cách hiểu thích hợp của Trung quán.
Nếu dựng một:
Thực thể Chân đế tự hữu
thì ta vừa tái tạo:
SVABHĀVA
ở cấp độ cao hơn.
31. Một sơ đồ rất đơn giản
Ta bắt đầu:
“TÔI ĐANG ĐAU.”
Ở:
TỤC ĐẾ
Câu này có ý nghĩa.
↓
Cần:
chữa bệnh
chăm sóc
từ bi.
Nhưng phân tích:
“Tôi” là gì?
↓
SẮC
THỌ
TƯỞNG
HÀNH
THỨC
↓
không tìm thấy:
MỘT TỰ NGÃ ĐỘC LẬP.
↓
VÔ NGÃ.
Tiếp tục phân tích:
năm uẩn có tự tính không?
↓
chúng:
DUYÊN SINH
↓
không tự hữu
↓
TÁNH KHÔNG.
Nhưng sau tất cả:
cơn đau vẫn cần được chăm sóc.
Đây là lý do trí tuệ về Không không phá:
TỪ BI.
32. Vậy một A-la-hán có thể nói “tôi” không?
Có.
Một vị đã đoạn chấp ngã không nhất thiết mất khả năng:
nhận biết tên mình;
sử dụng đại từ;
nhận ra người khác;
nhớ quá khứ;
nói về hành động.
Điều chấm dứt không phải:
ngữ pháp.
Điều chấm dứt là:
sự chấp thủ vào năm uẩn như “Ta” và “của Ta”.
Do đó:
“TÔI”
có thể còn trong:
NGÔN NGỮ
mà không còn được chấp thành:
TỰ NGÃ.
33. Đây cũng giải thích câu “ai giác ngộ?”
Ở bài trước, câu trả lời là:
Theo quy ước
Người ấy giác ngộ.
Khi phân tích
Không có:
một linh hồn bất biến
được biến từ:
“linh hồn vô minh”
thành:
“linh hồn giác ngộ.”
Có:
Duyên khởi
↓
tu tập
↓
Giới – Định – Tuệ
↓
vô minh đoạn
↓
ái đoạn
↓
thủ đoạn
↓
GIẢI THOÁT.
Hai cách nói không mâu thuẫn.
34. Điểm sâu nhất: quy ước không phải kẻ thù của giác ngộ
Ta cần:
ngôn ngữ
để học Pháp.
Ta cần:
khái niệm
để hiểu con đường.
Ta cần nói:
“Tôi sẽ giữ giới.”
“Tôi cần quan sát sân.”
“Tôi đang chấp.”
Những câu ấy có thể trở thành:
PHƯƠNG TIỆN.
Vấn đề không phải sử dụng quy ước.
Vấn đề là:
quên rằng đó là quy ước rồi biến nó thành bản thể.
35. Một nghịch lý rất đẹp
Ban đầu người học nói:
“Tôi muốn hiểu Vô ngã.”
Sau đó:
“Tôi đang quán năm uẩn.”
Rồi trí tuệ thấy:
không uẩn nào là Tôi.
Cuối cùng người ấy vẫn có thể nói:
“Tôi đi ăn.”
Nhưng chữ:
“TÔI”
không còn nhất thiết mang trọng lượng siêu hình:
“đây là một linh hồn bất biến.”
Nó chỉ làm công việc của một:
ĐẠI TỪ.
Kết luận
Câu hỏi:
“NẾU VÔ NGÃ, TẠI SAO VẪN NÓI ‘TÔI’?”
có thể trả lời rất ngắn:
Vì “tôi” có thể là một quy ước ngôn ngữ mà không phải một tự ngã thường hằng.
Theo ngôn ngữ thông thường:
tôi ăn;
tôi đi;
tôi tu;
người này tạo nghiệp;
người kia giác ngộ.
Những câu ấy vẫn có ý nghĩa.
Nhưng khi phân tích:
không tìm thấy một tự ngã độc lập, bất biến và hoàn toàn làm chủ trong năm uẩn.
Trong Trung quán, phân tích còn đi xa hơn:
ngay chính các pháp cấu thành kinh nghiệm cũng không có tự tính độc lập.
Do đó:
TỤC ĐẾ
không có nghĩa:
hư cấu vô nghĩa.
Và:
CHÂN ĐẾ
không có nghĩa:
một thế giới bí mật nằm phía sau thế giới này.
Đúng hơn:
cùng một thực tại duyên sinh có thể được nói đến bằng quy ước, trong khi trí tuệ thấy rằng những gì được quy ước ấy không có tự tính độc lập.
Vì vậy:
CÓ “TÔI” TRONG NGÔN NGỮ
không bắt buộc:
CÓ “TỰ NGÔ TRONG THỰC TẠI.
Và:
VÔ NGÃ
không yêu cầu:
xóa chữ “tôi”.
Nó yêu cầu:
thấy đúng và buông sự chấp thủ vào “Ta” và “của Ta”.
Có thể cô đọng toàn bộ bài bằng một câu:
Người giác ngộ không cần ngừng nói “tôi”; điều cần chấm dứt không phải đại từ “tôi”, mà là vô minh biến quy ước “tôi” thành một tự ngã thường hằng để bám giữ.