Hai sự thật có phải hai thế giới khác nhau?
Báo lỗi nội dung
Hai sự thật có phải hai thế giới khác nhau?
Hai sự thật có phải hai thế giới khác nhau?
Trả lời ngắn: Không.
Trong Phật giáo Đại thừa, đặc biệt trong các hệ thống Trung quán, Hai sự thật thường được nói đến là:
Tục đế – sự thật quy ước;
Chân đế – sự thật tối hậu.
Nhưng không nên hình dung:
Tục đế = thế giới chúng ta đang sống
và:
Chân đế = một thế giới siêu hình khác nằm phía sau hoặc phía trên thế giới này.
Cũng không phải:
Tục đế là giả hoàn toàn, còn Chân đế mới là một “thực tại thật” bí mật.
Đúng hơn, hai sự thật giúp ta nhìn cùng những pháp ấy ở những bình diện phân tích khác nhau.
Một chiếc xe:
có thể tồn tại và hoạt động theo quy ước.
Nhưng khi tìm kiếm một:
“bản chất xe” tự tồn tại, độc lập với bộ phận, nguyên nhân, điều kiện và quy ước
thì không tìm thấy.
Do đó:
TỤC ĐẾ
Xe có.
CHÂN ĐẾ
Xe Không tự tính.
Hai câu này:
không nhất thiết mâu thuẫn.
1. Vì sao cần nói đến “hai sự thật”?
Nếu chỉ nói:
“Mọi thứ đều có.”
ta rất dễ rơi vào:
chấp các pháp như những thực thể tự tồn tại.
Nhưng nếu chỉ nói:
“Mọi thứ đều Không.”
ta lại dễ rơi vào:
hư vô luận.
Hai sự thật giúp tránh cả hai cực đoan.
Có thể tạm viết:
TỤC ĐẾ
Các pháp:
vận hành.
CHÂN ĐẾ
Các pháp:
Không tự tính.
Và hai điều này cùng đúng khi hiểu đúng phạm vi.
2. Ví dụ đơn giản: một cái bàn
Ta nói:
“Đây là cái bàn.”
Điều đó có sai không?
Không.
Bạn có thể:
đặt máy tính lên;
di chuyển nó;
mua nó;
bán nó;
sửa nó.
Ở bình diện thông thường:
cái bàn tồn tại và có chức năng.
Đó là bình diện quy ước.
3. Nhưng hãy tìm “cái bàn tự nó”
Ta tháo:
mặt bàn;
chân bàn;
ốc;
thanh đỡ.
Rồi hỏi:
“Phần nào chính là cái bàn độc lập?”
Mặt bàn?
Không phải toàn bộ bàn.
Chân bàn?
Không.
Tất cả bộ phận cộng lại?
Chúng chỉ trở thành “cái bàn” trong một cấu trúc, chức năng và quy ước nhất định.
Ta không tìm thấy một:
“bản chất bàn”
tồn tại độc lập với:
bộ phận;
nguyên nhân;
vật liệu;
người chế tạo;
chức năng;
quan hệ;
khái niệm và tên gọi.
Đó là cửa ngõ vào:
tính Không.
4. Vậy cái bàn có hay không?
Nếu nói:
“Cái bàn hoàn toàn không tồn tại.”
thì không đúng ở bình diện quy ước.
Nếu nói:
“Cái bàn tồn tại bằng chính nó, độc lập với mọi điều kiện.”
cũng không đúng theo phân tích tính Không.
Do đó:
Có theo quy ước.
Nhưng:
Không có tự tính độc lập.
Đây là một trong những chìa khóa quan trọng nhất để hiểu Hai sự thật.
5. Không phải hai cái bàn
Không phải:
Thế giới thứ nhất
có:
cái bàn quy ước.
Và ở một chiều không gian khác:
Thế giới thứ hai
có:
“cái bàn tối hậu”.
Không.
Chính:
cái bàn này
được khảo sát theo hai cách.
Ở bình diện quy ước:
nó là cái bàn.
Khi phân tích tự tính:
không tìm thấy một thực thể bàn tự hữu.
Do đó:
HAI SỰ THẬT
không nhất thiết có nghĩa:
HAI THẾ GIỚI.
6. Một con người cũng vậy
Ở Tục đế:
“Tôi đang đọc bài này.”
Câu đó hoàn toàn có chức năng.
Có:
người học;
người dạy;
hành động;
trách nhiệm;
ký ức;
quan hệ;
nghiệp.
Nhưng khi hỏi:
“Cái Tôi độc lập, bất biến và hoàn toàn làm chủ nằm ở đâu?”
Ta khảo sát:
Sắc
Thọ
Tưởng
Hành
Thức
và không tìm thấy một:
tự ngã thường hằng
đứng độc lập phía sau.
7. Vậy “Tôi” có hay không?
Không nên rơi vào hai cực đoan.
Cực đoan thứ nhất
“Có một cái Tôi thường hằng.”
Đây là chấp ngã.
Cực đoan thứ hai
“Hoàn toàn không có con người nào cả.”
Điều này dễ trượt sang hư vô luận.
Có thể nói theo cách phân biệt hai bình diện:
Có con người theo quy ước.
Nhưng:
không tìm thấy một tự ngã độc lập có tự tính.
8. Tục đế không phải “lời nói dối”
Chữ “tục” dễ làm người đọc nghĩ:
“Tục đế chỉ là giả.”
Nhưng nếu hiểu như vậy sẽ gặp rất nhiều vấn đề.
Ví dụ:
“Lửa đốt cháy.”
Đây là quy ước.
Nhưng:
vẫn đúng trong thế giới kinh nghiệm.
“Uống chất độc có thể gây hại.”
Quy ước.
Nhưng:
vẫn có hậu quả.
“Giết người gây đau khổ.”
Quy ước.
Nhưng:
không vì thế mà vô nghĩa.
Tục đế là bình diện mà:
ngôn ngữ, nhân quả và đời sống vận hành.
9. Chân đế cũng không phải một “thực thể tối cao”
Đây là cực đoan ngược lại.
Người ta có thể nghĩ:
“Thế giới thông thường chỉ là bề mặt.”
Và phía sau nó có:
một Thực tại tuyệt đối tên là Chân đế.
Rồi Chân đế trở thành:
một bản thể;
một chất nền vũ trụ;
một Đại Ngã;
một cái Một tuyệt đối.
Nhưng trong Trung quán:
chính việc biến Chân đế thành một thực thể tự hữu lại là một hình thức chấp.
10. Chân đế cho thấy điều gì?
Trong cách trình bày Trung quán, khi khảo sát các pháp đến mức tìm:
tự tính – svabhāva,
ta không tìm được một bản chất:
độc lập;
tự hữu;
bất biến;
tồn tại từ phía chính nó.
Đó là:
TÍNH KHÔNG.
Vì vậy Chân đế không nhất thiết là:
một vật khác.
Nó liên quan đến:
tính Không tự tính của chính những pháp đang xuất hiện theo quy ước.
11. Duyên khởi nối hai sự thật
Đây là điểm trung tâm.
Một pháp:
có do duyên.
Ví dụ:
hạt
đất
nước
ánh sáng
nhiệt độ
↓
cây.
Ở Tục đế:
cây sinh trưởng.
Nhưng vì cây:
phụ thuộc điều kiện,
nên nó:
không có một tự tính độc lập.
Đó là bình diện tính Không.
Vì vậy:
DUYÊN KHỞI
là chiếc cầu giúp hiểu:
TỤC ĐẾ ↔ CHÂN ĐẾ.
12. Một công thức rất quan trọng
Có thể ghi nhớ:
TỤC ĐẾ
CÓ DO DUYÊN.
CHÂN ĐẾ
KHÔNG TỰ TÍNH.
Hai câu không phá nhau.
Ngược lại:
chính vì có do duyên nên Không tự tính.
Và:
chính vì Không có tự tính bất biến nên các pháp mới có thể vận hành theo Duyên khởi.
13. Nếu các pháp có tự tính thì điều gì xảy ra?
Giả sử một hạt giống có một:
tự tính cây hoàn toàn cố định.
Nó phải là cây:
bất kể điều kiện.
Không cần:
đất;
nước;
ánh sáng.
Nhưng thực tế:
không phải vậy.
Hoặc giả sử sân có:
tự tính bất biến.
Một người sân:
phải sân mãi mãi.
Không thể:
tu tập.
Không thể:
chuyển hóa.
Nhưng vì sân:
do duyên sinh
nên:
có thể đoạn.
Đây là ý nghĩa thực hành rất lớn của tính Không.
14. Tính Không không phá Tục đế
Ngược lại:
Tính Không bảo vệ khả năng Duyên khởi vận hành.
Nếu các pháp là:
độc lập;
bất biến;
tự hữu,
thì:
chúng không thể tương tác và thay đổi.
Do đó:
KHÔNG TỰ TÍNH
không có nghĩa:
không có chức năng.
Mà chính vì không cố định:
chuyển hóa mới có thể xảy ra.
15. Nếu mọi thứ là quy ước thì thiện ác cũng chỉ là giả?
Không.
Đây là một trong những sai lầm nguy hiểm nhất khi học Hai sự thật.
Có người lập luận:
“Thiện và ác chỉ thuộc Tục đế.”
↓
“Tục đế không phải tối hậu.”
↓
“Vậy thiện ác không quan trọng.”
Sai.
Ở bình diện Duyên khởi:
tham
↓
có hậu quả.
sân
↓
có hậu quả.
bạo lực
↓
có hậu quả.
từ bi
↓
có hậu quả.
giữ giới
↓
có hậu quả.
thiền
↓
có hậu quả.
Chính trong thế giới quy ước này:
Khổ xảy ra và con đường được tu tập.
16. “Không” không xóa nghiệp
Nếu một người nói:
“Không có người thật, nên tôi làm gì cũng được,”
đó không phải trí tuệ tính Không.
Đó là:
phủ nhận nhân quả.
Một hành động không cần một:
linh hồn thường hằng
để tạo ra hệ quả.
Duyên khởi đủ để giải thích:
hành động → điều kiện → kết quả.
17. Ví dụ: cơn giận
Ở Tục đế:
“Tôi đang giận.”
Câu này hữu ích.
Ta nhận biết:
có sân.
Ta cần:
không hành động gây hại.
Nhưng ở phân tích sâu:
Cơn sân phụ thuộc:
xúc;
thọ;
ký ức;
nhận định;
tập khí;
tình trạng cơ thể;
hoàn cảnh.
Do đó:
sân không có tự tính cố định.
Điều này không phủ nhận sân.
Nó mở ra khả năng:
chuyển hóa sân.
18. Hai sự thật không phải hai thời điểm
Cũng không nên hiểu:
trước khi giác ngộ sống trong Tục đế;
sau khi giác ngộ chuyển sang sống trong Chân đế.
Như thể giác ngộ là:
rời thế giới A để sang thế giới B.
Người giác ngộ vẫn:
đi;
đứng;
ăn;
nói;
giao tiếp;
sử dụng ngôn ngữ quy ước.
Điều thay đổi sâu sắc là:
không còn chấp những quy ước ấy như những thực thể có tự tính.
19. Một vị giác ngộ vẫn nói “tôi”
Đây là ví dụ rất rõ.
Có thể vẫn nói:
“Tôi sẽ đi.”
“Đưa cho tôi vật đó.”
“Người này đang bệnh.”
Ngôn ngữ quy ước:
vẫn hoạt động.
Không cần sửa thành:
“Tổ hợp năm uẩn này sẽ di chuyển đến tọa độ kia.”
Đó không phải mục tiêu của Vô ngã.
Điều cần đoạn là:
chấp ngã
chứ không phải:
đại từ nhân xưng.
20. Hai sự thật không phải “cái thấy sai” và “cái thấy đúng” theo nghĩa đơn giản
Tục đế không đơn giản là:
sai.
Nếu nói:
“Trên bàn có một cốc nước,”
và thực sự có cốc nước,
thì câu đó:
đúng theo quy ước.
Sai lầm xảy ra khi từ:
“có cốc nước”
ta suy ra:
“cốc nước có một bản chất tự hữu, độc lập với mọi điều kiện.”
Hai sự thật giúp phân biệt hai tầng khẳng định ấy.
21. Nhưng quy ước cũng có đúng và sai
Không phải bất kỳ quy ước nào cũng đúng.
Ví dụ:
Trên bàn có cốc nước.
Một người nói:
“Có cốc nước.”
Có thể đúng.
Người khác nói:
“Có một con voi trên bàn.”
Có thể sai.
Do đó:
Tục đế không có nghĩa mọi quan điểm đều đúng như nhau.
Thế giới quy ước vẫn có:
bằng chứng;
chức năng;
quan hệ nhân quả;
đúng sai trong phạm vi của nó.
22. Chân đế có thể diễn đạt hoàn toàn bằng khái niệm không?
Đây là một vấn đề tinh tế và các truyền thống giải thích khác nhau.
Ở mức học:
chúng ta dùng khái niệm để nói về tính Không.
Ví dụ:
“Các pháp Không tự tính.”
Nhưng mục tiêu tu tập không chỉ là:
thuộc lòng câu ấy.
Bởi chính khái niệm:
“tính Không”
cũng có thể trở thành đối tượng của chấp thủ.
Trí tuệ phải đi từ:
hiểu bằng khái niệm
đến:
cái thấy phá chấp.
23. Ngay cả Chân đế cũng không nên bị chấp
Đây là một điểm đặc biệt sâu của Trung quán.
Nếu ta nghĩ:
“Tục đế là Không, nhưng Chân đế thì tồn tại tuyệt đối,”
ta đã tạo ra:
một tự tính mới cho Chân đế.
Vì vậy:
Tính Không cũng Không.
Không có một:
“Tính Không tự hữu”
đứng phía sau tất cả sự vật.
Nếu không, “Không” lại trở thành:
một bản thể siêu hình.
24. Ví dụ sóng và nước có dùng được không?
Người ta thường nói:
“Tục đế là sóng, Chân đế là nước.”
Ẩn dụ này có thể hữu ích trong một số hệ thống và ngữ cảnh.
Nhưng nếu dùng cho Trung quán, phải thận trọng.
Nó dễ khiến người đọc tưởng:
các hiện tượng chỉ là bề mặt,
còn phía dưới có:
một chất nền tuyệt đối tên là Chân đế.
Đó không phải điều mà tính Không của Trung quán buộc ta phải chấp nhận.
Vì vậy với Trung quán, hình ảnh:
“cùng một pháp: có do duyên nhưng Không tự tính”
thường an toàn hơn.
25. Hai sự thật và Niết-bàn
Người ta có thể nghĩ:
Luân hồi = Tục đế.
Niết-bàn = Chân đế.
Rồi biến chúng thành:
hai thế giới.
Cách hiểu đó quá đơn giản.
Trong Trung quán:
ngay cả sự phân biệt luân hồi và Niết-bàn cũng không nên bị chấp thành hai thực thể có tự tính độc lập.
Điều này không có nghĩa:
luân hồi và giải thoát chẳng khác gì nhau nên không cần tu.
Ở bình diện quy ước:
vô minh và giác ngộ có sự khác biệt quyết định.
26. “Luân hồi và Niết-bàn không hai” có nghĩa không cần tu?
Không.
Nếu một người nói:
“Luân hồi cũng là Niết-bàn, vậy tham sân si cứ để nguyên,”
thì chính:
tham sân si
cho thấy vấn đề chưa được giải quyết.
“Không hai” không có nghĩa:
mọi trạng thái tâm giống nhau.
Nó ngăn việc biến:
luân hồi
và:
Niết-bàn
thành hai bản thể tự hữu tuyệt đối.
Nhưng ở bình diện con đường:
vô minh cần đoạn và trí tuệ cần phát triển.
27. Hai sự thật và Duyên khởi
Có thể xây một sơ đồ:
TỤC ĐẾ
Nhân
↓
Duyên
↓
Quả
↓
các pháp vận hành.
Nhưng chính vì:
phụ thuộc nhân duyên
nên:
CHÂN ĐẾ
các pháp:
Không tự tính.
Do đó:
TỤC ĐẾ KHÔNG CHE GIẤU CHÂN ĐẾ NHƯ MỘT BỨC MÀN.
Khi được hiểu đúng:
Duyên khởi của Tục đế chính là cửa ngõ thấy tính Không.
28. Phật giáo sơ kỳ thì sao?
Cần tránh đưa toàn bộ hệ thống Hai sự thật của Trung quán ngược nguyên vẹn vào kinh điển sơ kỳ.
Trong kinh điển sớm đã có:
phân tích Vô ngã;
Duyên khởi;
phân biệt cách nói quy ước;
những cách phân loại lời dạy và ý nghĩa.
Nhưng hệ thống triết học:
saṃvṛti-satya / paramārtha-satya
được phát triển và diễn giải mạnh trong các truyền thống về sau.
Vì vậy nên phân biệt:
nền tảng kinh điển sớm
với:
sự hệ thống hóa triết học hậu kỳ.
29. Theravāda có Hai sự thật không?
Theravāda hậu kỳ cũng sử dụng phân biệt thường được gọi là:
sammuti-sacca – sự thật quy ước
và
paramattha-sacca – sự thật tối hậu.
Nhưng không nên giả định rằng:
Hai sự thật Theravāda = Hai sự thật Madhyamaka
theo mọi chi tiết.
Trong phân tích Theravāda, các khái niệm như:
“người”, “xe”, “nhà”
có thể được xem ở bình diện quy ước,
trong khi phân tích tối hậu tập trung vào:
các pháp theo hệ thống Abhidhamma.
Trung quán lại tiếp tục đặt câu hỏi:
ngay các pháp ấy có tự tính hay không?
Và trả lời:
Không.
Đây là khác biệt quan trọng.
30. Đại thừa – đặc biệt Trung quán
Trong Trung quán, Hai sự thật giữ vị trí đặc biệt quan trọng.
Có thể tóm lược:
Tục đế
Các pháp xuất hiện, vận hành, được gọi tên và có quan hệ nhân quả.
Chân đế
Khi phân tích tự tính, không tìm thấy pháp nào tồn tại độc lập từ phía chính nó.
Nhưng:
Chân đế không phá Tục đế.
Và:
Tục đế được hiểu đúng không trái Chân đế.
Duyên khởi chính là điểm nối.
31. Kim Cương thừa
Kim Cương thừa kế thừa nhiều hệ thống Hai sự thật của Đại thừa, nhưng cách diễn giải cụ thể khác nhau giữa các truyền thống triết học Tây Tạng và các dòng truyền thừa.
Điểm quan trọng vẫn là:
không biến Chân đế thành một linh hồn hoặc bản thể thường hằng.
Các thuật ngữ như:
quang minh;
bản tính tâm;
trí tuệ nguyên sơ;
Phật tính
phải được đọc trong hệ thống tương ứng và cùng nền tảng tính Không.
Nếu tách khỏi tính Không:
rất dễ biến giáo lý thành một học thuyết về Đại Ngã.
32. Đối chiếu các truyền thống
| Vấn đề | Phật giáo sơ kỳ | Theravāda | Trung quán Đại thừa | Kim Cương thừa |
|---|---|---|---|---|
| Có nền tảng Duyên khởi/Vô ngã? | Có | Có | Có | Có |
| Có hệ thống Hai sự thật? | Chưa nên đồng nhất với hệ thống hậu kỳ | Có cách hệ thống hóa riêng | Trung tâm trong phân tích | Kế thừa các hệ Đại thừa |
| Tục đế vô nghĩa? | Không | Không | Không | Không |
| Chân đế là thế giới khác? | Không nên đọc như vậy | Không | Không | Không |
| Tính Không = hư vô? | — | Không nên đồng nhất hệ thuật ngữ | Không | Không |
| Nhân quả còn vận hành? | Có | Có | Có | Có |
| Hai sự thật hoàn toàn giống nhau giữa các truyền thống? | Không | Không | Không | Không |
Do đó:
cùng dùng ngôn ngữ “quy ước/tối hậu” không có nghĩa mọi trường phái định nghĩa chúng giống hệt nhau.
33. Bốn hiểu lầm phổ biến
Hiểu lầm 1
“Tục đế là thế giới này, Chân đế là thế giới khác.”
Không.
Trong Trung quán:
cùng các pháp ấy được thấy theo bình diện quy ước và phân tích tính Không.
Hiểu lầm 2
“Tục đế là giả nên không cần đạo đức.”
Không.
Chính ở bình diện Duyên khởi:
nghiệp và Khổ vận hành.
Hiểu lầm 3
“Chân đế là một thực thể tuyệt đối.”
Không nên hiểu như vậy trong Trung quán.
Nếu Chân đế có:
tự tính độc lập
thì lại rơi vào chính điều tính Không phủ định.
Hiểu lầm 4
“Thấy Chân đế rồi có thể bỏ Tục đế.”
Không.
Người giác ngộ vẫn:
sử dụng ngôn ngữ;
ăn uống;
giao tiếp;
hành động;
giúp người.
Điều được buông là:
chấp tự tính.
Không phải:
khả năng sống trong thế giới quy ước.
34. Một ví dụ gom toàn bộ vấn đề
Giả sử có:
một người đang đau khổ.
Tục đế
Ta nói:
“Người ấy đang đau khổ.”
Và:
giúp họ.
Không nói:
“Người là Không nên chẳng có ai để giúp.”
Chân đế
Khi phân tích:
“người ấy”
không phải một tự ngã độc lập.
Khổ của họ cũng do:
thân;
tâm;
hoàn cảnh;
ký ức;
quan hệ;
ái;
thủ;
nhiều điều kiện
tương tác.
Do đó:
Khổ cũng không cố định.
Chính vì thế:
Khổ có thể được chuyển hóa.
35. Đây là nơi trí tuệ và từ bi gặp nhau
Nếu chỉ có Tục đế mà chấp tự tính:
ta dễ chấp Tôi và Người thành hai thực thể cứng chắc.
Nếu hiểu sai Chân đế thành hư vô:
ta có thể trở nên thờ ơ.
Nhưng khi hiểu đúng:
TÍNH KHÔNG
↓
không có tự ngã độc lập.
DUYÊN KHỞI
↓
mọi người liên hệ với vô số điều kiện.
↓
TỪ BI
Trí tuệ không làm người khác biến mất.
Nó làm:
sự chấp cứng về Ta và Người suy yếu.
36. Một bản đồ dễ nhớ
Không phải:
THẾ GIỚI 1
TỤC ĐẾ
⬇
đi qua một cánh cửa
⬇
THẾ GIỚI 2
CHÂN ĐẾ
Mà là:
CÙNG MỘT KINH NGHIỆM
Nhìn theo quy ước:
CÓ
CÓ TÊN
CÓ CHỨC NĂNG
CÓ NHÂN QUẢ
↓
TỤC ĐẾ
Phân tích về tự tính:
KHÔNG ĐỘC LẬP
KHÔNG TỰ HỮU
KHÔNG BẤT BIẾN
↓
CHÂN ĐẾ / TÍNH KHÔNG
Và chiếc cầu nối:
DUYÊN KHỞI.
37. Công thức quan trọng nhất
Có thể ghi nhớ bốn dòng:
CÓ
nhưng:
CÓ DO DUYÊN.
Vì:
CÓ DO DUYÊN
nên:
KHÔNG TỰ TÍNH.
Và:
KHÔNG TỰ TÍNH
không có nghĩa:
KHÔNG CÓ.
Đây là điểm cân bằng của Trung đạo.
Kết luận
Hai sự thật không phải hai thế giới khác nhau.
Ít nhất trong cách giải thích Trung quán, không nên hình dung:
Tục đế = thế giới giả mà phàm phu đang sống
và:
Chân đế = một thế giới thật mà người giác ngộ chuyển đến.
Đúng hơn:
cùng một thực tại duyên sinh được hiểu ở hai bình diện.
Ở:
TỤC ĐẾ
ta nói:
người tồn tại;
cái bàn tồn tại;
nghiệp có quả;
Khổ tồn tại;
con đường cần tu;
chúng sinh cần được giúp.
Nhưng khi tìm kiếm:
một tự ngã;
một cái bàn;
một hiện tượng
có:
tự tính độc lập, bất biến và tự tồn tại
thì không tìm thấy.
Đó là:
CHÂN ĐẾ – TÍNH KHÔNG.
Vì vậy:
TỤC ĐẾ
không phải:
hoàn toàn giả.
Và:
CHÂN ĐẾ
không phải:
một bản thể tuyệt đối nằm phía sau thế giới.
Hai sự thật gặp nhau ở:
DUYÊN KHỞI.
Một pháp:
CÓ
nhưng:
CÓ DO DUYÊN.
Chính vì:
có do duyên
nên:
Không tự tính.
Và chính vì:
Không tự tính
nên nó có thể:
sinh;
diệt;
tương tác;
thay đổi;
chuyển hóa.
Đây là lý do người hiểu tính Không không kết luận:
“Không có ai đau khổ.”
Mà có thể thấy sâu hơn:
“Người đang đau khổ không phải một tự ngã cố định; Khổ cũng do duyên, vì vậy các điều kiện của Khổ có thể được chuyển hóa.”
Do đó:
CHÂN ĐẾ KHÔNG XÓA TỤC ĐẾ.
Và:
TỤC ĐẾ ĐƯỢC THẤY ĐÚNG CHÍNH LÀ CỬA ĐI VÀO CHÂN ĐẾ.
Có thể cô đọng toàn bộ bài bằng một công thức:
KHÔNG PHẢI HAI THẾ GIỚI
mà là:
CÙNG MỘT THỰC TẠI DUYÊN SINH:
Ở quy ước → có và vận hành.
Khi xét tự tính → Không.
Và trí tuệ không phải lựa chọn một bên rồi phá bỏ bên kia.
Trí tuệ là: