Lý tưởng A-la-hán có phải chỉ giải thoát cho riêng mình?
Báo lỗi nội dung
Lý tưởng A-la-hán có phải chỉ giải thoát cho riêng mình?
Lý tưởng A-la-hán có phải chỉ giải thoát cho riêng mình?
Trả lời ngắn
Không nên hiểu lý tưởng A-la-hán là “chỉ lo giải thoát cho mình, mặc kệ người khác”.
Đúng là trong Phật giáo sớm và Theravāda, con đường của vị đệ tử hướng tới:
đoạn tận tham – sân – si, chấm dứt Khổ và đạt A-la-hán quả.
Theo nghĩa đó:
mỗi người phải tự tu tập và trực tiếp thực hiện giải thoát.
Không ai có thể:
giác ngộ thay cho người khác.
Nhưng điều này hoàn toàn khác với:
ích kỷ.
Kinh điển sớm đồng thời đề cao:
từ – mettā,
bi – karuṇā,
không hại,
bố thí,
giúp đỡ,
giảng Pháp,
lợi ích cho nhiều người.
Các vị A-la-hán như:
Sāriputta – Xá-lợi-phất,
Mahāmoggallāna – Mục-kiền-liên,
Mahākassapa – Đại Ca-diếp
không được mô tả đơn giản như những người:
“giác ngộ xong rồi không quan tâm ai nữa.”
Ngược lại, việc:
giảng Pháp vì lòng bi mẫn
được chính kinh điển sớm tán dương.
Vì vậy cần phân biệt:
TỰ MÌNH PHẢI THỰC HIỆN GIẢI THOÁT
với:
CHỈ QUAN TÂM ĐẾN BẢN THÂN.
Hai điều này:
không đồng nghĩa.
1. A-la-hán là ai?
Pāli:
arahant.
Sanskrit:
arhat.
Trong Phật giáo sớm, A-la-hán là người đã:
đoạn tận các lậu hoặc,
đoạn những trói buộc dẫn tới tái sinh,
hoàn thành đời sống Phạm hạnh,
không còn tái hữu.
Do đó A-la-hán không đơn giản là:
“người tu rất giỏi.”
Mà là:
một người đã hoàn tất con đường giải thoát theo hệ thống Thanh văn.
2. “Giải thoát cho mình” có một phần đúng
Có một điều phải thừa nhận.
Con đường A-la-hán nhấn mạnh:
chính hành giả phải đoạn vô minh và ái của mình.
Đức Phật có thể:
chỉ đường.
Một vị A-la-hán có thể:
giảng Pháp.
Một thiện tri thức có thể:
hướng dẫn.
Tăng đoàn có thể:
hỗ trợ.
Nhưng không ai có thể:
nhổ tham–sân–si khỏi tâm người khác thay cho họ.
Theo nghĩa ấy:
GIẢI THOÁT PHẢI ĐƯỢC TỰ THÂN THỰC HIỆN.
3. Nhưng điều này cũng đúng với Bồ-tát đạo
Đây là điểm rất quan trọng.
Một vị Bồ-tát cũng không thể:
giác ngộ thay cho tất cả chúng sinh.
Bồ-tát có thể:
giảng dạy,
hướng dẫn,
bảo hộ,
tạo thuận duyên,
thực hành bố thí,
phát triển phương tiện thiện xảo.
Nhưng mỗi hữu tình cuối cùng vẫn phải:
chuyển hóa vô minh và chấp thủ của chính mình.
Vì vậy:
“mỗi người phải tự thực chứng”
không phải đặc điểm của riêng lý tưởng A-la-hán.
4. Đức Phật cũng là một A-la-hán
Điểm này thường bị bỏ quên.
Trong công thức tán thán quen thuộc:
Arahaṃ Sammāsambuddho
Đức Phật được gọi là:
Arahant
và:
Sammāsambuddha – Chánh đẳng giác.
Do đó:
“A-la-hán” tự nó không mang nghĩa “người ích kỷ”.
Đức Phật:
là A-la-hán nhưng dành phần còn lại của đời mình để giảng dạy.
Sự khác biệt giữa Đức Phật và vị Thanh văn A-la-hán nằm ở những phương diện khác, đặc biệt là:
Đức Phật tự mình khám phá con đường khi giáo pháp đã thất truyền và khai mở con đường ấy cho người khác; vị Thanh văn giác ngộ nhờ con đường đã được Đức Phật chỉ ra.
5. Giải thoát giống nhau không có nghĩa vai trò giống nhau
Một vị Thanh văn A-la-hán:
đã đoạn những trói buộc dẫn tới tái sinh.
Đức Phật:
cũng đã đoạn tận chúng.
Nhưng Đức Phật có:
vai trò lịch sử và giáo hóa đặc biệt.
Như vậy:
cứu cánh giải thoát
và:
năng lực/vai trò giáo hóa
không phải cùng một tiêu chí.
Do đó không nên suy luận:
“A-la-hán không phải Phật nên sự giải thoát của A-la-hán chỉ là ích kỷ hoặc chưa thật sự giải thoát.”
6. Kinh điển sớm có từ bi không?
Có.
Rất rõ.
Những phẩm chất như:
mettā – từ
và:
karuṇā – bi
không phải đến Đại thừa mới xuất hiện.
Bốn Vô lượng tâm:
Từ
Bi
Hỷ
Xả
đã thuộc lớp giáo pháp Phật giáo sớm.
Do đó câu:
“Phật giáo ban đầu chỉ có trí tuệ giải thoát cá nhân; Đại thừa mới phát minh ra từ bi”
không chính xác.
7. Đại thừa đã làm điều gì khác?
Điểm khác không phải:
trước Đại thừa không có từ bi.
Mà là Đại thừa:
đưa đại bi và Bồ-tát đạo vào vị trí trung tâm của lý tưởng cứu cánh.
Hành giả không chỉ phát nguyện:
đoạn tận Khổ
mà phát:
BỒ-ĐỀ TÂM
hướng tới:
Phật quả viên mãn vì lợi ích của tất cả hữu tình.
Đây là một sự nhấn mạnh đặc trưng của Mahāyāna.
Các nghiên cứu tổng quan về đạo đức Phật giáo cũng lưu ý rằng từ bi đã hiện diện trong nền Phật giáo trước đó, trong khi Mahāyāna phát triển và đặt nó vào vị trí bổ sung ngang hàng rất mạnh với trí tuệ trong lý tưởng Bồ-tát.
8. Đức Phật gửi các đệ tử đi giảng Pháp
Một trong những hình ảnh quan trọng nhất của cộng đồng Phật giáo sớm là:
những đệ tử đã đạt thành tựu không chỉ ngồi lại cho riêng mình.
Truyền thống Vinaya ghi lại lý tưởng:
đi vì lợi ích của nhiều người, vì hạnh phúc của nhiều người, vì lòng thương tưởng đối với thế gian.
Nghiên cứu về đời sống Tăng đoàn Theravāda cũng ghi nhận chính lý tưởng này trong chức năng của người đã giải thoát: sống và hoạt động vì lợi ích, hạnh phúc của nhiều người và vì lòng bi mẫn đối với thế gian.
Do đó:
giải thoát và lợi tha không bị đặt thành hai lựa chọn loại trừ nhau.
9. Mahākassapa là một ví dụ rất rõ
Trong SN 16.3, Đức Phật phân biệt hai cách giảng Pháp.
Một người có thể giảng vì muốn:
người khác kính trọng mình.
Động cơ ấy không thanh tịnh.
Nhưng người khác giảng với mong muốn:
người nghe hiểu Pháp và thực hành Pháp,
và làm vậy do:
lòng bi mẫn, thiện ý và cảm thông.
Đức Phật nêu Mahākassapa làm mẫu cho cách thứ hai.
Mahākassapa là:
một A-la-hán.
Do đó ta có ngay một phản ví dụ kinh điển cho luận điểm:
“A-la-hán chỉ lo cho bản thân.”
10. Xá-lợi-phất cũng không phải người chỉ lo cho mình
Sāriputta:
đã là A-la-hán
nhưng vẫn:
giảng dạy,
hướng dẫn Tăng chúng,
trả lời câu hỏi,
phân tích giáo pháp
và giúp nhiều hành giả tiến bộ.
Nếu A-la-hán quả tất yếu khiến một người:
không còn quan tâm tới việc giúp người khác,
thì hoạt động của những đại đệ tử này sẽ rất khó giải thích.
11. Giải thoát khỏi tham lại càng khó đồng nghĩa với ích kỷ
Ích kỷ thông thường dựa trên:
“Tôi muốn lợi ích cho tôi.”
Nó gắn với:
tham,
chấp thủ,
ngã mạn,
cái của tôi.
Nhưng A-la-hán được định nghĩa chính bằng:
sự đoạn tận những căn nguyên trói buộc ấy.
Do đó nói:
“A-la-hán hoàn toàn hết tham nhưng vẫn ích kỷ vì muốn giữ lợi ích cho cái Tôi của mình”
tạo ra một mâu thuẫn nội tại.
Cái:
“Tôi phải được lợi hơn người khác”
chính là loại cấu trúc chấp thủ mà con đường A-la-hán nhằm vượt qua.
12. Nhưng A-la-hán có bắt buộc phải đi cứu độ tất cả chúng sinh không?
Không.
Đây là nơi phải công bằng với sự khác biệt.
Trong hệ thống Phật giáo sớm/Theravāda:
một vị A-la-hán không được định nghĩa bằng đại nguyện thành Phật để dẫn dắt tất cả hữu tình tới giác ngộ.
Đó là điểm khác với:
LÝ TƯỞNG BỒ-TÁT ĐẠI THỪA.
Một vị A-la-hán có thể:
giảng dạy rất nhiều.
Một vị khác có thể:
sống thiên về viễn ly.
Cả hai vẫn có thể là A-la-hán.
13. Vì vậy cần phân biệt “không bắt buộc” và “không có”
Không bắt buộc
A-la-hán quả không được định nghĩa bằng lời nguyện:
“Tôi sẽ thành Phật để cứu độ vô lượng chúng sinh.”
Điều này đúng.
Không có
“A-la-hán không có lòng từ bi và không giúp người.”
Điều này không theo được từ điều trên.
Hai mệnh đề:
hoàn toàn khác nhau.
14. A-la-hán không phải một kiểu tính cách duy nhất
Giác ngộ không biến tất cả mọi người thành:
một bản sao tâm lý giống nhau.
Các đại đệ tử được mô tả với những sở trường khác nhau:
Sāriputta
nổi bật về trí tuệ.
Mahāmoggallāna
nổi bật về thần thông.
Mahākassapa
nổi bật về đời sống viễn ly/khổ hạnh.
Ānanda
nổi bật về đa văn và phụng sự.
Do đó:
mức độ hoạt động xã hội và phong cách giáo hóa không phải tiêu chuẩn duy nhất để xác định giải thoát.
15. Một vị sống trong rừng có ích kỷ không?
Không thể kết luận như vậy.
Một hành giả có thể sống:
rất viễn ly
nhưng không có:
tham,
sân,
ác ý
đối với người khác.
Ngược lại, một người có thể:
hoạt động xã hội rất nhiều
nhưng bị thúc đẩy bởi:
danh tiếng,
quyền lực,
nhu cầu được công nhận.
Vì vậy:
mức độ hoạt động bên ngoài không tự động đo được lòng từ bi hay mức độ giải thoát.
16. Từ bi không nhất thiết luôn biểu hiện thành “cứu tất cả mọi người”
Từ bi có thể biểu hiện bằng:
không làm hại,
giảng Pháp,
khuyên nhủ,
chăm sóc,
chia sẻ,
tạo điều kiện tu tập,
sống làm gương.
Một người không cần:
đi khắp thế giới làm công tác xã hội
mới có thể được gọi là có lòng bi.
Trong bối cảnh Phật giáo:
giúp người khác thấy con đường chấm dứt Khổ
là một hình thức lợi tha rất quan trọng.
17. Nhưng Đại thừa có phê phán lý tưởng A-la-hán không?
Một số kinh Đại thừa:
có.
Một số văn bản dùng sự đối lập giữa:
Śrāvakayāna – Thanh văn thừa
và:
Bodhisattvayāna – Bồ-tát thừa
để đề cao mục tiêu:
Phật quả viên mãn.
Trong những bối cảnh ấy, việc chỉ hướng tới giải thoát Thanh văn có thể được trình bày như:
một mục tiêu hạn hẹp hơn so với đại nguyện Bồ-tát.
Đây là:
cách đánh giá từ bên trong một số hệ thống Đại thừa.
Không nên biến nó thành:
một mô tả lịch sử trung lập về A-la-hán trong kinh điển sớm.
18. Hai câu hỏi thường bị trộn vào nhau
Câu hỏi A
Theo Đại thừa, lý tưởng nào được đặt cao nhất?
Trong nhiều hệ thống:
Bồ-tát đạo hướng tới Phật quả.
Câu hỏi B
Theo kinh điển sớm, A-la-hán có phải người ích kỷ không?
Không.
Đây là:
hai câu hỏi khác nhau.
19. “Thanh văn” cũng không có nghĩa “người ích kỷ”
Sanskrit:
śrāvaka.
Pāli:
sāvaka.
Nghĩa cơ bản:
đệ tử/người nghe giáo pháp.
Một Thanh văn:
nghe con đường do Đức Phật khám phá
↓
thực hành
↓
trực chứng
↓
có thể trở thành A-la-hán.
Điều đó không định nghĩa người ấy là:
thiếu từ bi.
20. Khác biệt thật sự nằm ở lời nguyện và mục tiêu con đường
Có thể trình bày chính xác hơn:
Thanh văn A-la-hán
Mục tiêu:
giải thoát hoàn toàn khỏi tham–sân–si và tái sinh nhờ con đường Đức Phật chỉ dạy.
Có thể:
giúp đỡ và giảng Pháp cho rất nhiều người.
Nhưng không nhất thiết phát nguyện:
trở thành một Sammāsambuddha trong tương lai.
Bồ-tát Đại thừa
Phát:
Bồ-đề tâm.
Mục tiêu:
PHẬT QUẢ VIÊN MÃN
nhằm:
lợi ích tất cả hữu tình ở quy mô lý tưởng phổ quát.
Đây mới là:
sự khác biệt cấu trúc quan trọng.
21. Không phải “một bên vì mình, một bên vì người”
Sơ đồ:
A-la-hán = vì mình
Bồ-tát = vì người
quá đơn giản.
Chính xác hơn:
Con đường Thanh văn
tự mình giải thoát
có thể và thường lợi ích người khác
nhưng:
không lấy đại nguyện thành Phật vì tất cả hữu tình làm tiêu chuẩn định nghĩa.
Bồ-tát đạo
tu chính mình
lợi ích hữu tình
hướng tới Phật quả
với:
đại bi và Bồ-đề tâm trở thành cấu trúc trung tâm của toàn bộ con đường.
22. Bồ-tát cũng phải tự tu
Điều này ngăn một hiểu lầm ngược lại.
Bồ-tát không phải:
chỉ đi giúp người mà không cần giải thoát tâm mình.
Nếu vẫn:
tham mạnh,
sân mạnh,
vô minh mạnh
thì khả năng giúp người:
vẫn bị giới hạn.
Do đó Bồ-tát đạo cũng cần:
Giới
Định
Tuệ
Tính Không
đoạn chấp
và các Ba-la-mật.
Tự lợi và lợi tha:
không phải hai đường hoàn toàn tách biệt.
23. “Tự lợi” trong Phật giáo không đồng nghĩa “ích kỷ”
Đây là vấn đề ngôn ngữ.
Nếu một người:
giữ giới,
thiền định,
đoạn sân,
đoạn tham,
phát triển trí tuệ
để giải thoát,
ta có thể gọi đó:
tự lợi.
Nhưng “tự lợi” này khác:
ích kỷ.
Bởi người ấy đang:
loại bỏ chính những tâm sở tạo ra ích kỷ.
Ví dụ:
học cách không nổi giận
là lợi ích cho bản thân.
Nhưng nó đồng thời:
giảm khả năng làm người khác đau khổ.
24. Tự lợi và lợi tha có thể hỗ trợ nhau
Một người càng:
ít tham
thì:
càng ít bóc lột người khác.
Càng:
ít sân
thì:
càng ít gây tổn thương.
Càng:
ít ngã mạn
thì:
càng ít cần hạ người khác để nâng mình lên.
Càng:
có trí tuệ
thì:
càng có khả năng giúp người đúng cách.
Do đó:
CHUYỂN HÓA BẢN THÂN
cũng có:
HỆ QUẢ LỢI THA.
25. Và giúp người cũng hỗ trợ việc tu mình
Ngược lại:
bố thí
giảm:
tham.
nhẫn nhục
giảm:
sân.
từ bi
giảm:
ác ý.
phụng sự
có thể giảm:
chấp ngã.
Do đó:
tự lợi và lợi tha không nhất thiết đối lập.
Đại thừa phát triển mối liên hệ này thành:
một lý tưởng Bồ-tát rất mạnh.
Nhưng nền tảng đạo đức ấy không hoàn toàn vắng mặt trước Đại thừa.
26. Một vị A-la-hán còn cần tích lũy công đức để mình được tốt hơn không?
Theo cách hiểu Theravāda:
không theo nghĩa tạo nghiệp để có một đời tái sinh tốt đẹp hơn.
A-la-hán:
không còn tái hữu.
Do đó nếu vị ấy:
giảng Pháp,
giúp đỡ,
chăm sóc người khác
thì không nên hiểu:
“vị ấy làm vậy để tích phước cho bản thân được tái sinh tốt hơn.”
Động cơ vị kỷ theo nghĩa ấy:
không còn là cơ chế của hành động.
27. Điều này làm cho việc giúp người của A-la-hán rất đáng chú ý
Người bình thường có thể giúp người vì:
muốn được khen.
Hoặc:
muốn có phước.
Hoặc:
muốn được đáp lại.
Hoặc:
muốn xây dựng hình ảnh “tôi là người tốt”.
Nhưng SN 16.3 đưa ra tiêu chuẩn rất đẹp:
giảng Pháp không phải để người khác kính mình, mà vì mong họ hiểu và thực hành Pháp, từ lòng bi mẫn và thiện ý.
Đây gần như là:
lợi tha không cần xây dựng bản ngã.
28. Vậy tại sao hình ảnh “A-la-hán ích kỷ” lại phổ biến?
Một phần đến từ:
những cuộc tranh luận giữa các truyền thống trong lịch sử.
Khi Đại thừa đề cao:
BỒ-TÁT THỪA
thì cần làm nổi bật sự khác biệt với:
THANH VĂN THỪA.
Trong một số văn bản, sự tương phản trở nên rất mạnh:
giải thoát cá nhân
đối lập với:
đại nguyện cứu độ chúng sinh.
Qua nhiều thế kỷ, cách đối lập mang tính giáo lý ấy dễ bị biến thành:
“A-la-hán = ích kỷ.”
Nhưng đó không phải cách mô tả trung lập nhất về kinh điển sớm.
29. Theravāda cũng không nên phản ứng bằng cách hạ thấp Bồ-tát đạo
Ngược lại cũng cần tránh:
“Bồ-tát chỉ trì hoãn giải thoát một cách vô ích.”
Điều này cũng không công bằng với Đại thừa.
Trong Mahāyāna:
Bồ-tát đạo là một hệ thống tu tập hoàn chỉnh
kết hợp:
trí tuệ
và:
đại bi
hướng tới:
PHẬT QUẢ VIÊN MÃN.
Đây là một lý tưởng tôn giáo thực sự khác về:
quy mô lời nguyện và mục tiêu con đường.
Các nghiên cứu tổng quan mô tả Mahāyāna là đưa con đường Bồ-tát — giúp hữu tình bằng lòng bi mẫn đồng thời trưởng dưỡng trí tuệ — vào vị trí trung tâm.
30. Không cần hạ một bên để hiểu bên kia
Có thể nói:
A-la-hán
giải thoát hoàn toàn theo con đường Thanh văn.
Bồ-tát Đại thừa
hướng tới Phật quả viên mãn vì lợi ích tất cả hữu tình.
Ta có thể nhận ra:
sự khác nhau
mà không cần thêm:
“ích kỷ”
cho bên này
hay:
“cao thượng hơn về mặt đạo đức”
như một phán quyết đơn giản cho bên kia.
31. Một bảng phân biệt
| Vấn đề | A-la-hán / Thanh văn | Bồ-tát Đại thừa |
|---|---|---|
| Đoạn tham–sân–si | Có | Con đường cũng hướng tới vượt phiền não |
| Vô ngã | Nền tảng | Nền tảng |
| Trí tuệ | Trung tâm | Trung tâm |
| Từ bi | Có | Được đặt ở vị trí đặc biệt trung tâm |
| Giúp người khác | Có thể và có nhiều ví dụ kinh điển | Thành phần cấu trúc của đại nguyện |
| Phải tự tu | Có | Có |
| Người khác có thể giác ngộ thay mình | Không | Không |
| Mục tiêu đặc trưng | A-la-hán quả/Nibbāna | Phật quả viên mãn |
| Bồ-đề tâm vì tất cả hữu tình | Không phải tiêu chí định nghĩa A-la-hán | Tiêu chí căn bản |
| Phải trở thành Sammāsambuddha | Không | Hướng tới Phật quả |
| “Ích kỷ” có phải định nghĩa? | Không | Không |
32. Một khác biệt sâu hơn: A-la-hán và Phật
Như bài trước đã phân tích:
A-la-hán và Đức Phật đều giải thoát khỏi những trói buộc dẫn tới tái sinh trong cách hiểu Phật giáo sớm/Theravāda.
Nhưng Đức Phật có:
vai trò đặc biệt của người tự khám phá con đường khi nó đã thất truyền và khai mở giáo pháp cho thế gian.
Bồ-tát đạo Đại thừa hướng tới:
chính Phật quả ấy
chứ không chỉ:
quả vị Thanh văn A-la-hán.
Đây là khác biệt chính xác hơn nhiều so với:
“A-la-hán chỉ cứu mình; Phật mới cứu người.”
33. Đức Phật không “giải thoát thay” chúng sinh
Ngay cả Đức Phật cũng:
không xóa vô minh của người khác bằng quyền năng tùy ý.
Ngài:
khám phá con đường
↓
giảng con đường
↓
hướng dẫn
↓
nhưng:
người học phải thực hành.
Điều này cho thấy một nguyên tắc căn bản:
TỪ BI KHÔNG XÓA TRÁCH NHIỆM TU TẬP CỦA MỖI NGƯỜI.
34. “Cứu độ” trong Phật giáo cần hiểu cẩn thận
Nếu “cứu” nghĩa:
một đấng quyền năng lấy người khác ra khỏi vô minh dù người ấy không chuyển hóa gì,
thì đó không phải mô hình chung của Phật giáo.
Nếu “cứu” nghĩa:
chỉ đường,
giảng Pháp,
tạo thuận duyên,
bảo hộ,
khơi dậy trí tuệ,
giúp người thực hành,
thì:
lợi tha có vị trí rất lớn trong nhiều truyền thống Phật giáo.
35. Một hình ảnh dễ hiểu
Giả sử có:
một bác sĩ đã chữa khỏi bệnh cho chính mình.
Người ấy có thể:
dạy người khác cách chữa.
Nhưng không thể:
uống thuốc thay cho tất cả bệnh nhân rồi khiến họ khỏi bệnh.
Việc:
“mỗi bệnh nhân phải được điều trị”
không khiến bác sĩ:
ích kỷ.
Tương tự:
mỗi người phải trực tiếp đoạn vô minh của mình
không đồng nghĩa:
người giải thoát không thể giúp người khác.
36. Nhưng ví dụ bác sĩ cũng có giới hạn
A-la-hán không phải:
một bác sĩ sở hữu một linh hồn đã được chữa khỏi.
Và vô minh không phải:
một căn bệnh vật lý.
Ví dụ chỉ nhằm phân biệt:
KHÔNG THỂ THỰC CHỨNG THAY
với:
KHÔNG GIÚP ĐỠ.
37. Một câu hỏi hay hơn
Thay vì hỏi:
“A-la-hán cứu mình hay cứu người?”
có thể hỏi:
“Mục tiêu định nghĩa con đường A-la-hán là gì, và sau khi giải thoát vị ấy có thể quan hệ với người khác như thế nào?”
Câu trả lời:
Mục tiêu
đoạn tận những nguyên nhân trói buộc chính mình trong sinh tử.
Quan hệ với người khác
có thể bao gồm:
từ bi, giảng Pháp, hướng dẫn và làm lợi ích cho nhiều người.
Hai điều:
không loại trừ nhau.
38. Và câu hỏi tương ứng đối với Bồ-tát
Không nên hỏi đơn giản:
“Bồ-tát không lo cho mình, chỉ lo cho người khác?”
Bởi Bồ-tát cũng phải:
giữ giới
thiền
phát triển trí tuệ
thấy Tính Không
đoạn chấp
thành tựu các Ba-la-mật.
Nếu không chuyển hóa bản thân:
làm sao có khả năng dẫn dắt hữu tình một cách viên mãn?
Do đó Đại thừa cũng không thực sự dạy:
BỎ TỰ TU ĐỂ CHỈ ĐI CỨU NGƯỜI.
39. Tự lợi và lợi tha gặp nhau ở đâu?
Ở một tầng sâu:
chúng hỗ trợ nhau.
Khi:
tham giảm
↓
người khác ít bị ta lợi dụng.
Khi:
sân giảm
↓
người khác ít bị ta làm tổn thương.
Khi:
si giảm
↓
ta giúp người sáng suốt hơn.
Khi:
ngã chấp giảm
↓
ranh giới:
“lợi cho tôi bằng mọi giá”
cũng yếu đi.
Do đó:
GIẢI THOÁT KHỎI NGÃ CHẤP
không hợp lý khi được đồng nhất với:
ÍCH KỶ.
40. Điểm gặp nhau giữa A-la-hán đạo và Bồ-tát đạo
Dù có khác biệt về mục tiêu và cách hệ thống hóa, cả hai đều không xem:
tham
sân
si
là phẩm chất cần giữ.
Cả hai đều phát triển:
đạo đức
tâm
trí tuệ.
Cả hai đều có:
những hình thức lợi tha.
Điểm khác quan trọng nằm ở:
quy mô lời nguyện, lý tưởng cứu cánh và cách hiểu Phật quả.
41. Một công thức cần tránh
Không nên viết:
THERAVĀDA
“Tự cứu mình.”
MAHĀYĀNA
“Cứu tất cả.”
Công thức này:
dễ nhớ nhưng sai quá nhiều.
Nên viết:
THANH VĂN ĐẠO
hướng tới giải thoát A-la-hán; từ bi và lợi tha vẫn hiện diện nhưng đại nguyện thành Phật vì tất cả hữu tình không phải tiêu chí định nghĩa.
BỒ-TÁT ĐẠO ĐẠI THỪA
đặt Bồ-đề tâm và việc hướng tới Phật quả vì lợi ích tất cả hữu tình vào trung tâm của toàn bộ con đường.
42. Cũng không nên dùng “A-la-hán” như một từ hạ thấp
Trong một số tranh luận tông phái, người ta có thể nói:
“Chỉ là A-la-hán.”
Nhưng trong kinh điển Phật giáo sớm:
A-la-hán quả là sự hoàn thành đời sống Phạm hạnh.
A-la-hán là:
bậc đã hoàn tất công việc cần làm.
Do đó nếu trình bày lịch sử khách quan:
không nên lấy hệ thống đánh giá của một truyền thống rồi áp ngược thành định nghĩa của truyền thống khác.
43. Và cũng không nên dùng “Bồ-tát” để hạ thấp A-la-hán
Ví dụ:
“Bồ-tát từ bi, còn A-la-hán chỉ quan tâm Niết-bàn của mình.”
Cách nói này bỏ qua:
Bốn Vô lượng tâm
đạo đức không hại
việc truyền Pháp
và:
những A-la-hán giảng dạy vì lòng bi mẫn
trong chính kinh điển sớm. SN 16.3 là một ví dụ trực tiếp.
44. Nhưng cũng cần giữ khác biệt thật
Nếu chỉ vì muốn hòa hợp mà nói:
“A-la-hán và Bồ-tát hoàn toàn giống nhau.”
thì cũng không chính xác.
Lý tưởng Bồ-tát Đại thừa:
thực sự mở rộng và hệ thống hóa đại nguyện thành Phật vì lợi ích tất cả hữu tình.
Các Ba-la-mật, Bồ-đề tâm, phương tiện thiện xảo và con đường tới Phật quả:
được triển khai thành một cấu trúc tu tập rất lớn.
Đây là khác biệt cần được tôn trọng thay vì xóa đi.
45. Cách trình bày cân bằng nhất
Có thể nói:
A-la-hán đạo nhấn mạnh sự hoàn tất giải thoát của người đệ tử thông qua việc đoạn tận tham–sân–si. Điều đó không đồng nghĩa ích kỷ; kinh điển sớm ghi nhận từ bi, lợi tha và hoạt động giáo hóa của các vị A-la-hán.
Trong khi:
Đại thừa đưa đại nguyện thành Phật vì lợi ích tất cả hữu tình vào trung tâm và hệ thống hóa nó thành Bồ-tát đạo.
Như vậy:
có khác biệt thực sự
nhưng không cần:
biến khác biệt thành phán xét đạo đức.
46. Một sơ đồ dễ nhớ
Thanh văn A-la-hán
Nghe Pháp
↓
Giới – Định – Tuệ
↓
đoạn tham–sân–si
↓
GIẢI THOÁT
↓
có thể:
giảng Pháp – hướng dẫn – lợi ích người khác.
Bồ-tát Đại thừa
Phát Bồ-đề tâm
↓
tu Ba-la-mật
↓
Trí tuệ + Đại bi
↓
Bồ-tát đạo
↓
PHẬT QUẢ
↓
hướng tới:
LỢI ÍCH TẤT CẢ HỮU TÌNH.
Khác biệt:
không phải “có từ bi” đối lập với “không có từ bi”.
Mà chủ yếu là:
cấu trúc lời nguyện và cứu cánh của con đường.
47. Điều này cũng giúp hiểu lịch sử Đại thừa
Trong bài trước, ta thấy Đại thừa không xuất hiện:
trong một ngày.
Một trong những phát triển quan trọng của nó là:
đưa Bồ-tát đạo từ một lý tưởng đặc biệt gắn với con đường thành Phật thành lý tưởng được quảng bá rộng rãi cho hành giả.
Do đó sự tương phản:
A-la-hán
và:
Bồ-tát
trở thành ngày càng quan trọng trong văn học Đại thừa.
Nhưng:
sự tương phản giáo lý về mục tiêu không nên bị biến thành cáo buộc lịch sử rằng các A-la-hán trong Phật giáo sớm là những người ích kỷ.
48. Tiêu chuẩn cuối cùng vẫn là tham – sân – si
Một người nói:
“Tôi tu vì tất cả chúng sinh.”
nhưng vẫn:
tham danh
sân hận
ngã mạn
khinh người
thì:
khẩu hiệu Bồ-tát chưa tự động biến người ấy thành vô ngã.
Ngược lại, một người sống:
rất viễn ly
nhưng đã đoạn:
tham
sân
si
thì không thể chỉ nhìn hình thức bên ngoài rồi kết luận:
“người này ích kỷ.”
Phật giáo đặt trọng tâm sâu hơn ở:
cấu trúc của tâm và chấp thủ.
49. Một nghịch lý đáng suy nghĩ
Người chưa giải thoát có thể nói:
“Tôi sẽ cứu tất cả chúng sinh.”
Nhưng vẫn có một cái:
“TÔI”
rất lớn trong lời nguyện ấy.
Trong khi một A-la-hán:
không còn xây dựng đời sống quanh “Tôi và của Tôi”
nhưng có thể âm thầm:
giảng Pháp và giúp người khác.
Điều này nhắc rằng:
không nên đánh giá lòng từ bi chỉ bằng quy mô của lời tuyên bố.
50. Câu hỏi cuối cùng không phải “ai cao hơn?”
Một cách nghiên cứu hữu ích hơn là hỏi:
A-la-hán đạo giải quyết vấn đề gì?
Đoạn tận Khổ và tái hữu của người đệ tử bằng trí tuệ giải thoát.
Bồ-tát đạo bổ sung sự nhấn mạnh nào?
Đưa nguyện thành Phật vì lợi ích tất cả hữu tình vào trung tâm.
Hai bên chia sẻ gì?
Đạo đức, thiền định, trí tuệ, Vô ngã, từ bi và sự chuyển hóa phiền não, dù hệ thống hóa khác nhau.
Như vậy ta hiểu được:
sự khác biệt
mà không cần biến lịch sử Phật giáo thành:
cuộc thi đạo đức giữa các truyền thống.
Kết luận
Lý tưởng A-la-hán không nên được mô tả là “chỉ giải thoát cho riêng mình” nếu câu đó hàm ý ích kỷ, thiếu từ bi hoặc mặc kệ người khác.
Điều đúng là:
A-la-hán quả là sự hoàn tất giải thoát của chính người hành giả.
Không ai có thể:
thực chứng thay cho người khác.
Nhưng một vị A-la-hán vẫn có thể:
giảng Pháp,
hướng dẫn,
giúp đỡ,
sống vì lợi ích của nhiều người
mà không cần:
lấy đại nguyện thành Phật làm định nghĩa cho quả vị của mình.
Kinh điển sớm thậm chí nêu rõ hình mẫu giảng Pháp:
không vì muốn được kính trọng, mà vì mong người khác hiểu và thực hành, xuất phát từ lòng bi mẫn và thiện ý.
Điểm khác của Đại thừa không phải:
ĐẠI THỪA PHÁT MINH RA TỪ BI.
Mà là:
ĐẠI THỪA ĐƯA BỒ-ĐỀ TÂM VÀ BỒ-TÁT ĐẠO HƯỚNG TỚI PHẬT QUẢ VÌ TẤT CẢ HỮU TÌNH VÀO VỊ TRÍ TRUNG TÂM.
Do đó không nên dùng công thức:
A-la-hán = tự lợi.
Bồ-tát = lợi tha.
Chính xác hơn là:
Thanh văn A-la-hán hướng tới hoàn tất giải thoát do Đức Phật chỉ dạy, đồng thời từ bi và lợi tha hoàn toàn có thể hiện diện.
Còn:
Bồ-tát Đại thừa biến đại nguyện hướng tới Phật quả vì lợi ích tất cả hữu tình thành cấu trúc định nghĩa của con đường.
Vì vậy:
KHÁC NHAU VỀ LÝ TƯỞNG CỨU CÁNH KHÔNG ĐỒNG NGHĨA KHÁC NHAU GIỮA “ÍCH KỶ” VÀ “TỪ BI”.
Và có thể cô đọng toàn bộ vấn đề bằng một câu:
A-la-hán không được định nghĩa bởi lời nguyện cứu độ tất cả chúng sinh, nhưng cũng tuyệt đối không vì thế mà được định nghĩa là người chỉ biết đến mình.