Mười Ba-la-mật và Sáu Ba-la-mật – Vì sao số lượng khác nhau?
Báo lỗi nội dung
Mười Ba-la-mật và Sáu Ba-la-mật – Vì sao số lượng khác nhau?
Mười Ba-la-mật và Sáu Ba-la-mật – Vì sao số lượng khác nhau?
Trả lời ngắn
Trong Phật giáo có hai danh sách Ba-la-mật rất quen thuộc:
Mười Ba-la-mật của truyền thống Pāli/Theravāda
Bố thí – dāna
Trì giới – sīla
Xuất ly – nekkhamma
Trí tuệ – paññā
Tinh tấn – viriya
Nhẫn nại – khanti
Chân thật – sacca
Quyết định – adhiṭṭhāna
Từ – mettā
Xả – upekkhā
Trong truyền thống Theravāda, bộ mười này gắn đặc biệt với con đường Bồ-tát hướng tới Phật quả và được trình bày trong văn học Pāli như Buddhavaṃsa cùng hệ thống chú giải về sau.
Sáu Ba-la-mật của Đại thừa
Bố thí – dāna
Trì giới – śīla
Nhẫn nhục – kṣānti
Tinh tấn – vīrya
Thiền định – dhyāna
Trí tuệ – prajñā
Một kinh Đại thừa được 84000 dịch, chẳng hạn, trình bày chính sáu pháp này như các Ba-la-mật mà Bồ-tát thực hành trên Bồ-tát đạo.
Hai danh sách:
không phải hai bên tranh luận xem “đúng ra phải có sáu hay mười”.
Chúng là:
hai cách hệ thống hóa những phẩm chất cần được viên mãn trên con đường giác ngộ.
Quan trọng hơn:
SÁU BA-LA-MẬT CŨNG CÓ THỂ ĐƯỢC MỞ RỘNG THÀNH MƯỜI TRONG ĐẠI THỪA.
Nhưng:
Mười Ba-la-mật Đại thừa không phải cùng danh sách với Mười Ba-la-mật Theravāda.
Đây là điểm dễ nhầm nhất.
1. “Ba-la-mật” nghĩa là gì?
Pāli:
pāramī.
Sanskrit:
pāramitā.
Trong tiếng Việt thường gọi:
Ba-la-mật
hoặc:
Ba-la-mật-đa.
Thuật ngữ được dùng cho những phẩm chất được:
tu tập đến mức viên mãn trên con đường giác ngộ.
Trong cách giải thích quen thuộc của truyền thống Sanskrit, pāramitā thường được liên hệ với ý tưởng:
“đến bờ bên kia.”
Trong truyền thống Pāli, pāramī cũng được giải thích liên hệ với sự viên mãn/tối thượng của những phẩm chất mà Bồ-tát hoàn thiện.
Vì vậy Ba-la-mật không đơn giản là:
mười hoặc sáu việc phải làm.
Chúng là:
những phẩm chất được đưa tới sự viên mãn trong tiến trình hướng tới giác ngộ.
2. Mười Ba-la-mật Theravāda gồm những gì?
Danh sách chuẩn là:
1. Dāna-pāramī
Bố thí Ba-la-mật
Khả năng:
cho đi và buông xả.
Không chỉ tiền bạc.
Có thể bao gồm:
vật chất,
sự giúp đỡ,
sự không sợ hãi,
giáo pháp.
2. Sīla-pāramī
Trì giới Ba-la-mật
Hoàn thiện:
đời sống đạo đức và không gây hại.
3. Nekkhamma-pāramī
Xuất ly Ba-la-mật
Không chỉ:
xuất gia về hình thức.
Sâu hơn là:
rời bỏ sự lệ thuộc vào dục lạc và chấp thủ.
4. Paññā-pāramī
Trí tuệ Ba-la-mật
Thấy đúng:
nhân–duyên,
nghiệp,
Vô thường,
Khổ,
Vô ngã
và con đường giải thoát.
5. Viriya-pāramī
Tinh tấn Ba-la-mật
Năng lực:
kiên trì hướng về thiện pháp và giác ngộ.
6. Khanti-pāramī
Nhẫn nại Ba-la-mật
Không chỉ:
chịu đựng người khác.
Mà còn bao gồm khả năng:
chịu khó khăn,
chịu nghịch cảnh,
không phản ứng bằng sân hận.
7. Sacca-pāramī
Chân thật Ba-la-mật
Sống phù hợp với:
sự thật và lời chân thật.
8. Adhiṭṭhāna-pāramī
Quyết định Ba-la-mật
Sự:
quyết tâm vững chắc
đối với mục tiêu giác ngộ.
9. Mettā-pāramī
Từ Ba-la-mật
Nuôi dưỡng:
mong muốn chúng sinh được an vui.
10. Upekkhā-pāramī
Xả Ba-la-mật
Tâm:
quân bình, không bị kéo đi bởi yêu–ghét và các biến động thế gian.
Đây là bộ mười được truyền thống Theravāda chuẩn hóa thành các phẩm chất của Bồ-tát.
3. Sáu Ba-la-mật Đại thừa gồm những gì?
Danh sách Sanskrit quen thuộc:
1. Dāna-pāramitā
Bố thí Ba-la-mật
2. Śīla-pāramitā
Trì giới Ba-la-mật
3. Kṣānti-pāramitā
Nhẫn nhục Ba-la-mật
4. Vīrya-pāramitā
Tinh tấn Ba-la-mật
5. Dhyāna-pāramitā
Thiền định Ba-la-mật
6. Prajñā-pāramitā
Trí tuệ Ba-la-mật.
Một số kinh Đại thừa trình bày trực tiếp sáu phẩm chất này như cấu trúc tu tập của Bồ-tát.
Có thể viết:
BỐ THÍ
↓
TRÌ GIỚI
↓
NHẪN NHỤC
↓
TINH TẤN
↓
THIỀN ĐỊNH
↓
TRÍ TUỆ.
Nhưng không nên hiểu chúng nhất thiết là:
sáu bậc thang phải hoàn thành tuyệt đối từng cái rồi mới sang cái tiếp theo.
Trong thực hành:
chúng hỗ trợ và thâm nhập lẫn nhau.
4. Hai danh sách giống nhau ở đâu?
Đặt cạnh nhau:
| Theravāda – 10 pāramī | Đại thừa – 6 pāramitā |
|---|---|
| Bố thí – dāna | Bố thí – dāna |
| Trì giới – sīla | Trì giới – śīla |
| Xuất ly – nekkhamma | — |
| Trí tuệ – paññā | Trí tuệ – prajñā |
| Tinh tấn – viriya | Tinh tấn – vīrya |
| Nhẫn nại – khanti | Nhẫn nhục – kṣānti |
| Chân thật – sacca | — |
| Quyết định – adhiṭṭhāna | — |
| Từ – mettā | — |
| Xả – upekkhā | — |
| — | Thiền định – dhyāna |
Có năm nhóm tương ứng rất rõ:
BỐ THÍ
TRÌ GIỚI
NHẪN
TINH TẤN
TRÍ TUỆ.
Điểm khác dễ thấy:
Sáu Ba-la-mật Đại thừa nêu Thiền định thành một Ba-la-mật riêng.
Trong khi bộ mười Pāli nêu riêng:
Xuất ly
Chân thật
Quyết định
Từ
Xả.
5. Vậy Theravāda thiếu Thiền định Ba-la-mật?
Không.
Đây chính là chỗ không nên đọc danh sách một cách máy móc.
Việc:
samādhi/dhyāna không xuất hiện như một mục riêng trong bộ mười
không có nghĩa Theravāda:
không coi thiền định là quan trọng.
Thiền định giữ vị trí cực kỳ quan trọng trong:
GIỚI – ĐỊNH – TUỆ
và:
BÁT CHÁNH ĐẠO.
Vấn đề chỉ là:
bộ mười pāramī sử dụng một cách phân loại khác.
6. Đại thừa có thiếu Từ bi vì sáu Ba-la-mật không có mục “Từ”?
Cũng không.
Nếu đọc sáu mục một cách máy móc:
không thấy “maitrī – từ” hoặc “karuṇā – bi” trong danh sách sáu.
Nhưng sẽ hoàn toàn sai nếu kết luận:
Đại thừa không coi trọng từ bi.
Ngược lại:
ĐẠI BI
là một trong những nền tảng trung tâm của Bồ-tát đạo.
Nó được thể hiện xuyên suốt:
Bồ-đề tâm,
bố thí,
trì giới,
nhẫn nhục,
phương tiện thiện xảo
và toàn bộ nguyện:
thành Phật vì lợi ích hữu tình.
Do đó:
KHÔNG CÓ TÊN TRONG DANH SÁCH
không đồng nghĩa:
KHÔNG CÓ TRONG CON ĐƯỜNG.
7. Đây là nguyên tắc quan trọng nhất
Các danh sách Phật học là:
công cụ phân loại.
Chúng không nhất thiết là:
những hộp hoàn toàn tách biệt.
Một phẩm chất có thể:
nằm trong phẩm chất khác,
hỗ trợ phẩm chất khác,
hoặc được phân loại riêng trong một hệ thống nhưng được bao hàm trong hệ thống khác.
Do đó:
số lượng khác nhau chưa chứng minh nội dung thực hành mâu thuẫn.
8. Chính truyền thống Theravāda có cách quy mười thành sáu
Đây là một chi tiết đặc biệt thú vị.
Trong Cariyāpiṭaka Aṭṭhakathā, hệ thống chú giải Theravāda trình bày cách:
mười pāramī có thể được tổng hợp thành sáu nhóm.
Ví dụ:
Xuất ly
có thể được liên hệ với:
giới, thiền định
và rộng hơn với các phẩm chất thiện.
Chân thật
có phương diện liên hệ với:
giới
và:
trí tuệ.
Từ
có thể được quy về:
thiền định.
Xả
có thể liên hệ với:
thiền định và trí tuệ.
Quyết định
hỗ trợ:
toàn bộ các Ba-la-mật.
Nguồn chú giải này vì vậy cho thấy chính truyền thống Theravāda đã nhận ra khả năng tương quan giữa bộ mười Pāli và bộ sáu.
9. Điều đó có nghĩa bộ mười Theravāda bắt nguồn từ bộ sáu Đại thừa?
Không thể kết luận đơn giản như vậy.
Bhikkhu Bodhi lưu ý rằng hai danh sách:
có một lõi chung đáng kể
và bộ sáu thuộc di sản Sanskrit có thể có nguồn gốc trước khi Đại thừa hoàn chỉnh hình thành; các truyền thống Phật giáo khác ngoài Theravāda cũng sử dụng những cách phân loại Ba-la-mật khác nhau.
Do đó không nên dựng lịch sử thành:
Theravāda có mười trước → Đại thừa bỏ bốn thành sáu
hay ngược lại:
Đại thừa có sáu trước → Theravāda thêm bốn thành mười.
Lịch sử phát triển của các danh sách:
phức tạp hơn.
10. Ba-la-mật không phải giáo lý chỉ Đại thừa mới có
Đây cũng là một hiểu lầm phổ biến.
Do từ:
pāramitā
rất nổi tiếng trong Đại thừa, đặc biệt qua:
PRAJÑĀPĀRAMITĀ – BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT,
nhiều người tưởng:
Ba-la-mật là phát minh riêng của Đại thừa.
Nhưng truyền thống Pāli/Theravāda cũng có:
PĀRAMĪ
và một hệ thống:
MƯỜI BA-LA-MẬT.
Cariyāpiṭaka, thuộc Khuddaka Nikāya trong truyền thống Pāli, kể các tiền thân của Đức Phật nhằm minh họa việc thực hành nhiều pāramī.
11. Nhưng cũng không nên nói hai hệ thống hoàn toàn giống nhau
Có lõi chung:
không đồng nghĩa hoàn toàn đồng nhất.
Trong Theravāda, mười pāramī được phát triển trong:
cách hiểu riêng về con đường Bồ-tát hướng tới Sammāsambuddha.
Trong Mahāyāna, sáu pāramitā được đặt trong:
Bồ-tát đạo với Bồ-đề tâm và mục tiêu Phật quả vì lợi ích tất cả hữu tình.
Đặc biệt:
PRAJÑĀPĀRAMITĀ
trong Đại thừa được phát triển rất sâu trong quan hệ với:
TÍNH KHÔNG.
Đây không đơn giản là:
đổi từ paññā Pāli sang prajñā Sanskrit rồi mọi nội dung trở nên hoàn toàn giống nhau.
12. Vì sao Trí tuệ thường đứng cuối Sáu Ba-la-mật?
Trong cấu trúc sáu pāramitā:
Bố thí
Trì giới
Nhẫn
Tinh tấn
Thiền định
được định hướng và viên mãn bằng:
PRAJÑĀ – TRÍ TUỆ.
Đặc biệt trong nhiều hệ thống Đại thừa:
trí tuệ thấy Tính Không
ngăn Bồ-tát chấp vào:
người bố thí,
vật được bố thí,
người nhận,
công đức,
cái Tôi đang tu Ba-la-mật.
Do đó Ba-la-mật không chỉ là:
làm thật nhiều việc thiện.
Mà còn là:
thực hành mà không củng cố chấp thủ.
13. Bố thí là ví dụ rất rõ
Một người có thể bố thí vì:
muốn nổi tiếng.
Hoặc:
muốn được phước lớn hơn người khác.
Hoặc:
muốn xây dựng hình ảnh “Tôi là người rộng lượng”.
Hành động vẫn có thể có mặt thiện.
Nhưng:
chấp ngã vẫn có thể được nuôi dưỡng.
Ba-la-mật hướng sâu hơn:
không chỉ hoàn thiện hành vi mà còn chuyển hóa động cơ và chấp thủ.
14. Theravāda cũng không hiểu pāramī chỉ như hành vi bên ngoài
Ví dụ:
Dāna-pāramī
không chỉ là:
đưa vật cho người khác.
Nó gắn với:
khả năng xả bỏ và lợi ích chúng sinh.
Khanti
không chỉ:
cắn răng chịu đựng.
Mà liên hệ với:
không để sân hận thống trị.
Mettā
không chỉ:
cảm giác dễ thương.
Mà là:
thái độ mong hữu tình được an vui.
Vì vậy cả hai truyền thống đều quan tâm tới:
sự chuyển hóa phẩm chất của hành giả.
15. Đại thừa thực ra cũng có Mười Ba-la-mật
Đây là điểm quan trọng nhất sau bộ sáu.
Trong nhiều hệ thống Mahāyāna, sáu pāramitā được mở rộng thành:
MƯỜI PĀRAMITĀ.
Bốn pháp được bổ sung thường là:
7. Upāya-kauśalya-pāramitā
Phương tiện thiện xảo Ba-la-mật
8. Praṇidhāna-pāramitā
Nguyện Ba-la-mật
9. Bala-pāramitā
Lực Ba-la-mật
10. Jñāna-pāramitā
Trí Ba-la-mật.
Một nguồn thuộc Kangyur được 84000 dịch xác nhận bộ mười Đại thừa gồm sáu Ba-la-mật quen thuộc cùng bốn phẩm chất bổ sung thuộc nhóm phương tiện, nguyện, lực và trí.
16. Như vậy có hai bộ “Mười Ba-la-mật”
Đây là nơi rất dễ lẫn.
Mười pāramī Theravāda
Bố thí
Trì giới
Xuất ly
Trí tuệ
Tinh tấn
Nhẫn
Chân thật
Quyết định
Từ
Xả
Mười pāramitā Đại thừa
Bố thí
Trì giới
Nhẫn
Tinh tấn
Thiền định
Trí tuệ
Phương tiện thiện xảo
Nguyện
Lực
Trí
Do đó:
10 THERAVĀDA ≠ 10 MAHĀYĀNA.
Dù:
có nhiều phẩm chất tương ứng hoặc liên hệ với nhau.
17. Vì sao Đại thừa từ Sáu lại thành Mười?
Một lý do quan trọng là:
mối liên hệ với Thập địa – mười bhūmi của Bồ-tát.
Trong các hệ thống Đại thừa phát triển, mười pāramitā có thể được phối hợp với:
MƯỜI ĐỊA.
Sáu Ba-la-mật cơ bản được bổ sung bốn phẩm chất:
phương tiện thiện xảo,
nguyện,
lực,
trí
để hình thành:
một cấu trúc mười phần tương ứng với tiến trình Bồ-tát.
Các nguồn nghiên cứu Theravāda khi so sánh hai truyền thống cũng ghi nhận sự mở rộng từ sáu lên mười trong Mahāyāna theo hướng này.
18. Có phải Bồ-tát chỉ bắt đầu Phương tiện thiện xảo ở địa thứ bảy?
Không nên hiểu máy móc như vậy.
Khi một pāramitā được:
gắn đặc biệt với một bhūmi
điều đó không có nghĩa:
trước địa ấy hoàn toàn không có phẩm chất đó.
Ý nghĩa thường gần hơn với:
phẩm chất ấy đạt sự nổi bật hoặc mức viên mãn đặc trưng ở giai đoạn tương ứng.
Cũng như:
Bồ-tát không đợi tới địa thứ sáu mới lần đầu có trí tuệ.
19. Vậy “Sáu” và “Mười” trong Đại thừa có mâu thuẫn không?
Không.
Có thể hiểu:
SÁU BA-LA-MẬT
là:
cấu trúc căn bản.
Và:
MƯỜI BA-LA-MẬT
là:
một cấu trúc mở rộng.
Không cần lựa chọn:
“Một trong hai danh sách phải sai.”
20. Điều tương tự xảy ra rất nhiều trong Phật giáo
Ví dụ giáo pháp có:
Bát Chánh Đạo
nhưng cũng có:
Giới – Định – Tuệ.
Không ai hỏi:
“Con đường có ba hay tám?”
Bởi:
ba là một cách nhóm tám.
Tương tự:
37 phẩm trợ đạo
không có nghĩa:
37 con đường hoàn toàn khác nhau.
Các phẩm chất:
chồng lấn và tổ chức lại theo nhiều hệ thống.
Ba-la-mật cũng nên được đọc theo cách ấy.
21. Có thể quy Mười pāramī Theravāda về Sáu như thế nào?
Theo cách tổng hợp trong chú giải Theravāda:
Bố thí
giữ:
Bố thí.
Trì giới
có thể bao hàm những phương diện của:
Xuất ly và Chân thật.
Nhẫn
giữ:
Nhẫn.
Tinh tấn
giữ:
Tinh tấn.
Thiền định
có thể bao hàm:
Từ,
một phần Xả,
một phần Xuất ly.
Trí tuệ
có thể bao hàm:
một phần Chân thật,
một phần Xả.
Trong khi:
Quyết định
hỗ trợ:
toàn bộ hệ thống.
Đây không phải một phép toán duy nhất bắt buộc, nhưng cho thấy:
hai danh sách có thể được tương quan về chức năng.
22. Không nên lập bảng “một đối một” quá cứng
Ví dụ:
mettā = dhyāna
là quá đơn giản.
Từ:
có thể được tu tập như một đề mục thiền
nhưng không vì vậy mà:
mọi ý nghĩa của mettā hoàn toàn bằng dhyāna.
Tương tự:
nekkhamma
có nhiều phương diện.
Nó không thể đơn giản bị xóa bằng một từ:
śīla
hay:
dhyāna.
Các phép quy nạp nhằm:
cho thấy quan hệ chức năng
chứ không phải:
chứng minh các thuật ngữ hoàn toàn đồng nghĩa.
23. Mười Ba-la-mật Theravāda có ba cấp độ nữa
Trong hệ thống chú giải Theravāda, mười pāramī còn được phân thành:
pāramī
upapāramī
paramatthapāramī
thường được diễn đạt là:
Ba-la-mật, cận Ba-la-mật và Ba-la-mật tối thượng
hoặc các cách dịch tương tự.
Như vậy:
10 × 3 = 30
và có thể nói tới:
BA MƯƠI BA-LA-MẬT
trong cách phân loại ấy.
Điều này càng cho thấy:
số lượng phụ thuộc vào cách phân tích.
Không phải đột nhiên xuất hiện:
30 phẩm chất hoàn toàn khác nhau.
24. Một ví dụ về sự phân cấp
Trong các giải thích truyền thống, một Ba-la-mật có thể được thực hành ở:
những mức hy sinh và viên mãn khác nhau.
Bố thí chẳng hạn có thể tiến từ:
tài sản bên ngoài
tới:
những sự xả bỏ ngày càng sâu hơn
trong các truyện Bồ-tát.
Điều quan trọng không phải:
đếm xem có 10 hay 30.
Mà là:
mức độ viên mãn của phẩm chất.
25. Nhưng cần thận trọng khi đọc các truyện Bồ-tát
Nhiều Jātaka và văn học Bồ-tát sử dụng:
những câu chuyện cực đoan về hy sinh thân thể hoặc mạng sống.
Không nên biến chúng thành:
mệnh lệnh để người tu hiện đại tự gây hại cho mình.
Vai trò của các câu chuyện là:
minh họa mức độ lý tưởng hóa của bố thí, nhẫn, chân thật, quyết tâm và các phẩm chất Bồ-tát.
Không phải:
hướng dẫn người bình thường bắt chước hành vi nguy hiểm một cách máy móc.
26. Mười pāramī Theravāda có phải chỉ dành cho người muốn thành Phật?
Cần phân biệt.
Hệ thống bộ mười:
được trình bày đặc biệt trong bối cảnh con đường Bồ-tát và việc tích lũy các điều kiện cho Phật quả.
Nhưng những phẩm chất như:
bố thí,
giới,
xuất ly,
trí tuệ,
tinh tấn,
nhẫn,
chân thật,
quyết tâm,
từ,
xả
không phải:
vô dụng đối với người hướng tới A-la-hán quả.
Truyền thống Theravāda về sau giải thích rằng các phẩm chất ấy cũng cần thiết ở những mức độ khác nhau cho những người hướng tới giải thoát; điều đặc biệt ở Bồ-tát hướng tới Chánh đẳng giác là mức độ và thời gian viên mãn chúng.
27. Sáu Ba-la-mật Đại thừa có phải chỉ dành cho tăng sĩ?
Không.
Bồ-tát đạo Đại thừa:
không giới hạn sáu Ba-la-mật vào đời sống xuất gia.
Cư sĩ cũng có thể thực hành:
bố thí
giới
nhẫn
tinh tấn
thiền
trí tuệ.
Tất nhiên:
hình thức thực hành cụ thể có thể khác theo đời sống và giới nguyện.
28. Sáu Ba-la-mật có phải sáu môn độc lập?
Không.
Ví dụ:
Bố thí
cần:
trí tuệ
để biết cho đúng.
Cần:
giới
để không cho thứ gây hại.
Cần:
nhẫn
khi việc giúp người khó khăn.
Cần:
tinh tấn
để duy trì.
Cần:
định
để tâm không tán loạn.
Do đó:
một Ba-la-mật có thể chứa sự hỗ trợ của những Ba-la-mật khác.
29. Trì giới cũng như vậy
Nếu giữ giới mà:
khinh thường người khác
thì:
ngã mạn
có thể tăng.
Nếu giữ giới bằng:
trí tuệ
và:
từ bi
thì giới trở thành:
phương tiện giảm gây hại và giảm chấp thủ.
Do đó:
Ba-la-mật không chỉ được đo bằng hành vi bên ngoài.
30. Nhẫn nhục cũng không phải cam chịu mọi thứ
Kṣānti/khanti không có nghĩa:
cho phép người khác bạo hành hoặc làm điều sai mà không phản ứng.
Nhẫn Ba-la-mật chủ yếu liên hệ tới:
không để sân hận và phản ứng mù quáng điều khiển mình.
Một người vẫn có thể:
ngăn hành vi gây hại
mà không cần:
nuôi hận thù.
31. Tinh tấn không phải càng ép mình càng tốt
Vīrya/viriya là:
năng lượng hướng về thiện pháp và giác ngộ.
Không phải:
tự hành hạ bản thân.
Tinh tấn cần được điều hòa với:
định,
trí tuệ,
xả
và khả năng nhận biết điều kiện thực tế.
32. Thiền định không phải cứu cánh cuối cùng
Đại thừa đưa:
DHYĀNA-PĀRAMITĀ
thành một trong sáu Ba-la-mật.
Nhưng:
thiền định không đứng cuối.
Sau nó là:
PRAJÑĀPĀRAMITĀ.
Điều này phản ánh một nguyên tắc Phật giáo rộng hơn:
định sâu chưa tự động đồng nghĩa giải thoát.
Cần:
trí tuệ.
33. Trí tuệ cũng không được tách khỏi từ bi
Ngược lại:
trí tuệ không phải khả năng tranh luận triết học.
Trong Bồ-tát đạo Đại thừa:
PRAJÑĀ
và:
KARUṆĀ
phải hỗ trợ nhau.
Nếu chỉ nói:
“mọi pháp đều Không”
nhưng trở nên:
lạnh lùng,
vô trách nhiệm,
không quan tâm Khổ của người khác
thì:
chưa phản ánh đầy đủ lý tưởng Bồ-tát.
34. Sáu Ba-la-mật có thể chia thành hai mặt lớn
Một cách trình bày Đại thừa quen thuộc là nhìn chúng qua:
PHƯƠNG TIỆN
và:
TRÍ TUỆ.
Năm Ba-la-mật đầu:
bố thí
giới
nhẫn
tinh tấn
thiền
tạo thành một phía của việc tích lũy và phương tiện.
Ba-la-mật thứ sáu:
PRAJÑĀ
đem lại chiều kích:
trí tuệ thấy thực tại.
Nhưng cách phân nhóm chi tiết khác nhau giữa các hệ thống, nên không nên biến mô hình này thành quy tắc duy nhất cho toàn bộ Mahāyāna.
35. Mười Ba-la-mật Đại thừa làm rõ hơn mặt phương tiện
Khi mở rộng từ sáu thành mười:
Upāya – phương tiện thiện xảo
được nêu riêng.
Điều này rất quan trọng đối với Bồ-tát:
không chỉ biết chân lý mà còn phải biết cách giúp những người khác nhau theo những căn cơ khác nhau.
Một lời dạy:
đúng về nội dung
nhưng:
sai thời điểm, sai đối tượng, sai cách nói
có thể không giúp được ai.
Do đó:
TRÍ TUỆ
cần:
PHƯƠNG TIỆN THIỆN XẢO.
36. Nguyện cũng trở thành Ba-la-mật
Praṇidhāna
là:
đại nguyện/aspiration.
Bồ-tát đạo là con đường rất dài trong các hệ thống Đại thừa.
Do đó cần:
một định hướng bền vững
không để mục tiêu bị mất giữa:
khó khăn,
thành tựu,
thất bại,
thiền định,
công đức
hay:
sự hấp dẫn của giải thoát cho riêng mình
theo cách trình bày nội bộ của nhiều văn bản Đại thừa.
37. Lực và Trí hoàn thiện cấu trúc
Bala
là:
năng lực/sức mạnh tâm linh của con đường.
Jñāna
là:
tri kiến viên mãn
trong cấu trúc hướng tới Phật quả.
Như vậy bộ mười Đại thừa không đơn giản:
thêm bốn phẩm chất ngẫu nhiên.
Nó phản ánh:
một hệ thống Bồ-tát đạo được phát triển chi tiết hơn.
38. Vì sao Theravāda lại chọn những mục như Chân thật và Từ?
Bởi bộ mười Pāli phản ánh:
cách truyền thống Theravāda kể và hệ thống hóa con đường dài của Bồ-tát.
Trong các truyện tiền thân của Đức Phật, những phẩm chất như:
giữ lời chân thật
quyết tâm
từ
xả
có vai trò rất nổi bật.
Do đó:
hệ thống phân loại phản ánh cả cấu trúc giáo lý lẫn truyền thống văn học Bồ-tát của từng dòng.
39. Hai danh sách có cùng nguồn gốc chính xác không?
Hiện không nên khẳng định quá mức.
Có:
sự chồng lấn rõ ràng.
Năm phẩm chất tương ứng trực tiếp:
dāna
śīla/sīla
kṣānti/khanti
vīrya/viriya
prajñā/paññā.
Điều này cho thấy:
một di sản chung hoặc những môi trường phát triển có quan hệ rất gần.
Nhưng lịch sử chính xác của quá trình:
danh sách nào hình thành trước, ảnh hưởng qua lại thế nào và ở từng bộ phái ra sao
phức tạp hơn một sơ đồ tuyến tính đơn giản.
Một nghiên cứu Theravāda về pāramī cũng lưu ý rằng sự trùng nhau của nhiều mục gợi ý một lõi chung đã hình thành trước khi các truyền thống phát triển theo những hướng riêng.
40. Đừng nhầm “Mười Ba-la-mật” với “Mười Ba-la-mật tối thượng”
Trong tiếng Việt đôi khi cách gọi:
Ba-la-mật
Ba-la-mật-đa
Thập Ba-la-mật
Thập độ
được dùng trong các ngữ cảnh khác nhau.
Khi gặp cụm:
“Mười Ba-la-mật”
cần hỏi:
ĐANG NÓI THEO HỆ PĀLI/THERAVĀDA HAY HỆ MAHĀYĀNA?
Nếu không xác định:
rất dễ ghép nhầm hai danh sách.
41. Bảng tổng hợp ba hệ thống
| STT | Theravāda – 10 pāramī | Đại thừa – 6 pāramitā | Đại thừa – 10 pāramitā |
|---|---|---|---|
| 1 | Bố thí | Bố thí | Bố thí |
| 2 | Trì giới | Trì giới | Trì giới |
| 3 | Xuất ly | Nhẫn nhục | Nhẫn nhục |
| 4 | Trí tuệ | Tinh tấn | Tinh tấn |
| 5 | Tinh tấn | Thiền định | Thiền định |
| 6 | Nhẫn nại | Trí tuệ | Trí tuệ |
| 7 | Chân thật | — | Phương tiện thiện xảo |
| 8 | Quyết định | — | Nguyện |
| 9 | Từ | — | Lực |
| 10 | Xả | — | Trí |
Bảng này cho thấy ngay:
“10” không phải lúc nào cũng chỉ cùng một bộ 10.
42. Khác số lượng có phải khác cứu cánh?
Không thể suy ra như vậy chỉ từ danh sách.
Số lượng phản ánh:
cách phân nhóm.
Cứu cánh phải được xem trong:
toàn bộ hệ thống của truyền thống.
Trong Theravāda, con đường Bồ-tát của vị sẽ thành:
SAMMĀSAMBUDDHA
được trình bày qua việc viên mãn pāramī.
Trong Mahāyāna:
pāramitā được đặt trong Bồ-tát đạo hướng tới Phật quả vì lợi ích hữu tình.
Hai hệ thống:
có những điểm chung lớn
nhưng:
không hoàn toàn đồng nhất về cách hiểu Bồ-tát đạo và Phật quả.
43. Không nên dùng số lượng để xếp truyền thống cao thấp
Không thể nói:
“Mười chắc chắn cao hơn sáu vì nhiều hơn.”
Nếu vậy:
ba mươi pāramī lại phải cao hơn mười
chỉ vì con số lớn hơn.
Đó không phải logic của các danh sách Phật học.
Một danh sách dài hơn có thể đơn giản là:
phân tích chi tiết hơn.
Danh sách ngắn hơn có thể:
gom nhiều phẩm chất vào những nhóm rộng hơn.
44. Một ví dụ đơn giản
Giả sử ta nói:
con đường tu gồm Giới – Định – Tuệ.
Người khác nói:
con đường là Bát Chánh Đạo.
Không thể kết luận:
“Bát Chánh Đạo có tám nên cao hơn Giới–Định–Tuệ có ba.”
Bởi:
Bát Chánh Đạo có thể được tổ chức dưới ba nhóm Giới–Định–Tuệ.
Tương tự:
Sáu và Mười Ba-la-mật là những hệ thống phân loại, không phải bảng điểm.
45. Điểm chung sâu nhất là gì?
Dù dùng bộ sáu hay bộ mười, hành giả đều phải chuyển hóa:
tham
sân
ích kỷ
lười biếng
thiếu kiên nhẫn
vô minh
và:
chấp thủ.
Đồng thời phát triển:
cho đi
đạo đức
kiên nhẫn
nỗ lực
tâm được huấn luyện
trí tuệ.
Đây là:
lõi thực hành chung đáng chú ý.
46. Nhưng Đại thừa thêm một định hướng đặc biệt
Trong Đại thừa, các pāramitā được thực hành dưới định hướng:
BỒ-ĐỀ TÂM.
Không đơn giản:
“Tôi muốn trở thành người hoàn hảo.”
Mà:
hướng tới Phật quả vì lợi ích hữu tình.
Do đó cùng một hành vi bố thí:
được đặt trong một chân trời Bồ-tát đạo đặc thù.
47. Và trí tuệ ngăn Ba-la-mật trở thành bản ngã tâm linh
Một người có thể nghĩ:
“Tôi đã bố thí rất nhiều.”
“Tôi giữ giới tốt hơn người khác.”
“Tôi nhẫn giỏi.”
“Tôi thiền sâu.”
“Tôi đang tích lũy Ba-la-mật.”
Nếu từ đó hình thành:
“TÔI LÀ NGƯỜI TU CAO”
thì:
phương tiện giải thoát lại trở thành nhiên liệu cho chấp ngã.
Do đó cả hai truyền thống, dù bằng ngôn ngữ khác nhau, đều cần:
trí tuệ và không chấp thủ vào công hạnh.
48. Một cách nhớ đơn giản
Theravāda – Mười pāramī
Có thể nhớ theo bốn nhóm:
Cho và sống đúng
Bố thí – Giới
Rời bỏ và hiểu
Xuất ly – Trí tuệ
Đi tiếp qua khó khăn
Tinh tấn – Nhẫn
Không phản bội con đường
Chân thật – Quyết định
Quan hệ với hữu tình và thế gian
Từ – Xả
Đại thừa – Sáu pāramitā
Có thể nhớ:
CHO
Bố thí
↓
SỐNG ĐÚNG
Trì giới
↓
CHỊU ĐƯỢC
Nhẫn
↓
ĐI TIẾP
Tinh tấn
↓
TÂM VỮNG
Thiền định
↓
THẤY ĐÚNG
Trí tuệ.
49. Nếu dùng bộ Mười Đại thừa
Sau sáu nền tảng:
Bố thí
Giới
Nhẫn
Tinh tấn
Thiền
Tuệ
thêm:
BIẾT CÁCH GIÚP
Phương tiện thiện xảo
↓
KHÔNG QUÊN HƯỚNG ĐI
Nguyện
↓
CÓ NĂNG LỰC THỰC HIỆN
Lực
↓
TRI KIẾN VIÊN MÃN
Trí.
Đó là một cách sư phạm để nhớ cấu trúc, không phải bản dịch kỹ thuật duy nhất của các thuật ngữ.
50. Vậy cuối cùng có bao nhiêu Ba-la-mật?
Câu trả lời tốt nhất là:
Tùy hệ thống phân loại.
Có:
SÁU
trong bộ pāramitā Đại thừa căn bản.
Có:
MƯỜI
trong hệ thống pāramī Theravāda.
Có:
MƯỜI
trong hệ thống pāramitā Đại thừa mở rộng.
Có thể nói tới:
BA MƯƠI
khi mười pāramī Theravāda được phân thành ba mức trong hệ thống chú giải.
Nhưng:
không phải Phật giáo liên tục phát minh thêm các phẩm chất hoàn toàn mới.
Phần lớn đây là:
những cách phân tích và tổ chức khác nhau của con đường tu tập.
Kết luận
Mười Ba-la-mật và Sáu Ba-la-mật khác số lượng vì chúng thuộc những hệ thống phân loại và lịch sử phát triển khác nhau.
Bộ Theravāda:
MƯỜI PĀRAMĪ
gồm:
Bố thí – Trì giới – Xuất ly – Trí tuệ – Tinh tấn – Nhẫn – Chân thật – Quyết định – Từ – Xả.
Bộ Đại thừa căn bản:
SÁU PĀRAMITĀ
gồm:
Bố thí – Trì giới – Nhẫn nhục – Tinh tấn – Thiền định – Trí tuệ.
Đại thừa về sau cũng có bộ:
MƯỜI PĀRAMITĀ
bằng cách bổ sung:
Phương tiện thiện xảo – Nguyện – Lực – Trí.
Nhưng:
MƯỜI THERAVĀDA ≠ MƯỜI ĐẠI THỪA.
Điều quan trọng hơn con số là nhận ra:
các danh sách chồng lấn và có thể tổ chức cùng những phẩm chất dưới những cấu trúc khác nhau.
Vì vậy không nên hỏi:
“Rốt cuộc sáu hay mười mới đúng?”
Mà nên hỏi:
“Truyền thống này đang dùng hệ thống nào, nhằm tổ chức con đường Bồ-tát theo cách nào?”
Có thể cô đọng:
SÁU KHÔNG PHỦ ĐỊNH MƯỜI.
MƯỜI KHÔNG CAO HƠN SÁU CHỈ VÌ NHIỀU HƠN.
KHÁC DANH SÁCH KHÔNG NHẤT THIẾT KHÁC PHẨM CHẤT CỐT LÕI.
Và điểm gặp nhau sâu nhất vẫn là:
hoàn thiện bố thí, đạo đức, nhẫn nại, tinh tấn, tâm được huấn luyện và trí tuệ đến mức chúng không còn phục vụ cho tham–sân–si và chấp ngã, mà trở thành những điều kiện của giác ngộ.